chương Chữ thập Anh dũng từ nước Anh, và Huân chương Phục vụ xuất sắc từ Hoa Kỳ. “Cái gì vậy anh?” Summer hỏi. “Hình như anh vừa gặp một cựu anh hùng kháng chiến thì phải”, tôi đáp. “Có liên quan gì đến mẹ anh?” “Có khi mẹ và ông Lamonnier này từng có tình cảm với nhau từ xưa”. “Và ông ta muốn kế điều này với anh và Joe sao? Khoe khoang thành tích của mình à? Ở thời điểm này sao? Thế có phải tự phụ quá không?” Tôi đọc thêm chút nữa. Như nhiều cuốn sách Pháp khác, nó sử dụng loại ngữ
pháp lạ lùng gọi là thì quá khứ lịch sử, vốn chỉ dùng cho văn viết. Rất khó đọc nếu không phải người bản địa. Và phần đầu câu chuyện không có gì thú vị lắm. Nó mô tả rất tỉ mỉ cách những con tàu đi từ hướng Bắc thả lại khách ở sân ga Gare du Nord, và nếu họ muốn đi tiếp về Nam, thì phải đi bộ, hoặc đi xe, hoặc tàu điện, hoặc taxi tới một ga khác như Gare d'Austerlitz, hoặc Gare du Lyon, mới bắt được chuyến tàu đi về hướng Nam. “Nó viết về cái gọi là Đường ray Nhân loại”, tôi nói. “Mà đọc nãy giờ, vẫn chưa thấy đả động gì tới nhân loại cả”. Tôi đưa cuốn sách cho Summer, và cô lật qua lần nữa. “Sách có ký tặng đó”, cô bảo. Cô giở tôi xem trang đầu tiên bỏ trống. Có một dòng chữ cũ phai màu trên ấy. Mực xanh, nét chữ rất gọn. Có ai đã viết: À Béatrice de Pierre. Dành tặng Beatrice, từ Pierre. “Mẹ anh tên Beatrice à?” Summer hỏi. “Không”, tôi bảo. “Mẹ tên là Josephine. Josephine Moutier, rồi đổi thành Josephine Reacher”. Cô đưa lại tôi cuốn sách. “Em đã nghe nói về Đường ray Nhân loại này rồi”, cô nói. “Từ Thế chiến thứ hai lận. Nó vốn dùng để giải cứu phi công ném bom, bị bắn rơi ở Bỉ và Hà Lan. Nhóm kháng chiến địa phương thu nhặt họ, rồi chuyển họ theo một đường tới tận biên giới Tây Ban Nha. Ở đó họ có thể lên đường về nhà, và trở lại nhận nhiệm vụ mới. Nó quan trọng, vì những phi công được đào tạo rất có giá. Vả lại nó cũng giúp nhiều người thoát cảnh bị giam nhiều năm trong trại tù binh”. “Thảo nào ông Lamonnier đầy huân chương”, tôi bảo. “Mỗi cái từ một chính phủ thành viên phe Đồng minh”. Tôi đặt cuốn sách xuống giường rồi nghĩ đến chuyện dọn dẹp. Tôi định vứt đi quần bò và áo chui đầu từ tiệm Samaritaine. Tôi có cần chúng đâu. Cũng
chẳng muốn chúng. Rồi tôi nhìn cuốn sách lần nữa, và nhận ra mép của vài trang trông khác những trang còn lại. Tôi cầm nó lên, mở ra, và thấy vài tấm hình bán sắc. Đa số là hình chụp chân dung trong xưởng, một trang sáu tấm ảnh chụp đến vai. Những tấm còn lại là hình chụp lén các cảnh hoạt động. Chúng chụp những phi công phe Đồng minh trốn trong căn hầm được thắp sáng bằng nến đặt trên các thùng gỗ xung quanh, một nhóm người bí mật giả mặc đồ nông dân đi trên đường quê, và những con chó núi Pyrenees dẫn đường giữa miền núi phủ tuyết. Một trong những tấm ảnh đó chụp hai người đàn ông đứng hai bên một cô gái. Cô gái đó chẳng hơn một đứa trẻ là bao. Cô đang nắm tay cả hai người, mỉm cười tươi tắn, dẫn họ đi trên phố. Paris, gần như chắc chắn vậy. Dòng chữ bên dưới bức ảnh ghi: Béatrice de service à ses traoaux. Nghĩa là Beatrice đang làm nhiệm vụ. Beatrice trông như mới mười ba tuổi. Tôi khá chắc chắn rằng Beatrice chính là mẹ. Tôi lật lại những tấm hình chụp chân dung và tìm thấy ảnh mẹ. Trông như ảnh chụp kỷ yếu của trường vậy. Trông ảnh mẹ tầm mười sáu tuổi. Dòng ghi chú viết Beatrice en 1947. Beatrice năm 1947. Tôi đọc tới lui dòng chữ, rồi liên kết nó với cuốn sách của ông Lamonnier. Đường ray Nhân loại kia vốn có hai vấn đề lớn về chiến lược. Truy tìm phi công bị bắn rơi không phải một trong hai vấn đề đó. Họ rơi từ trên trời xuống, theo đúng nghĩa đen, khắp nơi trên Vùng Đất Trũng, mỗi đêm không trăng có tới hàng tá người. Nếu phe Kháng chiến tìm thấy họ trước, thì họ còn cơ may. Còn nếu để Lực lượng Vệ quốc của Phát xít bắt được họ, thì coi như tiêu. Hoàn toàn do may rủi. Nếu họ may mắn được phe Kháng chiến tìm thấy trước phe Phát xít, họ sẽ được đưa vào ẩn náu, được đổi quân phục mình lấy thứ đồ cải trang hợp lý nào đó, được cấp giấy tờ giả mạo, được mua vé xe lửa, được một liên lạc viên hộ tống lên con tàu về Paris, và từ đó họ sẽ được về nhà. Đấy là nếu họ may mắn. Vấn đề chiến lược đầu tiên đó là khả năng bị soát vé khi lên xe lửa, có khi ngay từ trạm dừng đầu tiên. Bọn họ toàn là những cậu trai nước Mỹ thôn quê tóc vàng hoe, hay là các thanh niên tóc đỏ từ Scotland của Anh, hoặc là những người không có vẻ đen đúa, khổ sở đặc trưng của người Pháp trong
thời chiến. Trông họ nổi bần bật. Họ không biết tiếng địa phương. Có nhiều phương án giả trang đã được áp dụng. Họ sẽ phải giả ngủ, giả bệnh, giả câm hay giả điếc.