phần lớn vẫn chưa được
kiểm soát, còn chậm chạp, không chắc chắn, và, trước khi Hiệp hội nắm độc quyền, vẫn được thực hiện nhờ một mớ phương pháp hổ lốn. Những kinh nghiệm không gian đầu tiên, được truyền đạt một cách kém cỏi và bị bóp méo ghê gớm, đã mạnh mẽ khích lệ người ta đi vào những suy niệm thần bí. Ngay lập tức, không gian mang lại một hương vị và cảm nhận khác đối với những ý nghĩ về Đấng Sáng tạo. Khác biệt đó có thể thấy rõ ngay cả ở những thành tựu tôn giáo cao nhất của thời kỳ này. Khắp mọi ngóc ngách trong tôn giáo, cảm nhận về thần thánh thiêng liêng đều bị tác động bởi tình trạng hỗn loạn của
bóng tối ngoài vũ trụ. Dường như Jupiter, trong mọi dạng hậu duệ của mình, đã rút lui vào bóng tối của người mẹ để rồi bị thay thế bởi một nội tại có tính nữ mang đầy sự đa nghĩa và với một khuôn mặt mang nhiều nỗi kinh hoàng. Các công thức cổ xoắn xuýt, quấn bện vào nhau bởi chúng phù hợp với nhu cầu của những cuộc chinh phục mới và các biểu tượng huy hiệu mới. Đó là thời kỳ đấu tranh giữa một bên là các con quỷthú dữ còn một bên là những lời cầu nguyện và thần chú cổ.
Chưa bao giờ có một quyết định rõ ràng. Trong thời kỳ đó, người ta nói rằng sách Khải huyền đã được diễn giải lại, cho phép Thượng đế nói: “Hãy gia tăng và nhân lên, hãy lấp đầy vũ trụ, và khuất phục nó, hãy cai trị mọi loài thú lạ và mọi sinh vật trong những không gian vô tận, trên và dưới những địa cầu vô tận.” Đó là thời của những thầy phù thủy, quyền lực của họ là có thật. Có thể thấy rõ khả năng của các phù thủy này qua việc họ chẳng bao giờ huênh hoang họ đã tóm được kẻ xúi giục nổi loạn như thế
nào. Thế rồi đến thời Thánh chiến Butler - hai thế hệ hỗn loạn. Thượng đế của logicmáy móc bị quần chúng lật đổ và một ý niệm mới được nêu lên: “Con người không thể bị thay thế.” Hai thế hệ bạo lực đó là một quãng tạm ngơi đối với toàn thể loài người. Con người nhìn các vị thánh thần của mình cùng những nghi thức của các ngài và rồi nhận thấy rằng cả hai đều chứa đầy cái phương trình kinh khủng nhất trong mọi phương trình: sợ hãi lớn hơn tham vọng.
Với thái độ do dự, lãnh tụ các tôn giáo - mà tín đồ của chúng đã làm đổ máu hàng tỉ người - bắt đầu gặp nhau để trao đổi quan điểm. Đó là một động thái nhận được sự khuyến khích từ Hiệp hội Không gian, cái thực thể vốn đang bắt đầu xác lập sự độc quyền của mình trên toàn bộ vấn đề du hành giữa các vì sao, và từ Bene Gesserit, cái tổ chức đang tiến hành tập hợp các phù thủy. Các cuộc gặp gỡ hiệp đồng tôn giáo đầu tiên đó đã đạt được hai bước tiến chính: 1. Sự nhận thức rằng mọi tôn giáo đều có ít nhất một điều răn chung: “Ngươi không được phép làm dị dạng linh hồn.”
2. Ủy ban Dịch giả Đại đồng Tôn giáo. U.D.Đ.T được triệu tập trên một hòn đảo trung lập của Trái Đất Cũ, ra đời trên nền móng các tôn giáo mẹ. Họ gặp nhau “trong niềm tin chung rằng có một Thực tánh Thiêng liêng hiện hữu trong vũ trụ.” Mọi tín ngưỡng thu hút được trên một triệu tín đồ đều có người đại diện, và, một cách nhanh chóng đến kỳ lạ, họ đạt được một thỏa thuận dựa trên tuyên ngôn về mục đích chung: “Chúng ta có mặt ở đây để tước một thứ vũ khí quan trọng nhất khỏi tay các tôn giáo đang còn tranh chấp. Thứ vũ khí đó
- khăng khăng khẳng định mình là tôn giáo sở hữu sự khải thị duy nhất.” Niềm hân hoan trước “dấu hiệu hòa đồng sâu xa” này tỏ ra là quá vội. Trong hơn một Năm Chuẩn, tuyên ngôn đó là thông báo độc nhất của U.D.Đ.T. Người ta nhắc đến sự chậm chạp này một cách chua chát. Giới hát rong sáng tác những bài hát hài hước và chua cay về một trăm hai mươi mốt tay “Già dịch” - danh xưng dành cho các đại biểu của U.D.Đ.T. (Cái tên này phát sinh từ một chuyện đùa thô tục, chơi chữ dựa trên từ “dịch” trong tên gọi chính thức của Ủy ban.) Một trong các bài hát đó, Yên nghỉ Màu Nâu, được hồi sinh đi hồi sinh lại nhiều lần và lưu
truyền đến tận ngày nay: “Kìa xem những vòng hoa Yên nghỉ màu nâu Bi kịch cho bao nhiêu là Già dịch! Biết bao nhiêu Già dịch! Lười ôi chao ôi Lười thối lười thây
Lười trọn bao ngày Ngày đã rung chuông Ôi ôi ngày đã rung chuông Cho Đức Ông Sandwich!” Thỉnh thoảng những lời đồn lại xì ra từ các phiên họp của U.D.Đ.T. Nghe nói họ đang đối chiếu văn bản và, thật tắc trách, các văn bản đều được nhắc tên. Những đồn thổi như thế không tránh khỏi làm dấy nên những cuộc nổi loạn chống chủ nghĩa đại đồng tôn giáo và, dĩ nhiên, khơi nguồn cảm hứng cho những nhận xét
sâu cay mới. Hai năm trôi qua... rồi ba năm. Các đại biểu Ủy ban, trong lớp đại biểu đầu tiên thì chín người đã chết và được thay thế, ngừng mọi việc lại để tiến hành lễ nhậm chức chính thức của những người thay thế và công bố họ đang lao động cật lực để cho ra một cuốn sách sẽ loại bỏ “mọi triệu chứng bệnh lý” của quá khứ tôn giáo. “Chúng tôi đang tạo ra một nhạc cụ của Tình thương yêu để nó được chơi theo mọi cách,” họ nói.
Nhiều người cho rằng thật kỳ quặc khi lời tuyên bố này lại làm bùng phát những cuộc bạo động tồi tệ nhất chống chủ nghĩa đại đồng tôn giáo. Hai mươi đại biểu bị các giáo đoàn của họ triệu hồi. Một người tự sát bằng cách đánh cắp tàu không gian rồi lái nó lao thẳng vào mặt trời. Các sử gia ước tính những cuộc nổi loạn đã cướp đi tám mươi triệu sinh mạng. Con số này tương đương với sáu ngàn người cho mỗi thế giới thuộc Liên minh Landsraad tại thời điểm đó. Xét tình trạng bất an của thời kỳ này, đây có thể không phải là ước lượng quá đáng, tuy nhiên bất kỳ sự kỳ vọng nào đối với độ
chính xác đích thực về con số rốt lại cũng chỉ đến thế mà thôi: kỳ vọng. Việc trao đổi thông tin giữa các thế giới đang nằm ở một trong những hồi suy thoái nhất. Với giới nghệ sĩ hát rong, âu cũng là lẽ tự nhiên, thì đây là thời đại hoàng kim. Trong một vở nhạc kịch được ưa thích vào thời đó, có cảnh một đại biểu U.D.Đ.T. ngồi dưới gốc cọ trên bãi biển cát trắng, hát: “Vì Thượng đế, đàn bà và sự huy hoàng của tình yêu Chúng ta lần khân mãi ở đây không sợ
hãi chẳng âu lo. Người hát rong! Người hát rong ơi, hãy cất giai điệu khác Vì Thượng đế, đàn bà và sự huy hoàng của tình yêu!” Bạo loạn và hài kịch chỉ là triệu chứng của thời đại, có tính khai mở sâu xa. Chúng tiết lộ giọng điệu tâm lý, những bất định sâu sắc... và sự gắng gỏi đấu tranh cho điều tốt đẹp hơn, cộng với nỗi sợ rằng rốt cuộc điều đó sẽ không đưa lại bất cứ cái gì. Trong các thời kỳ đó, những đập ngăn
chủ yếu chống lại tình trạng vô chính phủ là Hiệp hội thời kỳ phôi thai, Bene Gesserit và Lansdraad, trong đó Landsraad vẫn tiếp tục duy trì kỷ lục nhóm họp trong suốt 2000 năm liên tục bất chấp những trở ngại nghiêm trọng nhất. Đóng góp của Hiệp hội có vẻ rõ ràng: họ cung cấp dịch vụ vận chuyển miễn phí cho toàn bộ công vụ của Landsraad và U.D.Đ.T. Vai trò của Bene Gesserit thì khó hiểu hơn. Hẳn nhiên đây là thời họ củng cố ảnh hưởng đối với các phù thủy, thử nghiệm những loại thuốc gây mê tinh vi, phát triển lối đào tạo prana-bindu và thai nghén Missionaria Protectiva, chi phái đen tối chuyên gieo rắc sự mê tín. Nhưng đó còn là thời
chứng kiến việc soạn thảo Kinh Chống Nỗi sợ và sự kết tập cuốn Sách Azhar, kỳ tích thư tịch học đã bảo tồn những bí ẩn lớn lao của các tín ngưỡng cổ xưa nhất. Nhận xét của Ingsley có lẽ là nhận xét hợp lý duy nhất: “Đó là những thời nghịch lý sâu xa.” Thế rồi, trong hầu suốt bảy năm, U.D.Đ.T. làm việc cật lực. Và khi sắp đến dịp kỷ niệm bảy năm thành lập, họ chuẩn bị cho toàn vũ trụ loài người một tuyên bố vô cùng hệ trọng. Vào dịp kỷ niệm bảy năm đó, họ trình ra trước bàn dân thiên hạ cuốn Kinh thánh Toàn Nhân
loại Màu Cam. “Đây là một công trình đầy phẩm giá và ý nghĩa,” họ nói. “Đây là cách để nhân loại nhận thức về bản thân mình như một sáng tạo tuyệt đối của Thượng đế.” Người của U.D.Đ.T được so sánh với các nhà khảo cổ chuyên khai quật ý tưởng, được Thượng đế truyền cảm hứng về sự vĩ đại của tái phát kiến. Nghe nói họ đã mang ra ánh sáng “cái sinh khí của những lý tưởng vĩ đại bị trầm tích của nhiều thế kỷ phủ lên”, rằng họ đã “mài sắc những đòi hỏi đạo đức xuất sinh từ lương tri tôn giáo.”
Cùng với Kinh thánh Toàn Nhân loại Màu Cam, U.D.Đ.T còn trưng ra Sách Nghi lễ và Chú giải - xét trên nhiều phương diện thì tác phẩm này còn kiệt xuất hơn nhiều, không chỉ vì sự ngắn gọn (chưa bằng phân nửa Kinh thánh Toàn Nhân loại Màu Cam), mà còn bởi sự trung thực và khả năng kết hợp giữa thái độ tự thương mình với tự cho mình là đúng. Đoạn đầu rõ ràng là lời kêu gọi các lãnh tụ theo thuyết bất khả tri. “Con người, do không tìm thấy câu trả lời cho sunnan [mười ngàn câu hỏi về tôn giáo trong Shari-ah] nên giờ đây áp
dụng lập luận riêng của họ. Con người ai cũng mong mỏi được khai minh. Tôn giáo chẳng qua là phương pháp cổ xưa nhất và chính trực nhất mà theo đó con người gắng gỏi tìm ra ý nghĩa nơi vũ trụ của Thượng đế. Các nhà khoa học thì tìm tính hợp quy luật của các sự kiện. Nhiệm vụ của Tôn giáo chính là làm con người tương hợp với tính hợp quy luật đó.” Tuy nhiên, trong phần kết luận, sách Chú giải lại dùng một giọng gay gắt rất có thể đã báo trước số phận của nó. “Hầu hết những gì gọi là tôn giáo đều mang thái độ thù địch vô thức đối với sự sống. Tôn giáo đích thực phải dạy rằng
sự sống tràn đầy niềm phúc lạc làm vui mắt Thượng đế, rằng tri thức mà không có hành động thì không có ý nghĩa gì hết. Mọi người phải thấy rằng, tôn giáo mà truyền giảng bằng luật lệ và học vẹt thì