phần của panoplia propheticus quy định các nghi thức mê tín. (Xem Missionaria Protectiva).
SHIGAWIRE: chiết xuất kim loại từ một loài dây leo trên mặt đất. (Narvi narviium) chỉ mọc trên Salusa Secundus và III Delta Kaising. Đáng chú ý bởi lực căng cực lớn. SIETCH: tiếng Fremen nghĩa là “Nơi tụ họp khi nguy hiểm”. Bởi người Fremen từ quá lâu đã phải sống trong tình cảnh hiểm nguy, nên từ này trở nên thông dụng để chỉ bất cứ hang đá nào có một trong các cộng đồng của bộ tộc họ sinh sống. SIÊU KÍNH: loại kính được hình thành từ sự tổng hợp gas nhiệt độ cao trong những tấm thạch anh jasmium. Đáng chú
ý bởi sức căng cực lớn (khoảng 450.000kg trên 1cm vuông với độ dày 2cm) và khả năng dùng làm bộ lọc phóng xạ có lựa chọn. SIHAYA: tiếng Fremen dùng để gọi thời kỳ mùa xuân ở sa mạc, mang những hàm ý tôn giáo, ám chỉ thời kỳ cây cối đơm hoa kết quả và “thiên đường sẽ đến”. SIRAT: đoạn trích trong Kinh thánh Màu Cam mô tả cuộc sống con người như hành trình qua một cây cầu hẹp (Sirat) với “Thiên đường bên phải, Địa ngục bên trái, và Thần Chết phía sau ta.” SOLARI: đơn vị tiền tệ chính thức của
Đế quốc, giá trị của một đơn vị tiền tệ này được ấn định bởi các cuộc đàm phán bốn trăm năm một lần giữa Hiệp hội, Landsraad và Hoàng đế. SOLIDO: hình ảnh ba chiều từ máy chiếu solido sử dụng các tín hiệu tham chiếu 360 độ in trên một cuộn shigawire. Máy chiếu Ixian solido thường được coi là tốt hơn cả. SONDAGI: hoa uất kim hương thuộc giống dương xỉ ở Tupali. SOO-SOO-SOOK!: tiếng rao của người bán nước rong ở Arrakis. Sook là một khu chợ. (Xem Ikhut-eigh!)
SỔ TAY SÁT THỦ: tài liệu biên soạn từ thế kỷ III về các loại thuốc độc thường dùng trong một cuộc Chiến tranh Sát thủ. Về sau được mở rộng để chỉ cả những công cụ giết người được phép dùng theo Hòa ước Hiệp hội và Đại Hiệp định. SƠ ĐỒ SINK: bản đồ bề mặt Arrakis, trong đó vẽ các con đường cận la bàn đáng tin cậy nhất nối liền các nơi trú ẩn (XemCận la bàn). SỢI KRIMSKELL hay THỪNG KRIMSKELL: loại “sợi quắp” được bện từ dây leo hufuf của hành tinh Ecaz. Các nút được buộc bằng sợi krimskell sẽ
“quắp” lại càng lúc càng chặt để định vị trước giới hạn khi người ta kéo sợi dây được thắt nút. (Để nghiên cứu chi tiết hơn, xem “Dây leo siết cổ của hành tinh Ecaz” của Holjance Vohnbrook). SUBAKH UL KUHAR: “Anh có khỏe không?”: một lời chào của người Fremen. SUBAKH UN NAR: “Tôi khỏe. Còn anh?”: lời đáp theo truyền thống. SÚNG BẮN PHI TIÊU: vũ khí phóng phi tiêu ở tốc độ chậm, chuyên bắn phi tiêu có đầu tẩm thuốc độc hay chất gây mê. Hiệu quả bị hạn chế bởi những biến
thiên trong thông số cài đặt tấm chắn cũng như những chuyển động tương đối giữa mục tiêu và vũ khí. SÚNG LAZE: loại vũ khí phát ra sóng laze duy trì. Hạn chế sử dụng ở những nơi có áp dụng lá chắn dưới dạng trường bảo vệ, bởi phản ứng nổ (từ kỹ thuật là phản ứng tổng hợp hạ nguyên tử) sẽ xảy ra khi dòng laze cắt vào tấm chắn. SÚNG LỤC BARADYE: một loại súng bắn bụi có điện tích tĩnh, được chế tạo ở Arrakis nhằm tạo ra một vùng rộng đánh dấu bằng thuốc nhuộm trên mặt cát. SÚNG LỤC MAULA: súng lục nạp lò xo
để bắn phi tiêu tẩm thuốc độc; tầm bắn khoảng 40m. T TAHADDI AL-BURHAN: một thử thách tối hậu mà người ta không thể kháng cự (thường là bởi nó mang lại cái chết hay sự hủy diệt). TAM VỊ CHẾT: ban đầu dùng để chỉ chiếc giá ba chân mà trên đó các đao phủ vùng sa mạc treo cổ tội nhân. Nay dùng để chỉ ba thành viên của một Cherem đã tuyên thệ cùng trả một mối thù. TAQWA: nghĩa đen: “Cái giá của tự do”.
Một cái gì đó có giá trị lớn lao. Điều mà thần linh đòi hỏi ở con người (và nỗi sợ do đòi hỏi đó khơi nên). TAU: trong thuật ngữ Fremen, là tính nhất thể của cộng đồng sietch, được tăng cường bởi thức ăn có hương dược và đặc biệt là cơn cuồng hoan của tinh thần nhất thể được khơi dậy nhờ uống Nước của Sự sống. TÀU CẢNH VỆ: loại orhihopter nhẹ trong một nhóm săn hương dược, chịu trách nhiệm quan sát và bảo vệ. TÀU CHIM: máy bay có khả năng bay bằng cách đập cánh liên tục giống như
chim. TÀU CHUYỂN QUÂN: tàu của Hiệp hội dành riêng để vận chuyển quân đội giữa các hành tinh. TÀU NGHIỀN: tàu vũ trụ quân sự, gồm nhiều tàu nhỏ hơn ghép vào nhau, được thiết kế để cho rơi vào vị trí của quân địch, nghiền nát mục tiêu. TÀU THIẾT GIÁP: một tàu chiến vũ trụ gồm mười cấu kiện, bọc giáp hạng nặng và có trường bảo vệ. Được thiết kế sao cho có thể tách ra thành từng cấu kiện rời để phóng lên sau khi rơi xuống bề mặt hành tinh.
TÀU THỒ: một thiết bị bay, “ngựa thồ” ở hành tinh Arrakis, thường chuyên chở các thiết bị lớn để khai thác, săn lùng và tinh cất hương dược. TÀU TRÚT: thuật ngữ chung dùng để gọi bất cứ vật chứa hàng nào có hình dáng bất thường, được trang bị bề mặt chịu cháy mòn và hệ thống treo giảm xóc. Tàu trút được dùng để đổ vật liệu từ không gian lên bề mặt hành tinh. TÀU VŨ TRỤ: tàu lớn, có thể hạ cánh xuống hành tinh và cất cánh mà không cần có bộ phận nào tách ra.
TẤM CHẮN (BẢO VỆ): trường bảo vệ được tạo ra bằng máy phát Holtzman. Trường này xuất phát từ Pha Thứ nhất của hiệu ứng vô hiệu hóa lực treo. Tấm chắn chỉ cho phép những vật thể di chuyển ở tốc độ chậm xuyên qua (tùy theo thông số cài đặt, tốc độ này dao động từ 6 đến 9cm một giây) và chỉ có thể vượt qua bằng một điện trường cỡ shire. (Xem Súng laze). TẤM CHẮN NĂM LỚP: một trường tạo tấm chắn gồm năm lớp, thích hợp cho những khu vực nhỏ như ngưỡng cửa hay hành lang (những tấm chắn gia cố lớn thì càng nhiều lớp lại càng kém ổn định) và gần như không ai có thể vượt qua nếu
không đeo một bộ hóa giải được kích hoạt cùng mã số với tấm chắn. (Xem Cửa an toàn). THÁNH CHIẾN: một cuộc chiến lớn mang tính tôn giáo; cuộc chiến lớn mang tính cuồng tín. THÁNH CHIẾN BUTLER (Xem thêm Nổi dậy Lớn): cuộc đại chiến chống lại máy vi tính, máy biết suy nghĩ và robot có ý thức, khởi đầu vào năm 201 B.G., kết thúc vào năm 108 B.G. Điều răn chính của cuộc chiến này còn lưu lại trong Kinh thánh Toàn Nhân loại Màu Cam như sau: “Ngươi không được làm ra chiếc máy giống như tâm trí con
người.” THẤU KÍNH DẦU: dầu huful được giữ ở độ căng tĩnh bởi trường lực khép kín bên trong ống quan sát, vốn là bộ phận của một hệ thống phóng đại hay hệ thống xử lý ánh sáng khác. Do mỗi yếu tố của thấu kính có thể được điều chỉnh riêng rẽ mỗi lần một micrômet, nên thấu kính dầu được cho là giải pháp tối ưu về độ chính xác khi xử lý ánh sáng nhìn thấy được. THẦY QUẢN NƯỚC: một người Fremen được tôn phong và chịu trách nhiệm tiến hành các nghi lễ liên quan đến vấn đề nước và Nước của Sự sống.
THÉP DẺO: loại thép đã được ổn định hóa bằng những sợi stravidium cấy vào cấu trúc tinh thể của nó. THIẾT BỊ THU SƯƠNG: không nên lầm với người góp sương. Thiết bị thu sương là những thiết bị hình quả trứng, trục dài khoảng 4 cm. Chúng được làm bằng chất dẻo đa sắc, dưới ánh sáng thì phản xạ màu trắng, trong bóng tối thì chuyển sang trong suốt. Thiết bị thu sương tạo nên một bề mặt khá lạnh nơi sương sớm sẽ đọng lại. Chúng được người Fremen bố trí dọc các chỗ đất trũng hình lòng chảo dùng để trồng trọt; cung cấp cho cây trồng một lượng nước nhỏ nhưng ổn định.
THỬ THÁCH MASHED: một thử nghiệm mà trong đó danh dự (được định nghĩa là vị thế tinh thần) được đưa ra làm vật bảo đảm. THỬ THÁCH TAHADDI: lời thách đấu một mất một còn của người Fremen, thường là để kiểm chứng một vấn đề hệ trọng nào đó. THƯƠNG NHÂN TỰ DO: uyển ngữ dùng để chỉ những kẻ buôn lậu. TIỂU GIA TỘC: giai cấp doanh nhân trong phạm vi mỗi hành tinh (“Richece” theo ngôn ngữ Galach).
TIỂU MA ĐAO: một công cụ giết người thông dụng; là một mảnh kim loại tự treo, điều khiển từ xa, biết tự tìm đến mục tiêu. TLEILAX: hành tinh duy nhất của sao Thalim, nổi tiếng với vai trò trung tâm đào tạo kẻ nổi loạn dành cho các Mentat; nguồn xuất thân của các Mentat “biến chất”. TỐI THƯỢNG Y PHÁP: một sự khai triển của trường y Suk; mức rèn luyện cao nhất nhằm chống lại việc cướp đi sinh mạng con người. Người đã đạt tới cấp độ này được đánh dấu bằng một vết xăm hình tinh thể kim cương trên trán,
được phép để tóc dài, buộc một vòng Suk bằng bạc. TỔNG QUẢN TỐI CAO: là một Mẹ Chí tôn Bene Gesserit đồng thời là quản lý khu vực của một trường B.G. (Thường được gọi là Bene Gesserit Thấu thị). TRĂNG THỨ HAI: vệ tinh nhỏ hơn trong số hai vệ tinh của Arrakis, đáng chú ý ở chỗ trong các ký hiệu trên bề mặt có hình con chuột căng gu ru. TRĂNG THỨ NHẤT: vệ tinh chính của Arrakis, mọc đầu tiên trong đêm, đáng chú ý bởi có một hình nắm tay người rõ rệt trên bề mặt.
TRẬN CORRIN: trận chiến không gian được dùng để đặt tên cho Hoàng tộc Corrino. Trận đánh diễn ra năm 88 B.G. gần Sigma Draconis, qua đó Gia tộc ở Salusa Secundus lên nắm quyền cai trị. TREO BINDU: một dạng đặc biệt của chứng giữ nguyên tư thế, do chủ thể tự gây ra. TRIỀU CÁT: từ dùng để gọi một con triều của bụi cát: sự dao động mực cát ở một số vùng lòng chảo phủ đầy cát trên Arrakis do hiệu ứng hấp dẫn của mặt trời và các vệ tinh gây ra (Xem Trũng cát có Sa triều).
TRŨNG CÁT CÓ SA TRIỀU: từ dùng để gọi bất cứ vùng đất trũng rộng nào trên bề mặt Arrakis bị bụi cát phủ kín suốt nhiều thế kỷ và ở đó người ta đã đo được những cơn triều cát thực sự (Xem Triều cát). TRƯỜNG TREO: pha (cực máng thấp) thứ hai của một máy phát trường Holtzman. Nó vô hiệu hóa trọng lực trong những giới hạn nhất định được quy định bởi khối lượng tương đối và sự tiêu thụ năng lượng. TÚI HỨNG: chiếc túi trên sa phục, dùng để hứng và lưu trữ nước đã tinh lọc.
TUPILE: cái gọi là “hành tinh thánh địa” (có thể có đến vài hành tinh) dành cho các Gia tộc bị đánh bại của Đế quốc. Các nơi này chỉ Hiệp hội biết, được duy trì tình trạng bất khả xâm phạm theo Hòa ước Hiệp hội. TƯỜNG CHẮN: một đặc điểm địa lý ở vùng phía Bắc Arrakis, đó là những ngọn núi tạo thành bức tường bảo vệ một khu vực nhỏ tránh không phải hứng chịu trọn vẹn ảnh hưởng của các cơn bão coriolis trên hành tinh này. TƯỜNG RÌA: bậc thượng thứ nhì của các dốc bảo vệ trên Tường Chắn Arrakis
(Xem Tường Chắn). U ULEMA: tiến sĩ thần học Zensunni. UMMA: một người thuộc hội ái hữu nhà tiên tri (Một từ miệt thị trong Đế quốc, ám chỉ bất cứ kẻ “mọi rợ” nào hiến mình cho những lời tiên tri cuồng tín). UROSHNOR: một trong nhiều âm thanh không có nghĩa chung, được các Bene Gesserit cấy vào tâm thức những nạn nhân được chọn nhằm mục đích làm chủ họ. Kẻ nhiễm Uroshnor khi nghe thấy âm thanh này thì sẽ bị tê liệt tạm thời.
USUL: tiếng Fremen: “Bệ cột”. V VAN BỊT CỬA: một tấm van nhỏ gọn bằng chất dẻo, dùng để bảo đảm độ ẩm an toàn trong các trại nghỉ của người Fremen trong hang động. VAROTA: người làm đàn baliset nổi tiếng; quê ở Chusuk. VERITE: một trong những thứ thuốc mê của xứ Ecaz nhằm tiêu diệt ý chí. Nó khiến người ta không còn khả năng nói dối.
VÒNG ĐẾM NƯỚC: những vòng kim loại nhiều kích cỡ, mỗi vòng biểu thị một lượng nước cụ thể có thể mua từ các kho của người Fremen. Vòng đếm nước có tầm quan trọng sâu sắc (vượt xa ngoài ý niệm về tiền bạc), nhất là trong những nghi thức liên quan đến chuyện sinh tử và tìm bạn phối ngẫu. VÙNG ĐẤT THẤP: một khu vực đất thấp có thể sinh sống được trên Arrakis, bao quanh là vùng đất cao bảo vệ nó thoát khỏi các cơn bão thường thổi ở nơi này. W
WALI: một thanh niên Fremen chưa được thử thách. WALLACH IX: hành tinh thứ chín của Laoujin, nơi tọa lạc Trường Mẹ của dòng Bene Gesserit. X XUẤT THẦN TRUY SỰ THẬT: trạng thái xuất thần nửa thôi miên, do một trong vài loại thuốc mê “quang phổ nhận thức” gây nên. Người nhập vào trạng thái này sẽ có khả năng thấy rõ ngay cả những biểu hiện nhỏ nhất của sự giả dối cố tình ở kẻ khác (Lưu ý: thuốc mê “quang phổ
nhận thức” thường nguy hiểm chết người, chỉ trừ đối với những cá nhân đã được miễn nhiễm, có khả năng chuyển hóa thành