phần cao tốc I-95 của Bắc Carolina, vừa dài vừa hẹp, hệt như miếng ruy băng rộng rỡ hơn chục phân. Nó thể hiện từng dặm một từ chỗ rời Nam Carolina đến chỗ tiến vào địa phận Virginia. Ngón tay anh ta lơ lửng một hồi rồi nhấn xuống, rất quả quyết. “Đây”, anh ta nói. “Rìa đường về hướng Bắc, qua khói trạm dừng chân một dặm, cách ta chừng mười một dặm về hướng Nam”. “Có cách nào biết được chiếc cặp táp đã ở đó bao lâu không?” “Không hẳn, anh ta đáp. “Bọn tôi đâu có hay ra rìa cao tốc tìm rác rưởi chứ. Thứ này ở đó có khi cả tháng rồi không chừng”. “Thế tìm thấy nó kiểu gì vậy?” “Thì khi kiểm soát giao thông như thường lệ thôi. Viên cảnh sát thấy nó nằm tơ hơ ở đó, khi đang đi từ xe tuần tra tới chiếc xe anh ấy vừa yêu cầu dừng lại”. “Chính xác là từ bao giờ?” “Mới hôm nay thôi”, anh ta nói. “Ngay đầu ca trực thứ hai. Sau buổi trưa một chút”. “Nó đâu có nằm đây cả tháng”, tôi bảo. “Ông kia bị mất nó từ khi nào?” “Đêm Giao thừa”, tôi đáp. “Ở đâu?” “Bị cướp ngay chỗ ông ta đang trọ”. “Lúc đó ông ta ở đâu?” “Một quán trọ cách đây ba mươi dặm về hướng Nam”. “Vậy là kẻ cướp lúc đó đang trên đường trở về hướng Bắc”. “Chắc vậy”, tôi đáp. Anh ta nhìn tôi như thể muốn xin phép rồi cầm chiếc cặp táp lên hệt như một nhà sưu tập ngắm nghía một món đồ quý hiếm. Anh ta đặt nó dưới ánh đèn rồi nhìn ngó từ mọi góc. “Tháng Giêng”, anh ta nói. “Chúng tôi hay có sương đêm. Ngoài trời đủ lạnh để đường đóng băng. Nên chúng tôi phải rải muối. Vào thời điểm này tại rìa cao tốc, vật gì cũng nhanh cũ. Chiếc cặp táp này trông sờn cũ,
nhưng chưa nát lắm. Trong thớ vải vẫn còn vài hạt sạn. Nhưng không nhiều lắm. Nó không nằm đó từ đêm Giao thừa, đó là chắc chắn. Chưa đầy hai mươi bốn tiếng đồng hồ, tôi nghĩ vậy. Chỉ một đêm thôi, không hơn”. “Anh có chắc không?” Summer hỏi. Anh ta lắc đầu. Đặt chiếc cặp táp lại lên quầy. “Suy đoán thôi”, anh ta nói. “OK”, tôi bảo: “Cảm ơn nhé”. “Nhờ anh ký nhận đồ giùm”. Tôi gật đầu. Anh ta xoay cuốn sổ lại đẩy đến chỗ tôi. Trên túi ngực phải tôi có gắn bảng tên Reacher ngụy trang tối màu, nhưng tôi đoán nãy giờ anh ta chẳng để ý. Anh ta chủ yếu mải nhìn túi ngực Summer. Nên tôi ngoáy chữK. Kramer lên đúng dòng trên cuốn sổ rồi cầm chiếc cặp táp trở ra. “Ăn cướp gì ngộ ghê”, tay tiếp tân nói. “Trong ví còn thẻ tín dụng American Express và tiền mặt. Bọn tôi kiểm tra bên trong rồi”. Tôi không trả lời. Chỉ bước thẳng ra cửa, leo lên chiếc Humvee. * * * Summer dừng xe đợi đường bớt đông rồi phóng vút qua ba làn đường leo lên cả dải phân cách trồng cỏ mềm. Xe trườn xuống con dốc, qua rãnh thoát nước rồi lên thẳng lề đường đối diện. Cô đợi một chút rồi mới lùi xe trở lại mặt đường và tiến về hướng Nam. Cách lái như vậy mới phù hợp cho một chiếc Humvee. “Ví dụ thế này nhé sếp”, cô nói. “Đêm qua Vassell và Coomer rời trại Bird lúc mười giờ tối cùng với chiếc cặp táp. Họ đi về hướng Bắc tới sân bay Dulles hoặc sân bay Washington Nationals. Trên đường họ lấy lại bản chương trình nghị sự rồi ném chiếc cặp táp ra ngoài cửa sổ”. “Họ ngồi trong quầy bar và nhà ăn suốt thời gian ở trại Bird”. “Có thể một trong những người đó đã chuyển cái cặp cho họ. Ta nên kiểm tra họ ăn tối với ai. Có thể nữ quân nhân lái xe Humvee kia cũng có mặt”. “Họ có bằng chứng ngoại phạm cả”. “Nhưng không chắc chắn. Tiệc Giao thừa loạn lắm ai mà đảm bảo được”. Tôi nhìn ra ngoài cửa sổ. Nắng chiều đang tan nhanh. Trời dần trở tối. Bên ngoài thế giới trông thật tối tăm và lạnh lẽo. “Sáu mươi dặm”, tôi nói. “Người ta tìm thấy chiếc cặp táp cách trại Bird
sáu mươi dặm về hướng Bắc. Cả tiếng đồng hồ đi xe chứ ít gì. Bọn họ hẳn sẽ lấy lại bản chương trình nghị sự và quẳng chiếc cặp táp đi từ lâu rồi”. Summer không nói gì. “Vả lại họ có thể làm điều đó ở trạm dừng chân chứ. Thí dụ như bỏ vào thùng rác này. Thế còn an toàn hơn. Ném chiếc cặp táp ra ngoài cửa xe đang chạy thì lộ liễu quá”. “Có khi chẳng có chương trình nghị sự nào thật”. “Lần đầu tiên trong lịch sử quân đội đấy”. “Thế thì có thể nó không quan trọng thật”. “Bọn họ đặt suất ăn mang đi ở trại Irwin. Một trong hai sao, một tướng một sao, và một toán đại tá làm việc xuyên giờ ăn trưa. Chắc cũng là lần đầu trong lịch sử quân đội. Hội nghị đó chắc chắn quan trọng, Summer ạ, tin tôi đi”. Cô im lặng. “Cô đánh xe lại như ban nãy đi”, tôi bảo. “Leo lên dải phân cách ấy. Rồi lái về hướng Bắc thêm chút nữa. Tôi muốn kiểm tra khu vực dừng chân đó”. * * * Khu vực dừng chân ấy cũng hệt như ở những vùng giao giữa các tiểu bang mà tôi đã từng thấy. Tuyến cao tốc về hướng Bắc và hướng Nam khẽ tách sang hai bên để rồi ở giữa nhô lên một dãy nhà dài và to. Dãy nhà dành cho khách đi từ cả hai chiều đường. Vậy nên chúng chỉ có hai mặt tiền và không có mặt sau. Toàn bộ đượã xây bằng gạch với những thềm hoa và cây không lá nằm lặng lẽ vây quanh. Có chỗ đổ xăng. Có chỗ đậu xe. Lúc này nơi đây như đang lửng lơ giữa im lìm và nhộn nhịp. Lễ tết đang kết thúc. Nhiều gia đình miễn cưỡng trở về nhà, chuẩn bị đi học, chuẩn bị đi làm. Một phần ba bãi đậu xe đã kín. Cách họ đậu xe cũng thú vị. Thay vì chịu khó đi thêm một đoạn nữa để được gần quán ăn hay quầy vệ sinh nào đó, họ chọn dừng lại ngay điểm đậu đầu tiên mình thấy. Có lẽ bản tính con người là vậy. Một dạng thiếu tự tin nào đó. Ngay cửa chính tòa nhà là một khoảnh sân bán nguyệt. Tôi có thể thấy bảng đèn nê ông sáng rực trong tiệm bán đồ ăn. Bên ngoài, sáu thùng rác đặt gần cửa. Có khá nhiều người quanh, nhìn tới, nhìn lui. “Đông người quá” Summer nói. “Chuyện này chẳng đi đến đâu sếp à”. Tôi gật đầu lần nữa. “Nếu không vì bà nhà Kramer tôi đã cho qua vụ này
luôn rồi”. “Vụ Carbone quan trọng hơn. Ta nên biết ưu tiên vụ việc sếp ạ”. “Thế thì khác nào ta chịu thua chứ”. * * * Chúng tôi rời khu dừng chân theo hướng Bắc và Summer lại trổ tài đánh xe trèo qua dải phân cách như ban nãy rồi quanh về hướng Nam. Tôi ngả người cho thoải mái hết mức có thể trong chiếc xe quân dụng trên đường về. Trời ngả tối dần phía bên trái tôi. Xa xăm đâu đó bên phải tôi là bóng hoàng hôn mập mờ phương Tây. Mặt đường có vẻ ẩm ướt. Summer trông không bận tâm lắm đến khả năng đường trơn trượt. Tôi ngồi yên trong hai mươi phút đầu. Rồi tôi bật đèn trong xe lên để lục soát thật kỹ càng chiếc cặp của Kramer. Tôi không mong tìm được gì đáng chú ý, và tôi đã đúng. Hộ chiếu của gã là hộ chiếu tiêu chuẩn, đã qua bảy năm sử dụng. Nhìn gã trong hình có vẻ đỡ hơn khi nằm phơi thây trong quán trọ, nhưng cũng không hơn bao nhiêu. Rất nhiều dấu thị thực cả đi cả về từ Đức và Bỉ. Một nơi là mặt trận trong tương lai, nơi kia là trụ sở chính khối Liên minh Quân sự Châu Âu. Ngoài hai nơi đó ra thì gã không còn đi tới nước nào khác. Quả là dân chuyên nghiệp. Trong vòng ít nhất bảy năm gã chỉ toàn tâm toàn ý vào đấu trường chiến xa vĩ đại cuối cùng của thế giới và cấu trúc quyền lực của nó. Tập vé máy bay kia thì y như Garber đã kể. Từ Frankfurt đến Dulles,rồi Washington Nationals đến Los Angeles. Tất cả đều là hàng ghế bình dân với giá dành cho công chức, đượC đặt trước ngày bay ba hôm. Thông tin trong nhật ký hành trình khớp với cuống vé máy bay. Có lưu cả số ghế. Có vẻ như gã Kramer thích ngồi ghế gần lối đi. Chắc bọng đái không còn được khỏe như hồi trẻ. Còn có tờ xác nhận đặt một phòng đơn trong nhà khách dành cho sĩ quan của trại Irwin, nơi gã chưa kịp đặt chân tới. Trong ví có ba mươi bảy đô la Mỹ và sáu mươi bảy đồng mác Đức, đều là tiền lẻ. Thẻ tín dụng American Express là dạng thẻ màu xanh cơ bản, sắp hết hạn trong vòng một năm rưỡi. Nhìn dòng Thời điểm đăng ký, ta có thể thấy gã đã từng có một thẻ như vậy từ năm 1964. Tôi thấy là khá sớm đối với một sĩ quan quân đội. Hồi đó ai cũng chỉ nhận được tiền mặt hay phiếu thanh toán của quân đội mà thôi. Kramer quả là thức thời, về mặt tài chính. Có một bằng lái xe bang Virginia. Gã khai khu Green Valley là địa chỉ thường trú, dù hiếm khi dành nhiều thời gian tại đó. Còn một thẻ căn
cước quân đội tiêu chuẩn. Thêm tấm ảnh chụp bà Kramer, nhét phía sau ngăn bằng nhựa trong. Một phiên bản trẻ trung hơn người phụ nữ tôi thấy nằm chết giữa sàn hành lang kia. Bức ảnh đó cũng phải từ hai mươi năm trước rồi. Trông hồi ấy bà ta khá xinh xắn. Tấm ảnh phai dần theo thời gian khiến mái tóc dài màu nâu vàng ngả thành màu cam. Ngoài ra không còn gì trong chiếc ví. Không biên lai, không hóa đơn nhà hàng, không bản sao giấy than hóa đơn thẻ tín dụng, không lưu số điện thoại, không mẩu giấy vặt nào. Tôi không ngạc nhiên lắm. Tướng thường là những người gọn gàng, ngăn nắp. Họ cần có khiếu chinh chiến, và cả khiếu quản lý nữa. Tôi đoán văn phòng lẫn bàn làm việc của gã Kramer cũng hệt như chiếc ví này. Chỉ chứa những vật gã cần và không nhận những thứ thừa thãi. Cuốn sách bìa cứng kia là tài liệu nghiên cứu Trận Vòng cung Kursk được một trường đại học vùng Trung Tây Mỹ nào đó xuất bản. Trận Kursk diễn ra vào tháng Bảy năm 1943. Đó là chiến dịch tấn công khổng lồ cuối cùng và cũng là thất bại kinh hoàng đầu tiên trên mặt trận của Phát xít Đức trong Thế chiến thứ hai. Nó trở thành trận đấu tăng vĩ đại nhất mà thế giới từng được chứng kiến, nhưng sẽ không phải là trận duy nhất nếu họ thả nổi cho những gã như Kramer. Tôi không ngạc nhiên khi biết gã Kramer đi đọc thứ này. Một phần nhỏ nào đó trong gã hẳn lo rằng bản thân sẽ chẳng bao giờ được tham gia một chiến dịch long trời lở đất nào trừ phi tự thỏa mãn mình bằng cách đọc tài liệu về một trận hỗn chiến tung trời đất giữa hàng trăm chiến xa Tiger và Panther của Đức với chiến xaT-34 của Xô Viết vào mùa hè đỏ lửa năm đó. Trong chiếc cặp không còn gì khác đáng chú ý. Chỉ vài mẩu giấy vụn kẹt lại giữa các đường may. Có vẻ gã Kramer luôn dọn sạch sẽ túi của mình mỗi khi sửa soạn đồ đạc lên đường. Tôi cất mọi thứ vào trong và gài khóa lại rồi đặt chiếc cặp táp ngay dưới chân. “Nhớ nói chuyện với bên nhà ăn”, tôi nói. “Khi ta trở về. Tìm hiểu xem những ai đã ngồi cùng Vassell và Coomer”. “OK”, Summer đáp. Rồi tiếp tục lái xe. * * * Chúng tôi trở về trại Bird vừa giờ ăn tối. Rồi dùng bữa tại nhà ăn dành cho sĩ quan cùng vài sĩ quan Quân cảnh khác. Nếu có gián điệp của lão Willard trong đó, hẳn họ sẽ chỉ thấy hai nhân vật mặt mũi uể oải đang ngồi không. Nhưng Summer lâu lâu lại lén rời bàn rồi trở lại cùng ánh mắt có tin tức mới ấy. Tôi ăn phần tráng miệng và uống cà phê thật
chậm rãi để người ta không nghĩ mình đang có việc gì khẩn cấp lắm. Rồi tôi đứng dậy ra ngoài. Đứng chờ bên vỉa hè lạnh giá. Summer trở ra trong vòng năm phút sau. Tôi mỉm cười. Cứ như chúng tôi đang lén lút qua lại với nhau vậy. “Chỉ có một phụ nữ ngồi ăn cùng Vassell và Coomer thôi”, cô nói. “Ai vậy?” tôi hỏi. “Trung tá Andrea Norton”. “Cái cô dạy môn chiến thuật tâm lý đấy à?” “Chính cô ta”. “Cô ta có đi chơi đêm Giao thừa mà?” Summer nhăn mặt. “Sếp thừa biết tiệc tùng kiểu ấy như thế nào rồi mà. Quán bar trong thị trấn, cả trăm người tham dự, ra vào liên tục, ồn ào, lộn xộn, bia rượu, từng cặp đôi rời quán cùng nhau. Cô ta có thể lén đi mà”. “Quán bar ấy ở đâu?” “Cách quán trọ kia ba mươi phút đi xe”. “Thế thì cô ta sẽ phải vắng mặt, ít nhất, một tiếng đồng hồ”. “Hoàn toàn khả thi”. “Vậy cô ta có ở quán bar lúc nửa đêm không? Nắm tay người khác cùng họ hát bài “Auld Lang Syne?? Ai đứng cạnh cô ta có thể xác nhận”. “Người ta nói cô ta đã ở đó. Nhưng lúc ấy có khi cô ta đã kịp trở lại rồi. Thằng nhóc lễ tân bảo chiếc Humvee bỏ đi vào mười một giờ hai mươi lăm phút. Cô ta đã có thể trở về quán bar mà còn thư thả tới năm phút. Sẽ không khả nghi gì. Sếp biết đó, mọi người cũng cứ thế xuất hiện thôi, đợi đón năm mới mà. Như kiểu tăng hai của buổi tiệc ấy”. Tôi không đáp. “Cô ta có thể lấy chiếc cặp táp để dọn sạch dấu vết của mình. Có thể nó có mẩu giấy ghi số điện thoại, hoặc tên hay hình của cô ta. Hoặc là một cuốn nhật ký chẳng hạn. Cô ta không muốn làm lộ chuyện. Nhưng sau khi dọn sạch sẽ, cô ta cũng chẳng cần những thứ khác nữa. Được hỏi tới thì cứ thế vui vẻ trả lại thôi”. “Vậy cách nào Vassell và Coomer biết ai mà hỏi?” “Trong cái hũ nút này thì làm sao giấu được cuộc ngoại tình lâu dài đến vậy”. “Không hợp lý”, tôi bảo. “Nếu người ta biết chuyện giữa Kramer và Norton, thì cần gì tới tận căn nhà ở Virginia kia?” “OK, có thể là họ không biết. Có thể việc đó nằm trong những điều họ
nghi ngờ chẳng hạn. Có thể là thứ cuối danh sách. Như thể họ tưởng chuyện hai người đã chấm dứt rồi áy”. Tôi gật đầu. “Ta có thể lấy được thông tin gì từ cô ta?” “Ta có thể đi xác nhận rằng Vassell và Coomer đã hẹn gặp để lấy lại chiếc cặp táp vào tối qua. Điều đó chứng tỏ họ đã truy tìm nó, và vì vậy họ chính là nghi phạm chính trong vụ bà Kramer”. “Bọn họ chẳng gọi ai từ khách sạn, và cũng không có thời gian tự thân đến đó. Nên chắc khó khép họ vào dạng tình nghi được. Ta còn lấy được thông tin gì khác không?” “Ta có thể xác định được bản chương trình nghị sự kia đang ở đâu. Ta biết Vassell và Coomer đã thu hồi nó. Ít ra như thế quân đội có thể thở phào yên tâm rằng sẽ không có tay phóng viên nào vô tình mò ra được nó tại một bãi rác công cộng cả”. Tôi gật đầu. Không nói gì thêm. “Và có khi Norton đã thấy nó rồi”, Summer bảo. Có khi còn đọc qua nữa. Có thể cô ta còn cho ta biết được nguyên nhân của những chuyện lùm xùm gần đây”. “Khá hấp dẫn đấy”. “Hẳn là vậy rồi”. “Ta cứ xông thẳng vào hỏi cô ta luôn được không nhỉ?” “Sếp từ Đội 110 mà. Sếp muốn hỏi ai mà chẳng được”. “Tôi không muốn lão Willard biết”. “Cô ta có biết lão đó hằm hè gì với sếp đâu”. “Biết chứ. Lão liên lạc với cô ta ngay sau vụCarbone mà”. “Tôi nghĩ chúng ta phải nói chuyện với cô ta”. “Vụ này nói chuyện cũng khó đấy”, tôi nói. “Cô ta có vẻ dễ giận”. “Nói chuyện sai cách mới vậy thôi”. “Thế làm cách nào cho đúng đây?” “Ta có thể thao túng tình huống này. Đây là một vụ bê bối mà. Cô ta chẳng muốn bị lộ chuyện đâu”. “Không nên ép quá kẻo cô ta gọi lão Willard thì khôn”. “Sếp sợ lão à?” “Tôi chỉ sợ quyền hạn của lão thôi. Sẽ chẳng ích gì nêu cả hai ta bị điều đi tới tận Alaska đâu”. “Tùy sếp đó”. Tôi im lặng một