hồi môn,” chàng nói. “Toàn bộ sao?” Bà choáng váng đến nỗi gần như không nói được gì. “Bây giờ ông ta sẽ chẳng còn gì. Con muốn Gurney Halleck có địa vị bá tước và giữ chức giám đốc công ty CHOAM, ban cho ông ấy thái ấp Caladan. Tất cả người của gia tộc Atreides còn sống sót sẽ có tước vị và quyền hạn đi kèm, không loại trừ người lính mang cấp bậc
thấp nhất.” “Thế còn người Fremen thì sao?” Jessica hỏi. “Người Fremen là dân của con,” Paul nói. “Họ sẽ được Muad’Dib ban bổng lộc. Đầu tiên là phong cho Stilgar làm Thống đốc Arrakis, nhưng chuyện đó có thể đợi được.” “Còn mẹ?” Jessica hỏi. “Mẹ muốn gì?” “Có lẽ là Caladan,” bà nói, nhìn Gurney. “Mẹ không chắc. Mẹ đã quá giống người
Fremen... và quá giống Mẹ Chí tôn. Mẹ cần có khoảng thời gian yên bình, tĩnh lặng để suy nghĩ.” “Mẹ sẽ có điều đó,” Paul nói, “cùng bất cứ điều gì mà Gurney và con có thể trao cho mẹ.” Jessica gật đầu, bất chợt cảm thấy mình già nua mệt mỏi. Bà nhìn Chani. “Dành cái gì cho người thiếp Hoàng gia đây?” “Con không cần tước vị,” Chani thì thầm. “Không cần gì. Con xin mẹ.” Paul nhìn chằm chằm vào mắt nàng, bất chợt nhớ lại hình ảnh một lần nàng đứng
bế Leto bé bỏng trong tay, đứa con của họ đã chết trong cuộc giao tranh ác liệt này. “Bây giờ ta thề với nàng,” chàng thì thầm, “nàng sẽ không cần tước vị. Cô gái đứng đằng kia sẽ là vợ ta và nàng chỉ là một người thiếp bởi đây là vấn đề chính trị và trong giờ phút này chúng ta phải hàn gắn hòa bình, thuyết phục các Đại Gia tộc của Landsraad hợp tác. Chúng ta phải tuân theo nghi thức. Tuy nhiên nàng công chúa kia sẽ không có được gì ngoài cái tên của ta. Không có đứa con nào với ta, không đụng chạm, không liếc mắt tình tứ, không phút giây khao khát.” “Giờ thì chàng nói vậy thôi,” Chani nói. Nàng nhìn qua căn phòng hướng về phía
nàng công chúa dáng cao. “Con hiểu quá ít về con trai ta phải không?” Jessica thì thầm. “Hãy nhìn nàng công chúa đứng đằng kia, quá kiêu kỳ, quá tự tin. Nghe nói nàng ta có tài chữ nghĩa. Ta hãy hy vọng nàng ta tìm thấy niềm an ủi trong những việc như thế; nàng ta còn có chút gì khác nữa đây.” Jessica bật cười cay đắng. “Nghĩ mà xem, Chani: nàng công chúa kia sẽ có danh phận, nhưng cuộc sống của nàng ta sẽ còn kém cả một người thiếp - không bao giờ biết dù chỉ một khoảnh khắc âu yếm của người đàn ông nàng ta cưới làm chồng. Trong khi chúng ta, Chani ạ, chúng ta mang danh phận người thiếp,
nhưng lịch sử sẽ gọi chúng ta là những người vợ.” Mời các bạn ghé thăm Đào Tiểu Vũ eBook để tải thêm nhiều eBook hơn nữa.
Phụ lục PHỤ LỤC I: HỆ SINH THÁI XỨ CÁT Vượt quá điểm tới hạn bên trong một không gian hữu hạn, tự do giảm khi số lượng tăng. Điều này đúng với những con người trong không gian hữu hạn của một hệ sinh thái hành tinh cũng như đúng với các phân tử khí bên trong một chiếc bình kín. Đối với con người, vấn đề không phải là bao nhiêu người có thể sống sót bên trong hệ, mà là những ai sống sót thì có thể tồn tại theo kiểu nào.
- Pardot Kynes, nhà hành tinh học đầu tiên ở Arrakis Đối với người mới đến, ấn tượng ban đầu về Arrakis thường là một vùng đất cằn cỗi choáng ngợp. Người xứ khác có thể cho rằng tại nơi đây không thứ gì có thể sống hay mọc ngoài trời, rằng đây quả thật là chốn hoang địa chưa bao giờ và sẽ không bao giờ màu mỡ. Với Pardot Kynes, hành tinh này chỉ đơn thuần là sự hiển bày của năng lượng, một cỗ máy được vận hành bởi mặt trời của nó. Điều nó cần là phải thay đổi lại cấu trúc cho phù hợp với nhu cầu của con
người. Tâm trí ông lập tức nghĩ đến cộng đồng dân cư di chuyển tự do, người Fremen. Thử thách lớn làm sao! Họ có thể là một công cụ tuyệt vời đến thế nào! Người Fremen: một lực lượng sinh thái và địa chất có tiềm năng hầu như vô hạn. Một con người ngay thẳng và đơn giản xét trên nhiều phương diện, Pardot Kynes. Muốn tránh những ràng buộc của nhà Harkonnen ư? Tuyệt. Thì cứ lấy một phụ nữ Fremen làm vợ. Khi cô ta cho anh một đứa con trai Fremen thì anh hãy bắt đầu với nó, với Liet-Kynes, và những đứa con khác, dạy cho chúng kiến thức về sinh thái, tạo ra một ngôn ngữ mới với những biểu tượng làm cho trí tuệ có khả
năng chi phối toàn bộ một cảnh quan, khí hậu của nó, những giới hạn theo mùa của nó, và cuối cùng vượt qua mọi cách nghĩ về sức mạnh để đến với nhận thức choáng váng về trật tự. “Có một vẻ đẹp được thừa nhận từ bên trong về sự vận động và tính cân bằng trên bất cứ hành tinh nào có ảnh hưởng tích cực tới con người,” Kynes nói. “Ta thấy trong cái đẹp này một hiệu ứng cân bằng động vốn dĩ thiết yếu đối với mọi sự sống. Mục đích của nó đơn giản thôi: duy trì và tạo ra những mẫu hình kết hợp ngày càng đa dạng hơn. Sự sống nâng cao khả năng duy trì sức sống của hệ khép kín. Sự sống - mọi sự sống - là
nhằm phục vụ cho sức sống. Các dưỡng chất cần thiết được sự sống tạo ra cho sự sống và sự đa dạng của sự sống ngày càng tăng thì các dưỡng chất cũng ngày càng phong phú hơn. Toàn bộ cảnh quan trở nên sống động, tràn ngập những mối quan hệ và quan hệ bên trong quan hệ.” Đây là bài giảng của Pardot Kynes cho một lớp học trong sietch. Tuy nhiên, trước khi giảng, ông đã phải thuyết phục người Fremen. Để hiểu chuyện này xảy ra như thế nào, trước tiên bạn phải hiểu sự chuyên chú và ngây thơ mà ông sử dụng để tiếp cận bất kỳ vấn đề nào. Chẳng phải ông ngờ nghệch, mà chỉ
là ông không cho phép mình sao lãng. Một buổi trưa nóng bức, khi ông đang khảo sát cảnh quan Arrakis trên chiếc xe mặt đất một chỗ ngồi thì bắt gặp một cảnh tượng quen thuộc như cơm bữa: Sáu tên giết thuê Harkonnen, được bảo vệ bằng khiên chắn và vũ khí tận răng, đã bẫy được ba chàng thanh niên Fremen ngoài sa mạc phía sau Tường Chắn gần làng Túi Gió. Với Kynes, đó là một trận đấu thắng bại bất phân, giống trò hề hơn là thực, cho tới khi ông tập trung chú ý vào cái thực tế rằng bọn Harkonnen định giết chết những người Fremen. Cho đến lúc này, một chàng trai Fremen đã ngã xuống với động mạch bị cắt đứt, hai tên
lính đánh thuê cũng đã gục, nhưng vẫn còn bốn kẻ có vũ trang chọi lại hai chàng trẻ tuổi. Kynes không phải kẻ gan dạ; ông chỉ đơn thuần cẩn trọng và chú tâm vào mục đích. Người Harkonnen đang giết người Fremen. Họ đang hủy diệt những công cụ ông định dùng để tái tạo một hành tinh! Ông kích hoạt tấm chắn của mình, nhảy vào tấn công và giết chết hai tên Harkonnen bằng một lưỡi dao mảnh trước khi chúng nhận ra sau lưng có người. Ông né nhát gươm của một trong hai tên còn lại, cắt đứt họng y bằng một cú entrisseur gọn gàng, rồi để tên đánh thuê còn lại cho hai chàng Fremen giải
quyết trong khi ông dồn hết tâm ý cứu chữa chàng trai đang nằm trên mặt đất. Và ông cứu được chàng ta... trong khi sáu tên Harkonnen đã bị kết liễu. Giờ thì lại đến tình thế khó xử! Mấy người Fremen không biết làm gì với Kynes. Họ biết ông là ai, dĩ nhiên. Không ai đặt chân đến Arrakis mà tập hồ sơ đầy đủ về họ lại không tìm được đường tới các dinh lũy Fremen. Họ biết ông: ông là bầy tôi của Hoàng đế. Nhưng ông đã giết bọn Harkonnen! Nếu là những người trưởng thành thì hẳn họ đã nhún vai và, với đôi chút hối tiếc,
cho linh hồn ông nhập bọn cùng linh hồn sáu người chết nằm trên mặt đất. Song nhóm Fremen này lại là những chàng trai trẻ người non dạ, và tất cả những gì họ nhìn ra được đó là họ đã nợ kẻ bầy tôi của Hoàng đế này một món nợ sinh tử. Hai ngày sau Kynes được đưa đến một sietch nhìn xuống Đèo Gió. Với ông, điều này hoàn toàn tự nhiên. Ông nói với người Fremen về nước, về những cồn cát bị cỏ neo chặt, về những khu vườn đầy cây chà là, về những con kênh lộ thiên chảy qua sa mạc. Ông nói, nói hoài, nói mãi. Xung quanh Kynes bùng lên một cuộc
tranh cãi mà ông chưa từng thấy. Phải làm gì với gã điên này? Hắn biết vị trí của một sietch trọng yếu. Làm gì đây? Những lời nói của hắn, câu chuyện điên khùng về một thiên đường trên Arrakis này là cái quái gì chứ? Chỉ nói suông thôi. Hắn biết quá nhiều. Nhưng hắn đã giết bọn Harkonnen! Gánh nặng nước là cái gì chứ? Chúng ta mang nợ Đế chế từ đời nào vậy? Hắn đã giết bọn Harkonnen. Bọn Harkonnen thì ai mà chẳng giết được. Chính tôi cũng đã làm thế còn gì. Nhưng còn những gì hắn nói về việc Arrakis sẽ đơm hoa kết trái thì sao?
Rất đơn giản: Lấy nước đâu ra để có hoa có trái? Hắn nói nước ở ngay đây! Và hắn đã cứu ba người của chúng ta. Hắn đã cứu ba thằng ngu tự đặt mình vào tay bọn Harkonnen! Và hắn đã nhìn thấy dao pha lê! Quyết định cần thiết đã được biết tới từ hàng giờ trước khi nó được thốt ra. Tau của cộng đồng sietch cho các thành viên của nó biết những gì họ phải làm; ngay cả nhu cầu thiết yếu tàn bạo nhất cũng được người ta biết rõ. Một chiến binh dạn dày kinh nghiệm được cử đi hoàn
thành việc này, mang theo một con dao đã được làm phép thiêng. Hai thầy quản nước đi theo anh ta để hứng nước từ cái xác. Nhu cầu thiết yếu tàn bạo. Chẳng ai biết chắc liệu Kynes có để tâm gì đến người-suýt-nữa-là-kẻ-hành-hình ông hay không. Ông đang nói chuyện với một nhóm người rải rác xung quanh cách ông một khoảng đầy thận trọng. Ông vừa đi vừa nói: một vòng tròn ngắn, khoa tay múa chân. Nước ở giữa trời, Kynes nói. Đi bộ ngoài trời không cần mặc sa phục. Nước vốc ngay từ dưới ao lên! Rồi thì những quả cam! Người mang dao đối diện với ông.
“Đi đi,” Kynes nói, rồi vẫn tiếp tục câu chuyện về những cái bẫy gió bí mật. Ông khẽ chạm vào người mang dao. Lưng Kynes lồ lộ bày ra để hứng nhát dao theo nghi lễ. Điều gì xảy ra trong tâm trí người-suýtnữa-là-kẻ-hành-hình đó, giờ đây không ai có thể biết được. Liệu có phải cuối cùng anh ta đã lắng nghe Kynes và tin tưởng? Ai mà biết được? Nhưng điều anh ta đã làm thì thật vô tiền khoáng hậu. Tên anh là Uliet. LietGià. Uliet bước ba bước rồi cố tình ngã lên chính con dao của mình, bằng cách đó buộc chính mình “đi”. Tự sát ư? Có người nói Shai-hulud
đã đưa anh ta đi. Cứ thử nói về những điềm báo nữa đi! Từ giây phút đó trở đi, Kynes chỉ cần đưa tay chỉ, miệng nói: “Hãy đến đó”. Hàng hàng bộ tộc Fremen lũ lượt đi. Đàn ông chết, đàn bà chết, con trẻ chết. Nhưng họ vẫn đi. Kynes quay lại với những công việc phục vụ Đế chế của ông, chỉ huy các Trạm Thử nghiệm Sinh học. Thế nhưng giờ đây người Fremen bắt đầu xuất hiện trong số nhân sự của các Trạm. Người Fremen nhìn nhau. Họ đang thâm nhập vào “hệ thống”, một khả năng họ chưa
bao giờ tính tới. Dụng cụ của trạm bắt đầu tìm được con đường tiến vào các hang động sietch, đặc biệt là các cutteray dùng để đào lòng chảo hứng nước dưới lòng đất và bẫy gió khuất. Nước bắt đầu tích lại trong các lòng chảo. Người Fremen bắt đầu nhận ra Kynes không phải một kẻ điên hoàn toàn mà chỉ điên ở mức vừa đủ để là một thánh nhân. Ông là một người thuộc umma, đoàn ái hữu các nhà tiên tri. Linh hồn Uliet được đưa vào sadus, nhóm phán quan thiên đường đông đảo.
Kynes - Kynes thẳng thắn, kiên quyết đến độ hung hăng - biết rằng công cuộc nghiên cứu được tổ chức cao kia cầm chắc sẽ chẳng tạo ra cái gì mới. Ông thiết lập những cuộc thử nghiệm theo từng đơn vị nhỏ, có sự trao đổi dữ liệu đều đặn hầu đạt hiệu ứng Tansley nhanh, để cho mỗi nhóm tự tìm con đường của mình. Họ phải tích lũy hàng triệu sự kiện cỏn con. Ông chỉ tổ chức những cuộc thí nghiệm khái quát, có tính tóm lược, cách ly để hiểu đúng khó khăn của họ. Người ta làm những tiêu bản lõi trên khắp vùng sa mạc. Người ta vẽ đồ thị những chiều hướng thời tiết dài hạn được gọi là khí hậu. Ông nhận thấy ở vùng
vành đai rộng nằm giữa các đường vĩ tuyến 70 độ Bắc và Nam, trong suốt hàng ngàn năm nhiệt độ chưa bao giờ ra khỏi phạm vi 254 - 332 độ (tuyệt đối); vành đai này có những mùa sinh trưởng kéo dài khi nhiệt độ dao động từ 284 đến 302 độ tuyệt đối: phạm vi “năng suất cao” đối với các dạng sống của trái đất... nếu họ giải quyết được vấn đề nước. Bao giờ chúng ta mới giải quyết được? người Fremen hỏi. Khi nào chúng ta sẽ được thấy Arrakis là một thiên đàng? Với cung cách của ông thầy đáp lại một chú học trò hỏi hai cộng hai là mấy, Kynes bảo họ: “Từ ba trăm đến năm
trăm năm nữa.” Một giống dân non kém hơn thì hẳn đã kêu la, chí cùn khí nhụt. Nhưng người Fremen đã học được đức kiên nhẫn từ những kẻ cầm roi. Chừng đó thì lâu hơn một chút so với họ dự tính, nhưng tất cả họ đều hiểu thời sung sướng kia sẽ tới. Họ thắt chặt khăn rồi quay lại với công việc. Bằng cách nào đó, nỗi thất vọng khiến cho viễn cảnh thiên đường trở nên thật hơn. Mối lo về Arrakis không phải nước mà là hơi ẩm. Người ta hầu như không biết đến thú cảnh, gia súc cũng hiếm hoi. Một số dân buôn lậu sử dụng loài lừa sa mạc
đã thuần hóa, kulon, nhưng ngay cả khi lũ lừa đã được trang bị sa phục có cải tiến thì giá nước vẫn quá cao. Kynes từng nghĩ đến việc lắp đặt thiết bị khử nhằm phục hồi nước từ khí hyđrô và ô xy bị giam trong đá tự nhiên, nhưng nhân tố chi phí-năng lượng vẫn quá cao. Hai điểm địa cực (bất chấp cái cảm giác sai lầm về an ninh nước mà chúng đem lại cho đám tiện dân pyon) chứa lượng nước quá nhỏ so với dự án của ông... và ông đâm ngờ rằng nước phải nằm ở đâu đó. Vẫn có sự gia tăng độ ẩm một cách nhất quán ở các độ cao trung bình, và trong một số ngọn gió nhất định. Lại còn cái manh mối căn bản nằm trong sự cân
bằng không khí - 23 phần trăm ô xy; 75,4 phần trăm ni tơ và 0,023 phần trăm đi ô xít các bon - còn lại là một chút khí ga. Có một loài thực vật bản địa rất hiếm, thuộc dạng cây có củ, mọc ở độ cao trên 2.500 mét ở vùng ôn đới phía Bắc. Một thân củ dài hai mét cung cấp nửa lít nước. Và có những loài cây sa mạc giống như cây ở trái đất: những loài dẻo dai hơn trong số đó có dấu hiệu tăng trưởng mạnh nếu được trồng ở những vùng trũng có lắp thiết bị thu sương. Thế rồi Kynes nhìn thấy lòng chảo chứa muối.
Chiếc tàu chim của ông đang bay giữa các trạm xa xôi trên bled thì bị một trận bão đánh bật khỏi lộ trình. Khi bão tan thì xuất hiện lòng chảo đó - một vùng trũng khổng lồ hình bầu dục, đường trục dài khoảng ba trăm ki lô mét - một nỗi ngạc nhiên màu trắng sáng lóa giữa sa mạc trống trơ. Kynes hạ cánh, nếm thử bề mặt lòng chảo đã được bão rửa sạch bong. Muối. Giờ thì ông chắc chắn. Từng có nước trên Arrakis - một thời từng có. Ông bắt đầu xem xét lại bằng
chứng về những cái giếng khô nơi có nước rỉ ra rồi biến mất, không bao giờ trở lại. Kynes cho các chuyên gia nghiên cứu về hồ người Fremen mới qua huấn luyện bắt tay vào việc: manh mối chính của họ, những mẩu vật chất giống như da đôi khi được tìm thấy cùng với quặng hương dược sau vụ nổ. Người ta từng cho nó thuộc về một loài “cá