hồi chuông đổ, rồi cô trung sĩ của tôi đáp máy. Cô trung sĩ trực đêm. Cô trung sĩ có đứa con trai ấy. “Tôi Reacher đây”, tôi nói. “Sếp ngập đầu trong đống phân rồi đó”, cô bảo. “Đấy mới là tin tốt thôi”, tôi đáp. “Vậy tin xấu là gì?” “Cô sẽ nhảy xuống đó cùng tôi ngay thôi. Cô có nhờ ai trông cháu ở nhà không?” “Tôi nhờ con bé hàng xóm trông hộ. Nó ở nhà xe moóc bên cạnh”. “Nó có ở lại thêm chừng một tiếng được không?” “Vì sao?”
“Vì tôi muốn cô gặp tôi. Tôi muốn nhờ cô đem cho tôi vài thứ”. “Sếp bù tiền nhé”. “Bao nhiêu?" “Hai đô la một giờ. Cho con bé trông trẻ”. “Tôi làm gì có hai đô la. Bởi vậy mới nhờ cô mang cho. Tiền ấy”. “Sếp muốn tôi cho sếp tiền sao?” “Vay thôi”, tôi bảo. “Trong vài ngày tới”. “Bao nhiêu?” “Cô có bao nhiêu tôi vay bấy nhiêu”. “Khi nào và ở đâu?” “Ngay khi cô nghỉ trực. Sáu giờ. Tại quán ăn gần quán thoát y”. “Sếp cần tôi mang theo những gì?” “Danh sách”, tôi bảo. “Toàn bộ cuộc gọi đi từ trại Bird bắt đầu từ nửa đêm Giao thừa tới mồng ba tháng Giêng. Và một cuốn danh bạ điện thoại quân đội. Tôi cần gọi cho Sanchez và Franz và đủ người khác. Tôi cần tập hồ sơ cá nhân của thiếu tá Marshall. Thằng cha từ Quân đoàn XII đó. Tôi cần cô lấy một bản sao được fax tới từ nơi khác”. “Còn gì nữa không sếp?” “Tôi muốn biết nơi Vassell và Coomer đậu xe khi họ xuống đó ăn tối hôm mùng bốn. Tôi muốn cô tìm xem có ai để ý không”. “OK”, cô đáp”.Chỉ vậy thôi phải không sếp?” “Không” tôi nói. “Tôi muốn biết thiếu tá Marshall đã ở đâu trong ngày mồng hai và ba. Hỏi dò nhân viên phát giấy đi đường ở trại nào đó, xem có ai phát
tờ nào không. Và tôi cần Số điện thoại của khách sạn Jefferson ở Thủ đô”. “Ba tiếng đồng hồ mà sếp giao quá trời việc vậy”. “Nên tôi mới nhờ cô, thay vì nhờ thằng cha trực ngày kia. Cô giỏi hơn hắn ta mà”. “Dẹp đi”, cô bảo. “Nịnh nọt không ăn thua với tới đâu”. “Không thử sao biết được”, tôi đáp. * * * Chúng tôi trở vào xe rồi tiếp tục lên đường. Nhắm hướng Đông tới cao tốc I95. Tôi bảo Summer lái chậm. Nếu không thì với tốc độ của cô trên đường vắng giữa đêm thế này, chúng tôi sẽ tới quán ăn kia trước cả Cô trung sĩ của tôi, mà tôi lại không muốn thế. Cô trung sĩ của tôi sẽ tới nơi vào tầm sáu giờ rưỡi. Tôi muốn tới đó sau Cô một chút, chùmg sáu giờ bốn mươi. Tôi muốn xem xem Cô có bỏ ngoài tại lệnh của tôi, mà phản lại, phụ họ giăng bẫy mai phục chúng tôi hay không. Dù khó xảy ra, nhưng không phải không thể. Tôi muốn xe chạy ngang qua kiểm tra. Tôi không muốn tới đó ngồi yên uống cà phê, rồi bất thình lình lão Willard xuất hiện. “Sao anh lại cần hết mấy thứ đó?” Summer hỏi. “Anh biết chuyện gì đã xảy ra với bà Kramer”, tôi bảo. “Bằng cách nào?” “Anh nghĩ ra thôi”, tôi nói. “Đáng lẽ anh phải nhìn ra được ngay từ đầu. Nhưng lúc ấy anh không chịu nghĩ. Anh chưa đủ sức tưởng tượng”. “Chỉ tưởng tượng thôi đâu có đủ”. “Có chứ”, tôi bảo. “Nhiều khi chỉ cần có vậy. Nhiều khi một điều tra viên chỉ cần làm thế mà thôi. Chỉ cần tưởng tượng xem người ta đã làm gì. Tưởng tượng ra suy nghĩ và hành động của họ. Em phải biết đặt mình vào vị thế của họ”.
“Vị thế của ai?” “Của Vassell và Coomer”, tôi nói. “Ta biết họ là ai. Ta biết họ là người thế nào. Suy ra ta có thể đoán họ đã làm gì”. “Thế họ đã làm gì?” “Họ đã khởi hành từ sớm, rồi bay cả ngày từ Frankfurt. Trong đêm Giao thừa. Họ mặc quân phục nghi lễ, Cố tìm cách tăng hạng ghế máy bay. Có thể họ thành công, trên chuyến bay American Airline ra khỏi Đức. Có thể họ không thành công. Dù thế nào đi nữa, họ chẳng thể hy vọng quá nhiều vào việc đó. Họ vẫn phải chuẩn bị tinh thần ngồi bay tám tiếng trên khpang phổ thông”. “Thì sao?" “Người như Vassell hay Coomer chẳng nhẽ lại chịu xếp hàng đợi taxi ở sân bay Dulles sao? Hay bắt xe buýt vào thành phố ư? Chịu ngồi trong thể bí bách, tù túng đến vậy sao?” “Không”. Summer đáp, “Họ sẽ chẳng chịu cả hai việc ấy”. “Chính xác”, tôi bảo, “Họ sẽ chẳng chịu cả hai việc ấy. Họ quá quan trọng để mà chịu như vậy. Họ còn chẳng thèm thghĩ tới việc ấy nữa. Cả triệu năm nữa cũng không. Người như vậy, thường ưa được có xe đưa người rước”. “Vậy là ai?" “Marshall”, tôi báo, “Còn ai nữa. Hắn là tay chạy việc cưng của họ mà. Hắn đã tới đó từ trước, sẵn sàng đợi lệnh của họ. Hắn hẳn đã đón họ ở sân bay. Có khi cả Kramer nữa. Kramer mà chịu bắt xe buýt kia tới bãi thuê xe Hertz sao? Anh không nghĩ thế đâu. Anh đoán Marshall đã chở gã tới đó. Rồi chở Vassell và Coomer tới khách sạn Jefferson”. “Và gì nữa?” “Và hắn ở lại với họ chứ gì nữa, Summer. Anh đoán hắn đã đặt trước phòng. Có lẽ họ muốn hắn túc trực để còn tiện chở họ tới sân bay National vào sớm
hôm sau. Dù sao hắn cũng phải đi theo họ mà. Hắn cũng tới trại Irwin luôn. Hoặc có thể họ chỉ muốn nói chuyện với hắn, khẩn cấp. Chỉ ba người họ, Vassell, Coomer và Marshall. Có lẽ không có Kramer nói chuyện dễ hơn. Và Marshall có đủ thử để kể. Nhiệm vụ biệt phái tạm thời của hắn đã bắt đầu vào tháng Mười một. Chính em kế anh vậy mà. Tháng Mười một là khi Bức Tường Berlin bắt đầu sập. Tháng Mười một là lúc tín hiệu báo nguy bắt đầu kéo tới. Nên họ đẩy hắn tới đây từ tháng Mười một để tiện nghe ngóng trong Lầu Năm Góc. Anh đoàn thế. Nhưng dù sao, Marshall vẫn ở cả đêm với Vassell và Coomer trong khách sạn Jefferson. Anh chắc chắn vậy”. “OK, rồi sao nữa?” “Marshall đang ở khách sạn, còn xe để trong bãi đỗ. Và em biết gì không? Anh đã kiểm tra hóa đơn của mình ở Paris. Thứ gì ở đó cũng giá cắt cổ. Đặc biệt là cước điện thoại. Nhưng không phải với tất cả các cuộc gọi. Các cuộc điện thoại từ phòng này qua phòng kia không có trong hóa đơn. Em gọi anh vào lúc sáu giờ, hỏi về bữa tối. Rồi anh gọi em lúc nửa đêm, vì anh cô đơn. Những cuộc gọi đó đều không có trong hóa đơn. Nhấn số ba rồi nhập số phòng, gọi miễn phí. Nhấn chín rồi nhập số là máy tính bắt đầu tính cước. Hóa đơn của Vassell và Coomer đều không ghi cước điện thoại, nên ta tưởng họ không gọi cuộc nào. Nhưng họ có gọi. Rõ ràng là vậy. Họ gọi số nội bộ. Phòng này qua phòng kia. Vassell nhận tin nhắn từ Quân đoàn XII tại Đức, rồi gọi qua phòng Coomer bàn xem phải làm cái quái gì với tình huống đó. Rồi một trong hai bốc máy gọi qua phòng Marshall. Họ gọi tay chạy việc cưng của mình rồi bảo hắn chạy xuống nhảy vào xe”. “Chính Marshall làm sao?” Tôi gật đầu. “Họ cử hắn đi trong đêm để dọn dẹp mớ hỗn độn của họ”. “Ta có bằng chứng gì không?” “Ta có thể bắt đầu tìm”, tôi nói. “Anh cá em ba điều, Đầu tiên, ta gọi khách sạn Jefferson và sẽ tìm thấy phòng đúng tên Marshall vào hôm Giao thừa. Thứ hai, hồ sơ lý lịch của Marshall sẽ nói rằng hắn từng sống ở Sperryville, Virginia. Và thứ ba, hồ sơ của hắn sẽ khai rằng hắn to cao, và thuận tay phải”.
Cô im lặng. Mí mắt bắt đầu hấp háy. “Vậy thôi đã đủ chưa?” cô hỏi. “Liệu kết quả cho vụ bà Kramer có đủ giải hạn cho ta không?” “Còn nhiều nữa”, tôi đáp. * * * Lúc ấy tôi như thể đang lạc vào một vũ trụ song song nào đó, khi nhìn Summer lái xe thật chậm. Chúng tôi trôi trên cao tốc trong khi thế giới ngoài kia lướt qua chậm rãi ngoài của sổ. Tiếng động cơ to lớn của chiếc Chevy rất khẽ. Bánh xe không rít lên. Chúng tôi tạt qua những nơi quen thuộc. Tòa nhà Sở Cảnh sát bang, nơi tìm thấy chiếc cặp táp của Kramer, trạm dừng chân, đường nhánh ra cao tốc nhỏ. Chúng tôi bò ra ở giao lộ hình hoa thị, rồi tôi quan sát trạm xăng, quán ăn tồi tàn, bãi đỗ xe, và quán trọ. Nơi ấy tắm trong ánh đèn vàng, đầy sương mờ và bóng đen, nhưng tôi vẫn nhìn được. Không có dấu hiệu của bẫy. Summer rẽ vào bãi xe rồi đánh một vòng thật chậm. Trong bãi có ba xe moóc mười tám bánh đậu như cá voi mắc cạn, và vài chiếc sedan cũ gỉ sét như bị bỏ rơi. Trông chúng giống vậy thật. Sơn xe đã phai màu, bánh mềm oặt, và phuộc nhún xe hỏng hết. Có một chiếc bán tải hiệu Ford cũ đậu đó, bên trong gắn cũi trẻ con. Tôi đoán đó là xe của cô trung sĩ. Ngoài ra không còn gì khác. Sáu giờ bốn mươi sáng, thế giới xung quanh hãy còn tăm tối và tĩnh lặng. Chúng tôi đậu xe ở nơi ngoài tầm nhìn, phía sau quán bar, rồi đi bộ băng qua tới chỗ quán ăn. Cửa sổ nơi ấy phủ đầy khói bếp nấu. Bên trong thắp đèn trắng sáng rực. Trông như tranh của Edward Hopper vậy. Trung sĩ của tôi đang ngồi một mình ở chiếc bàn phía xa. Chúng tôi bước vào rồi ngồi xuống cạnh cô. Cô bỏ lên bàn một túi tạp hóa to. Bên trong chất đủ thứ đồ. “Trước tiên”, cô bảo. Cô cho tay vào túi, lấy ra một viên đạn. Cô đặt nó đứng trên bàn trước mặt tôi. Một viên chín li hiệu Parabellum tiêu chuẩn. Đạn tiêu chuẩn của NATO. Xuyên giáp. Sử dụng cho cả súng ngắn lẫn tiểu liên. Lớp bọc đồng sáng loáng bên ngoài có vết xước. Tôi nhặt viên đạn lên. Ngắm nghía nó. Có dòng
chữ khắc trên ấy. Vết khắc rất thô và xiêu vẹo. Được khắc vội bằng tay. Ghi: Reacher. “Một viên đạn khắc tên tôi”, tôi nói. “Quà của đội Delta”, nữ trung sĩ báo. “Trao tận tay, vào hôm qua”. "Ai đưa?” “Tên trẻ có râu ấy”. “Dễ thương ghê”, tôi bảo, “Nhớ nhắc tôi cho hắn một trận”. “Đừng đùa, sếp. Họ sôi máu lắm cái đó”. “Họ đang đuối nhầm người rồi”. “Sếp có chứng minh được không?” Tôi ngập ngừng. Biết và chứng minh, là hai chuyện khác nhau. Tôi bỏ viên đạn vào túi rồi đặt hai tay lên bàn. “Có thể”, tôi bảo. “Anh biết người giết Carbone luôn à?" Summer hỏi. “Từng việc một thôi”, tôi nói. “Tiền sếp đây”, nữ trung sĩ bảo. “Tôi chỉ gom được từng này thôi”. Cô lục túi mình rồi đặt bốn mươi bảy đô la lên bàn. “Cảm ơm cô”, tôi nói. “Cứ cho là tôi mượn cô năm chục. Bù tí tiền phiền hà”. “Năm mươi hai, cô bảo. “Đừng quên con bé trông trẻ” “Cô còn gì nữa nào?”
Cô lôi ra một xấp giấy. Loại có dòng kẻ xanh dương mờ và đục lỗ bên rìa. Trên ấy ghi đầy những dòng số. “Danh sách cuộc gọi”, cô bảo. Cô đưa tôi một tờ giấy ghi chú của quân đội có ghi con số 202 trên đầu, “Khách sạn Jefferson”, cô nói. Cô đưa thêm một cuộn giấy fax. “Hồ sơ lý lịch của thiếu tá Marshall”, cô bảo Cô đưa tiếp một cuốn danh bạ điện thoại. Nó khá dày, màu xanh lá, ghi số điện thoại của toàn bộ các doanh trại và trụ sở quân đội trên thế giới. Rồi cô đẩy thêm một cuộn giấy fax nữa. Đó là báo cáo dò tìm đường phố của thám tử Clark, trong hôm Giao thừa, tại Green Valley. “Franz ở California nhắn rằng sếp cần nó”, cô nói. “Tuyệt vời”, tôi bảo: “Cảm ơn. Cảm ơn cô vì tất cả”. Cô gật đầu. “Sếp nên tin là tội giỏi việc hơn thằng cha trực ngày kia đi. Và ai nên chuẩn bị tinh thần nói vậy về tôi khi họ bắt đầu tinh giảm biên chế nhé”. “Tôi sẽ bảo họ”, tôi đáp. “Đừng”, cô nói. “Sếp nói chẳng được gì đâu. Sếp lúc đó hoặc chết hoặc bóc lịch rồi”. “Cô cất công đem cho tôi từng này thứ”, tôi bảo. “Cô đã buông xuôi tôi đâu”. Cô không đáp. “Vassell và Coomer đậu xe nơi nào?” tôi hỏi. “Hôm mồng bốn ấy hả?” cô hỏi lại. “Chẳng ai rõ cả. Tay tuần tra đêm đầu thấy một xe công vụ tự lùi vào một góc xa trong bãi. Nhưng sếp đừng trông cậy điều đó. Tay tuần tra ấy không thấy biển số, nên không thể chắc chắn
được. Và tay tuần tra thứ hai chẳng nhớ gì cả. Vậy nên hai lời khai này khập khiễng lắm”. “Chính xác thì tay đầu tiên thấy gì?” “Anh ta bảo là xe công vụ”. “Có phải là một chiếc Grand Marquis màu đen không?” “Một chiếc gì đó màu đen thì đúng hơn”, cô đáp. “Nhưng xe công vụ nào cũng hoặc màu đen hoặc xanh lá. Xe màu đen có gì lạ đâu”. “Nhưng nó nằm cách biệt?” Cô gật đầu. “Nó đậu một mình một cõi, phía góc xa trong bãi. Nhưng tay thứ hai không xác định được điều đó”. “Thiếu tá Marshall đã ở đâu hôm mồng hai và ba?” “Cái đó dễ hơn”, cô bảo. “Hai giấy đi đường được ký duyệt. Mồng hai tới Frankfurt, mùng ba về”. “Nán lại một đêm ở Đức sao?” Cô gật đầu. “Đi và về”. Chúng tôi ngồi trong im lặng. Người bồi bàn cầm một tập giấy với bút chì tiến tới. Tôi nhìn thực đơn và bốn mươi bảy đô la nằm trên bàn, rồi gọi món cà phê và trứng dưới hai đô la. Summer hiểu ý, liền gọi nước hoa quả và bánh quy. Những thứ rẻ nhất mà chúng tôi có thể gọi, và đều giúp chúng tôi tỉnh táo. “Tôi xong việc chưa?” cô trung sĩ hỏi. Tôi gật đầu. “Cảm ơn cô. Thực lòng đấy”. Summer lùi ra để cô đứng dậy. “Hôn cháu giùm tôi”, tôi bảo.
Nữ trung sĩ của tôi chỉ đứng đó, xương xẩu mà chắc khỏe. Cứng rắn như mỏ chim gõ kiến. Nhìn thẳng vào mắt tôi. “Mẹ tôi vừa mất”, tôi nói. “Một ngày nào đó con trai cô sẽ nhớ đến những buổi sáng như thế này”. Cô gật đầu một cái, rồi bước ra cửa. Một phút sau chúng tôi thấy cô ngồi trong chiếc xe bán tải của cô, một bóng hình nhỏ bé, cô độc trước vô lăng. Cô lái đi vào màn sương của bình minh. Một dải khói xả trườn theo sau xe cô rồi dần tan biến. * * * Tôi soạn xấp giấy tờ thành một đống ngăn nắp, rồi bắt đầu bằng hồ sơ cá nhân của Marshall. Chất lượng tờ fax không cao, nhưng vẫn đọc được. Trên ấy ghi những thông tin thông thường. Trang đầu tôi biết Marshall sinh tháng Chín năm 1958. Suy ra hắn đã ba mốt tuổi. Không vợ con. Không vợ cũ. Hắn đã thành đối với quân đội rồi, tôi đoán vậy. Hắn cao một mét chín ba, và nặng một trăm kỷ. Quân đội cần biết chỉ số đó để cập nhật các phân vị hậu cần của mình. Hắn thuận tay phải. Quân đội cần biết điều đó vì súng trường bắn tỉa loại kéo thoi nạp đạn của mình chỉ dành cho người thuận tay phải. Quân nhân thuận tay trái thường không được nhận vào đội bắn tỉa. Việc phân loại diễn ra vào ngày đầu tiên vào quân đội. Tôi lật trang. Marshall quê ở Sperryville, bang Virginia, và học mẫu giáo, tiểu học, và trung học ở đó. Tôi mỉm cười. Summer nhìn tôi, đầy thắc mắc. Tôi tách các trang ra rồi đưa chúng cho cô, rồi nhón ngón tay chỉ vào những chi tiết liên quan. Rồi tôi đưa cô tờ ghi chú có viết số điện thoại của khách sạn Jefferson trên ấy. “Tìm điện thoại đi”, tôi bảo. Cô tìm thấy một chiếc ngay tại cửa, trên tường, gần quầy tính tiền. Tôi thấy cô bỏ vào đó hai xu, nhấn số rồi nói chuyện, và đợi. Tôi thấy cô trình bày tên
họ, cấp bậc và đơn vị. Tôi thấy cô đứng nghe. Tôi thấy cô nói chuyện tiếp. Tôi thấy cô đợi thêm. Rồi nghe thêm nữa. Cô bỏ thêm xu vào máy. Một cuốc gọi dài. Tôi đoán cô bị chuyển máy khắp nơi. Rồi tôi thấy cô nói cảm ơn. Tôi thấy cô dập máy. Tôi thấy cô trở về phía tôi, nhìn nham hiểm và thỏa mãn. “Hắn có một phòng ở đó”, cô bảo. “Đúng ra là chính hắn tự đặt phòng, một ngày trước đó. Ba phòng, cho hắn, Vassell và Coomer. Và có hóa đơn đậu xe nữa”. “Em có nói chuyện với bãi xe không?” Cô gật đầu. “Một chiếc Mercury màu đen. Tới sau lúc ăn trưa, rời đi lúc một giờ kém hai mươi sáng, trở lại vào ba giờ hai mươi sáng, và cuối cùng rời đi sau bữa sáng ngày đầu năm”. Tôi lướt qua đống giấy tờ và tìm thấy bản fax của thanh tra Clark ở Green Valley. Báo cáo kết quả dò hỏi từng nhà một. Trong đó ghi chép khá nhiều hoạt động xe cộ. Hôm đấy là Giao thừa, có rất nhiều người đi tới, và trở về từ các tiệc liên hoan. Có một chiếc mà người ta tưởng là taxi đậu trên đường nhà bà Kramer, ngay trước hai giờ sáng. “Xe công vụ có thể bị tưởng là taxi”, tôi bảo. “Em biết đó, họ thấy một chiếc sedan màu đen trom, sạch sẽ nhưng hơi cũ, đã chạy nhiều dặm, nhìn giống một chiếc Crown Victoria”. “Cũng có lý”, Summer bảo. “Rất có lý chứ”, tôi đáp. * * * Chúng tôi thanh toán, boa một đô la, rồi kiểm xem số tiền cô trung sĩ của tôi cho mượn còn lại bao nhiêu. Chúng tôi quyết định nếu tiếp tục như thế này, thì cả hai phải tiết kiệm tiền ăn, vì còn dành tiền đổ xăng nữa. Và tiền điện thoại. Và các loại chi phí khác. “Giờ mình đi đâu?” Summer hỏi tôi.
“Qua bên kia đường”, tôi bảo, “Tới quán trọ. Ta sẽ náu lại ở đó cả ngày. Làm thêm chút việc, rồi ngủ”. ủng tôi giấu chiếc Chevy phía sau quán bar, rồi đi bộ băng qua đường. Sau đó gọi thằng nhỏ gầy còm trực ở quán trọ dậy, hỏi thuê phòng. “Một phòng ạ?” cậu ta hỏi. Tôi gật đầu. Summer không phản đối. Cô thừa biết bọn tôi không đủ tiền thuê hai phòng. Vả lại chúng tôi đâu phiền ở cùng nhau. Ở Paris đã quá ổn đấy thôi, nếu nói về hoạt động ban đêm của cả hai. “Mười lăm đô”, thằng nhỏ gầy còm kia bảo. Tôi đưa cậu ta tiền, rồi cậu ta mỉm cười và trao tôi đúng chìa khóa căn phòng mà Kramer đã chết trong ấy. Tôi đoán thằng này muốn tỏ ra hài hước. Tôi không nói gì. Tôi cũng không màng. Tôi nghĩ phòng một người từng chết còn đỡ hơn phòng thuê theo giờ nhiều. Chúng tôi đi cùng nhau dọc hành lang, mở cửa phòng rồi bước vào trong. Căn phòng vẫn ẩm thấp, nâu ổ và tồi tàn. Cải xác đã được lấy đi, còn lại căn phòng vẫn y nguyên như lần đầu tôi nhìn thấy nó. “Chẳng được như khách sạn George V nhỉ”, Summer bảo. “Còn phải nói nữa”, tôi đáp. Chúng tôi đặt túi xuống sàn rồi tôi soạn đống giấy tờ mà cô trung sĩ đã chuẩn bị cho lên giường. Tấm khăn phủ giường còn hơi ẩm. Tôi chỉnh máy sưởi đặt dưới cửa sổ, đến khi nó tỏa ra hơi ấm. “Tiếp theo là gì đây?” Summer hỏi. “Danh sách cuộc gọi”, tôi bảo. “Anh đang tìm cuộc gọi nào tới một số có mã vùng 919”. “Đó là số địa phương mà. Trại Bird cũng là 919 luôn”. “Tuyệt vời”, tôi đáp. “Thế thì ta phải rà tới cả triệu cuốc điện thoại địa
phương”. Tôi trải đống giấy in lên giường rồi bắt đầu xem xét. Không tới cả triệu cuộc gọi. Nhưng cũng phải tới mấy trăm cuộc. Tôi bắt đầu tìm từ thời điểm đêm Giao thừa trở đi. Tôi bỏ qua những số được gọi tới nhiều lần, từ nhiều hơn một số điện thoại. Tôi đoán nó là số của hãng taxi, hay vũ trường, hay quán bar gì đó. Tôi bỏ qua những số có số nội bộ giống trại Bird.