Xứ Cát

hồi

hồi

hồi còn phục vụ Lão Công tước trở nên đau nhức.

Đến giờ là ba thế hệ rồi, ông nghĩ. Ông nhìn chằm chằm khắp căn phòng rộng rãi sáng sủa tràn ngập ánh nắng ban trưa tuôn xuống qua những ô cửa sổ trên trần, thấy cậu bé ngồi quay lưng ra cửa, mải mê với đống giấy tờ và bản đồ trải la liệt khắp mặt bàn hình chữ L. Không biết ta đã phải nhắc cậu bé không được ngồi quay lưng ra cửa bao nhiêu lần rồi? Hawat hắng giọng. Paul vẫn cắm cúi nghiên nghiên cứu cứu. Một bóng mây bay qua khung cửa sổ trên

trần. Hawat lại hắng giọng. Paul vươn thẳng người, nói mà không quay lại: “Ta biết rồi. Ta đang quay lưng ra cửa.” Hawat nén cười, sải bước ngang qua căn phòng. Paul ngước nhìn ông già tóc hoa râm đứng ở góc bàn. Đôi mắt Hawat tựa hai hồ nước lấp lánh tinh anh trên khuôn mặt u tối và hằn sâu những nếp nhăn của ông. “Ta nghe thấy tiếng thầy đi dọc hành lang,” Paul nói. “Ta cũng nghe thấy tiếng thầy mở cửa.”

“Những âm thanh ấy người khác cũng có thể giả được.” “Ta phân biệt được.” Cậu bé có khả năng đó, Hawat nghĩ. Tất nhiên bà mẹ phù thủy của cậu dạy dỗ cậu rất cẩn thận. Ta băn khoăn không biết cái trường học quý báu của cô ta nghĩ gì về chuyện này? Có thể đó là nguyên nhân khiến họ cử vị Tổng quản Tối cao già nua đến đây - vụt roi để khép Lệnh bà Jessica yêu quý của chúng ta vào khuôn phép. Hawat kéo chiếc ghế bên cạnh Paul về

phía mình, ngồi xuống quay mặt ra cửa. Ông làm việc đó một cách có chủ ý, ngả lưng ra phía sau và quan sát căn phòng. Ông đột nhiên cảm thấy nó trở thành một nơi kỳ quặc, một chốn xa lạ vì hầu hết đồ đạc đều đã được chuyển đến Arrakis. Còn lại một cái bàn tập luyện, tấm gương chắn với các lăng kính pha lê đứng lặng yên, cái hình nộm làm mục tiêu bên cạnh nó được độn và vá víu, trông như người bộ binh già khọm bị thương tật và bầm dập trong chiến trận. Ấy là ta đó, Hawat nghĩ. “Thufir, thầy đang nghĩ gì vậy?” Paul hỏi.

Hawat nhìn cậu bé. “Ta đang nghĩ là tất cả chúng ta sẽ sớm rời khỏi đây và có lẽ không bao giờ còn trông thấy nơi này nữa.” “Điều đó làm thầy buồn sao?” “Buồn ư? Vớ vẩn! Chia tay người thân mới đáng phải buồn. Nơi ở chỉ là nơi ở.” Ông liếc nhìn những tấm bản đồ trên bàn. “Arrakis chỉ là một nơi ở khác.” “Có phải cha ta bảo thầy đến kiểm tra ta không?” Hawat cau mặt - cậu bé quả là có con

mắt quan sát. Ông gật đầu. “Con nghĩ rằng nếu ông ấy thân chinh đến thì sẽ hay hơn, nhưng con phải biết là ông ấy rất bận. Ông ấy sẽ đến sau.” “Ta đang nghiên cứu những cơn bão ở Arrakis.” “Những cơn bão. Ta hiểu.” “Xem chừng chúng khá nguy hiểm.” “Dùng từ ấy thì nhẹ quá đấy: nguy hiểm. Những cơn bão đó mạnh dần lên trên suốt sáu, bảy ngàn cây số đồng bằng, hút bất cứ thứ gì tăng thêm sức công phá - lực coriolis, các cơn bão khác, bất cứ

thứ gì mang trong nó dù chỉ một chút xíu năng lượng. Chúng có thể di chuyển với tốc độ 700km/giờ, cuốn theo bất cứ cái gì lơi lỏng trên đường đi của chúng - cát, bụi, mọi thứ. Chúng có thể róc thịt khỏi xương và chẻ xương thành từng mảnh vụn.” “Tại sao họ không có hệ thống điều khiển thời tiết?” “Arrakis có nhiều vấn đề phức tạp, giá cả thì cao hơn, rồi còn chuyện bảo trì và những thứ tương tự nữa. Bọn Hiệp hội muốn bán hệ thống điều khiển vệ tinh với giá cắt cổ trong khi Gia tộc của phụ thân con lại không thuộc hàng những gia tộc

cực giàu. Con biết điều đó mà.” “Thầy đã nhìn thấy người Fremen bao giờ chưa?” Hôm nay trí óc của thằng bé hoạt động như tên bắn vậy, Hawat nghĩ. “Rất có thể ta đã nhìn thấy họ,” ông nói. “Khó mà phân biệt được họ với những người sống ở địa hào và vùng đầm lầy. Tất cả bọn họ đều mặc áo choàng rộng thùng thình. Ở khoảng cách gần, người họ bốc mùi đến thấu trời. Cái mùi đó tỏa ra từ những bộ quần áo họ mặc - có tên là ‘sa phục’ - chúng giữ lại nước từ chính cơ thể họ.”

Paul nuốt nước bọt, đột ngột nhận ra miệng mình ẩm ướt và nhớ đến một giấc mơ về cơn khát. Cậu cảm thấy buồn trước việc những người đó có lẽ quá thiếu nước đến độ họ phải tái chế hơi ẩm của cơ thể mình. “Nước ở đó phải quý lắm,” cậu nói. Hawat gật đầu, nghĩ: Có thể ta đang làm điều đó, giải thích rõ ràng cho cậu bé về tầm quan trọng của hành tinh này với vai trò là một kẻ thù. Thật điên rồ nếu dấn bước đến đó mà không ghi nhớ lời cảnh báo này trong tâm trí. Paul nhìn lên ô cửa trên trần, biết rằng

trời đã bắt đầu mưa. Cậu thấy sự ướt át đang lan tỏa trên lớp siêu kính màu xám. “Nước”, cậu nói. “Con sẽ được biết về mối quan tâm sâu sắc đối với nước,” Hawat nói. “Với tư cách con trai Công tước, con sẽ không bao giờ thiếu nước, nhưng con sẽ thấy sức ép của sự khát ở khắp xung quanh con.” Paul đưa lưỡi liếm môi, nhớ lại cái ngày cách đây một tuần và cuộc thử thách của Mẹ Chí tôn. Cả bà ta cũng đã nói về sự đói nước. “Ngươi sẽ biết về những bình nguyên

tang tóc,” bà ta nói, “về những sa mạc trơ trụi, những vùng đất hoang nơi không có gì sống được ngoài hương dược và loài sâu cát. Ngươi sẽ đổi màu hốc mắt để giảm bớt ánh chói chang của mặt trời. Nơi trú ẩn sẽ có nghĩa là một cái lỗ kín gió và khuất tầm nhìn. Ngươi sẽ phải đi bộ chứ không có tàu chim, không xe mặt đất hay cũng không có con vật nào cho ngươi cưỡi”. Và Paul bị lôi cuốn vì giọng nói của bà ta - trầm bổng và run run - hơn là vì những lời bà ta nói. “Khi ngươi sống trên Arrakis,” bà ta nói, “khala, đất đai trơ trụi. Các vầng trăng

sẽ là bạn ngươi, mặt trời là kẻ thù của ngươi.” Paul cảm thấy mẹ đã rời khỏi vị trí gác cửa đến bên cậu. Nàng nhìn Mẹ Chí tôn hỏi: “Mẹ không thấy chút hy vọng nào sao, thưa Mẹ Chí tôn?” “Cho người cha thì không.” Và bà lão vẫy tay ra hiệu cho Jessica im lặng, rồi nhìn xuống Paul. “Hãy khắc ghi điều này vào trí nhớ, hỡi chàng trai: Một thế giới được chống đỡ bằng bốn thứ...” Bà ta giơ bốn ngón tay có những đốt to sụ lên, “... hiểu biết của kẻ thông thái, công lý của kẻ vĩ đại, lời cầu nguyện của kẻ công chính và chí can trường của kẻ dũng.

Nhưng tất cả những thứ đó chẳng là gì...” Bà ta gập các ngón tay lại thành quả đấm, “... nếu không có một người trị vì biết thuật cai trị. Hãy lấy điều đó làm khoa học về truyền thống của ngươi!” Một tuần lễ đã qua kể từ ngày gặp Mẹ Chí tôn. Mãi đến bây giờ cậu mới bắt đầu hiểu đầy đủ ý nghĩa điều bà ta nói. Lúc này, ngồi trong phòng tập luyện cùng Thufir Hawat, Paul cảm thấy một nỗi sợ đến nhói tim. Cậu nhìn vẻ mặt nghiêm trang rối bời của vị Mentat. “Con đã để tâm trí đi đâu vậy?” Hawat hỏi.

“Thầy đã gặp Mẹ Chí tôn chưa?” “Người Nói Sự thật, cái mụ phù thủy đến từ Đế quốc á?” Mắt Hawat sinh động hẳn lên vì thích thú. “Ta đã gặp mụ rồi.” “Bà ta...” Paul ngập ngừng, nhận ra mình không thể kể cho Hawat nghe về cuộc thử thách. Sự ức chế quá sâu sắc. “Sao hả? Bà ta đã làm gì?” Paul hít hai hơi thở sâu. “Bà ta nói một chuyện.” Cậu nhắm mắt, cố nhớ lại những lời Mẹ Chí tôn nói, và khi cậu lên tiếng, giọng cậu bất giác nhuốm phần nào giọng điệu của bà lão: “‘Ngươi, Paul

Atreides, hậu duệ của các vị quân vương, con trai một Công tước, ngươi phải học cách cai trị. Đó là điều mà chưa một tổ tiên nào của ngươi từng học.’ ” Paul mở mắt, nói: “Câu nói đó khiến ta nổi giận, và ta bảo rằng cha ta cai trị cả một hành tinh. Vậy là bà ta nói: ‘Ông ta đang đánh mất nó’. Ta liền nói cha ta sắp có một hành tinh giàu có hơn. Thì bà ta nói: ‘Ông ta cũng sẽ mất nốt nó.’ Vậy là ta muốn chạy đi cảnh báo cho cha, nhưng bà ta liền nói cha ta đã được cảnh báo rồi - từ thầy, từ mẹ ta, từ nhiều người.” “Đúng vậy,” Hawat lẩm bẩm.

“Thế tại sao chúng ta lại đi?” Paul hỏi. “Bởi Hoàng đế ra lệnh vậy. Và bởi vì vẫn còn hy vọng, cho dù mụ gián điệp￾phù thủy kia có nói gì đi nữa. Cái nguồn suối thông thái già khọm ấy còn phun ra cái gì khác không?” Paul nhìn xuống bàn tay phải của cậu đang siết lại thành nắm đấm dưới bàn. Chậm rãi, cậu ra lệnh cho các cơ thư giãn. Bà ta đã điều khiển ta bằng cách nào đó, cậu nghĩ. Bằng cách nào? “Bà ta bảo ta nói cho bà ta nghe cai trị nghĩa là gì,” Paul nói. “Và ta nói cai trị nghĩa là ra lệnh. Bà ta liền nói, có những

cái ta đã học nhưng bây giờ cần phải quên đi.” Ở điểm ấy thì mụ ta nói đúng lắm, Hawat nghĩ. Ông gật đầu ra hiệu cho Paul tiếp tục. “Bà ta nói một nhà cai trị phải học cách thuyết phục chứ không phải ép buộc. Bà ta nói, nhà cai trị phải bày bàn cà phê ngon nhất để thu hút những người giỏi nhất.” “Mụ ta cho rằng cha của con đã thu hút những người như Duncan và Gurney bằng cách nào chứ?” Hawat hỏi.

Paul nhún vai. “Thế rồi bà ta nói một nhà cai trị tốt phải học được ngôn ngữ của thế giới của anh ta, mà mỗi thế giới thì có một ngôn ngữ khác nhau. Ta cho rằng ý bà ta là người ta không nói tiếng Galach trên Arrakis, nhưng bà ta lại nói khác hẳn. Bà ta nói bà ta muốn nhắc đến ngôn ngữ của đá và những thứ đang phát triển, cái ngôn ngữ mà nếu chỉ dùng tai thì sẽ không nghe thấy được. Ta liền nói đó là cái mà bác sĩ Yueh gọi là Bí ẩn của Sự sống.” Hawat cười tủm tỉm. “Nói thế có hợp ý bà ta không?” “Ta nghĩ bà ta điên rồi. Bà ta nói bí ẩn

của sự sống không phải một bài toán cần giải, mà là một thực tại cần trải nghiệm. Ta liền nhắc lại Luật Thứ nhất của Mentat cho bà ta nghe: ‘Không thể thấu hiểu một quá trình bằng cách bắt nó ngừng lại. Sự thấu hiểu phải di động cùng dòng chảy của quá trình đó, phải hòa vào nó và chảy cùng nó.’ Hình như câu nói đã làm bà ta hài lòng.” Có vẻ như cậu ta đang vượt qua được điều đó, Hawat nghĩ, nhưng mụ phù thủy già kia đã khiến cậu ta khiếp sợ. Tại sao mụ ta làm thế? “Thufir này,” Paul nói, “liệu Arrakis có tệ như bà ta nói không?”

“Làm gì có chuyện tệ đến thế,” Hawat nói và gượng cười. “Đám Fremen kia chẳng hạn; cái dân sa mạc sống ngoài vòng pháp luật ấy. Chỉ cần phân tích sơ bộ thôi ta cũng có thể cho con biết, những người ấy đông hơn, đông hơn rất nhiều so với Đế quốc thường nghĩ. Người ta sống ở đấy, con ạ: rất nhiều người, và...” Hawat đặt một ngón tay gân guốc lên bên cạnh mắt, “... họ căm thù bọn Harkonnen đến tận xương tủy. Con không được hở một lời nào về chuyện này đâu đấy nhé, cậu bé. Ta nói cho con chỉ vì ta là trợ thủ cho cha con thôi.” “Cha đã nói với ta về Salusa Secundus,”

Paul nói. “Thầy biết không, Thufir, nó nghe rất giống Arrakis... có thể không tệ đến mức ấy, nhưng rất giống.” “Chúng ta không thực sự biết Salusa Secundus hiện nay ra sao,” Hawat nói. “Chúng ta chỉ biết về tình hình của nó từ lâu lắm rồi... gần như biết. Song những gì ta biết... về điểm ấy thì con nói đúng.” “Người Fremen sẽ giúp chúng ta chứ?” “Cũng có thể.” Hawat đứng dậy. “Hôm nay ta lên đường đến Arrakis. Trong lúc đó thì con hãy bảo trọng vì một lão già vốn yêu quý con, được chứ hả? Hãy đến đây như một cậu bé ngoan và ngồi quay

mặt ra cửa đi nào. Không phải ta nghĩ có mối nguy hiểm nào đó trong lâu đài này; đó chẳng qua chỉ là một thói quen mà ta muốn con phải tập dần.” Paul đứng dậy, đi vòng qua chiếc bàn. “Thầy đi hôm nay sao?” “Hôm nay, còn con sẽ đi vào ngày mai. Lần gặp gỡ tiếp theo của thầy trò ta sẽ là tại mảnh đất trên thế giới mới của con.” Ông nắm chặt bắp tay phải của Paul. “Hãy để tay dao của con thật uyển chuyển, nhé? Còn tấm khiên của con thật chắc chắn.” Ông thả tay, vỗ nhẹ vào vai Paul rồi xoay người đi nhanh ra cửa.

“Thufir!” Paul gọi. Hawat quay lại, đứng ở ngưỡng cửa mở. “Đừng ngồi quay lưng ra bất kỳ cánh cửa nào,” Paul nói. Một nụ cười rạng rỡ bừng lên trên khuôn mặt già nua nhăn nheo. “Ta sẽ không ngồi như vậy đâu, cậu bé. Cứ tin đi.” Và ông đi ra, khẽ khàng khép cánh cửa lại sau lưng. Paul ngồi xuống chỗ Hawat vừa ngồi, sắp xếp đống giấy tờ. Ở đây thêm một ngày nữa, cậu nghĩ. Cậu nhìn quanh phòng.Chúng ta đang ra đi. Ý nghĩ về

sự ra đi đột ngột hiện lên rõ mồn một hơn bao giờ hết. Cậu hồi tưởng lại một câu chuyện khác mà bà lão đã nói về việc thế giới là tổng hòa của nhiều thứ - con người, cát bụi, những thứ đang phát triển, những mặt trăng, những con nước, những mặt trời - cái tổng không ai biết, được gọi là tự nhiên, một bản tổng kết mơ hồ không có chút cảm thức nào về hiện tại. Cậu tự hỏi: Hiện tại là cái gì? Cánh cửa trước mặt Paul mở bung ra và một người đàn ông xấu xí lặc lè bước vào, tay bê cả lô vũ khí. “Này, Gurney Halleck,” Paul gọi, “Thầy là thầy giáo mới dạy về vũ khí đấy à?”

Halleck đá một gót chân đóng cánh cửa lại. “Ta biết con thích ta đến để chơi game hơn,” ông nói. Ông quét mắt khắp phòng, nhận thấy người của Hawat đã đến đây và đã kiểm tra kỹ lưỡng để bảo đảm nó an toàn đối với người thừa kế của Công tước. Những ký hiệu mã hóa tinh vi nhan nhản xung quanh. Paul quan sát người đàn ông xấu xí đang lắc lư kia lùi lại, mang theo đống vũ khí nặng trĩu chuyển hướng về phía bàn tập luyện, cậu nhìn cây đàn baliset chín dây đeo trên vai Gurney với chiếc móng gảy cài vào những dây đàn gần đầu cần phím.

Halleck thả vũ khí xuống bàn tập, xếp chúng thẳng hàng - nào kiếm mỏng, dao găm, đoản kiếm hai lưỡi, súng bắn phi tiêu, thắt lưng đeo khiên. Vết sẹo ở quai hàm do bị quất roi nho mực nhăn nhúm lại khi ông xoay cổ, ném một nụ cười ngang qua phòng. “Vậy là con thậm chí còn không chào ta đấy, đồ tiểu quỷ,” Halleck nói. “Mà con đã cắm cái ngạnh nào vào lão già Hawat thế? Lúc ở hành lang, ông ta phóng qua ta cứ như một người đang chạy đến đám tang của kẻ thù vậy.” Paul toét miệng cười. Trong tất cả số cận vệ của cha mình, cậu thích Gurney

Halleck nhất, hiểu được tính tình và sự tinh quái của ông, sự hài hước của ông, và nghĩ về ông với tư cách một người bạn hơn là một thanh kiếm được thuê. Halleck tháo cây đàn baliset ra khỏi vai rồi bắt đầu gảy. “Nếu ngươi không nói, thế nghĩa là ngươi không nói,” ông thốt lên. Paul đứng dậy, tiến lên phía trước, kêu to: “Được rồi, Gurney, có phải chúng ta đang chuẩn bị chơi nhạc trong giờ học chiến đấu không?” “Hôm nay mà nói thế với người lớn tuổi thì thật hỗn xược đấy,” Halleck nói. Ông

thử một dây trên nhạc cụ, gật đầu. “Duncan Idaho đâu?” Paul hỏi. “Chẳng phải anh ta có nhiệm vụ dạy ta về các loại vũ khí sao?” “Duncan đã dẫn đầu đoàn người đi Arrakis đợt hai rồi,” Halleck nói. “Con chỉ còn lại có mỗi lão già Gurney tội nghiệp vừa chinh chiến trở về và đang háo hức được chơi nhạc này thôi.” Ông gảy một dây đàn khác, lắng nghe, mỉm cười. “Và hội đồng đã quyết định rằng con là một chiến binh tồi nên tốt nhất chúng ta sẽ dạy con chơi nhạc để con không phí phạm cả đời mình.”

“Vậy thì tốt hơn có lẽ thầy nên hát tặng ta một bài,” Paul nói. “Ta muốn biết chắc làm thế nào ta không phí phạm cả đời mình.” “Ha-ha-ha!” Gurney cười to và phổ nhạc bài “Các cô gái Galacia,” chiếc móng gảy ẩn hiện lờ mờ trên các dây đàn khi ông hát: “Ôi-i-i-i, các cô gái Galacia Sẽ làm thế vì ngọc, Còn Arrakeen vì nước! Nhưng nếu bạn muốn đàn bà

Như lửa ngùn ngụt cháy Thử một nường con gái Caladan xem!” “Cái tay xấu xí thế kia cùng với móng gảy mà chơi được như thế thì cũng không tệ,” Paul nói, “nhưng nếu mẹ ta nghe thầy hát một bài tục tĩu như thế trong lâu đài, bà ấy sẽ găm tai thầy lên tường bên ngoài để trang trí đấy.” Gurney kéo tai trái lên. “Dùng cái này mà trang trí thì cũng xấu nốt, nó đã bị thâm tím quá nhiều do phải kề vào lỗ khóa lắng nghe một cậu bé mà ta quen biết luyện tập vài bài hát lạ trên cây

baliset của mình.” “Vì thế mà thầy đã quên mất tìm thấy cát trên giường mình là thế nào,” Paul nói. Cậu kéo một chiếc thắt lưng đeo tấm chắn từ trên bàn, cài chặt quanh eo. “Nào, giao đấu thôi!” Halleck mở to mắt làm ra vẻ ngạc nhiên. “Ái chà chà! Chính bàn tay xấu xa của con khiêu chiến đấy nhé! Hôm nay thì tự bảo vệ mình đi, cậu bé - bảo vệ mình đi.” Ông chộp lấy thanh kiếm mỏng, chém vào không khí. “Ta là quỷ sứ, chiến đấu để trả thù đây!” Paul nâng thanh kiếm lên, uốn cong bằng

cả hai tay, đứng theo thế aguile, một chân đặt lên trước. Cậu để tư thế của mình ra bộ uy nghiêm nhại theo bác sĩ Yueh. “Cha ta cử đến cho ta một tay dạy về vũ khí mới đần độn làm sao chứ,” Paul nói. “Tay Gurney Halleck đần độn này đã quên béng bài học đầu tiên cho một người giao chiến được trang bị vũ khí và tấm chắn bảo vệ rồi.” Paul bấm đánh tách chiếc nút lực nơi thắt lưng, cảm thấy trên trán và sau lưng mình cái gờn gợn ran ran của trường bảo vệ, những âm thanh bên ngoài trở nên vô âm sắc, cái vô âm sắc đặc trưng khi bị lọc qua tấm chắn. “Trong cuộc giao chiến có dùng tấm chắn, để phòng thủ người ta di

chuyển nhanh, để tấn công người ta di chuyển chậm,” Paul nói. “Đòn công trực diện có mục đích duy nhất là nhử đối phương hành động sai lầm, lừa hắn vào đòn công hiểm. Tấm chắn gạt được cú đánh nhanh, dính phải đoản kiếm chậm.” Paul chộp thanh kiếm mỏng, ra một đòn nhử nhanh rồi rụt kiếm về để thọc một nhát chậm nhưng đúng lúc vào chỗ hớ hênh trên tấm chắn của đối phương. Halleck quan sát hành động của cậu, xoay người đúng vào phút chót để mũi kiếm cùn sượt qua ngực ông. “Nhanh lắm, giỏi lắm,” ông nói. “Nhưng con đã để lộ người quá nhiều, coi chừng bị một cú phản đòn lén lút bằng một lưỡi dao

con đấy.” Paul lùi lại, thất vọng. “Lẽ ra ta phải đét đít con vì sự bất cẩn đó,” Halleck nói. Ông nhấc một thanh đoản kiếm tuốt trần ở trên bàn, giơ nó lên. “Nếu trong tay kẻ thù, cái này có thể làm con đổ máu đấy! Con là một học trò xuất sắc, không ai vượt qua được, nhưng ta đã cảnh cáo con là dù có đấu chơi đi nữa con cũng không được để một ai trong đội bảo vệ của con nắm cái chết trong tay hắn.” “Chắc hôm nay ta không có tâm trạng chiến đấu,” Paul nói.

“Tâm trạng?” Giọng Halleck để lộ sự giận dữ ngay cả khi đã qua bộ lọc của tấm chắn. “Tâm trạng thì liên quan quái gì chứ? Con chiến đấu khi cần phải chiến đấu, tâm trạng tâm triết chẳng là cái gì hết! Tâm trạng là thứ chỉ dành cho những kẻ đáng khinh đang làm tình hoặc chơi baliset mà thôi. Nó không dành cho chiến đấu.” “Ta xin lỗi, Gurney.” “Con không thực sự hối lỗi!” Halleck kích hoạt tấm chắn của mình, cúi xuống, tay trái chìa đoản kiếm hai lưỡi

ra phía trước, tay phải giơ cao thanh kiếm mỏng. “Giờ thì ta nói con hãy tự vệ đi, nói thật đấy!” Ông nhảy vọt sang một bên, sau đó tiến lên phía trước, giận dữ tấn công dồn dập. Paul ngả về phía sau, đỡ đòn. Cậu cảm thấy trường bảo vệ kêu răng rắc khi đường viền hai tấm chắn chạm nhau rồi đẩy nhau ra, có cảm giác ran ran khi dòng điện tiếp xúc dọc theo da cậu. Cái gì đã nhiễm vào Gurney vậy? Cậu tự hỏi. Ông ấy không giả bộ đánh như thế! Paul lắc tay trái, thả con dao găm đựng trong chiếc bao ở cổ tay rơi vào lòng bàn tay.

“Con thấy phải cần thêm một lưỡi dao nữa, hả?” Halleck làu bàu. Đây có phải sự phản bội không? Paul tự hỏi. Gurney thì chắc chắn không! Họ đánh nhau khắp quanh phòng - đâm và đỡ, nhử và phản công đòn nhử. Không khí trong những màn bong bóng bảo vệ trở nên nặng mùi bởi nhu cầu hít thở của hai người đã khiến sự trao đổi chậm chạp dọc mép rào chắn không kịp bổ sung không khí. Sau mỗi lần va chạm mới của các tấm chắn, mùi ôzôn càng thêm nồng nặc. Paul tiếp tục lùi lại, nhưng lúc này cậu

chủ ý rút lui về phía bàn tập. Nếu nhử được ông ấy lại gần bàn, ta sẽ trình diễn cho ông ấy xem một đòn gài bẫy, Paul nghĩ. Thêm một bước nữa nào, Gurney. Halleck tiến một bước. Paul hướng gươm đỡ phía dưới, xoay người, nhìn thấy thanh kiếm mỏng của Halleck chạm vào mép bàn. Paul ném người sang một bên, thọc gươm lên cao và lia dao găm qua đường viền cổ áo của Halleck. Paul dừng mũi dao khi nó chỉ cách động mạch cổ của Halleck vỏn vẹn hai xăng ti mét.

“Đây là cái thầy tìm kiếm phải không?” Paul thì thầm. “Nhìn xuống đi, cậu bé,” Gurney hổn hển. Paul làm theo, thấy thanh đoản kiếm hai lưỡi của Halleck đâm dưới mép bàn, mũi dao gần như chạm vào háng Paul. “Lẽ ra chúng ta đã chết cùng nhau,” Halleck nói. “Nhưng ta thừa nhận là khi bị dồn ép thì con đánh có tốt hơn một chút. Dường như con bắt đầu có tâm trạng rồi đấy.” Và ông toét miệng cười như chó sói, vết sẹo vì roi nho mực lồi lên dọc quai hàm.

“Xem cái cách thầy xông vào ta kìa,” Paul nói. “Thầy thực sự muốn lấy máu ta sao?” Halleck thu thanh đoản kiếm hai lưỡi lại, đứng thẳng lên. “Nếu con đánh dưới khả năng của mình một chút thôi thì ta đã rạch cho con một đường đẹp mắt, một vết sẹo mà con sẽ nhớ đời. Ta sẽ không để đứa học trò ta cưng nhất thất bại trước tên Harkonnen đầu tiên tình cờ xuất hiện đâu.” Paul cho tấm chắn của mình ngừng hoạt động, tựa vào bàn, nín thở. “Ta đáng bị như thế, Gurney ạ. Nhưng nếu thầy làm

đau ta thì cha ta sẽ nổi giận đó. Ta sẽ không để thầy bị trừng phạt vì lỗi của ta.” “Về chuyện đó thì cả ta cũng có lỗi,” Halleck nói. “Và con không cần bận tâm về một hai cái sẹo lĩnh phải khi tập luyện. May cho con là con có rất ít sẹo. Còn về cha con, Công tước sẽ chỉ trừng phạt ta nếu ta không thể làm cho con trở thành một chiến sĩ hạng nhất. Và lẽ ra ta đã thất bại nếu không giải thích được cho con sự sai trái trong cái thứ tâm trạng mà con vừa đột ngột có được kia”. Paul thẳng người lên, đút trả dao găm vào chiếc bao ở cổ tay.

“Ở đây chúng ta không hẳn là chỉ đánh chơi đâu,” Halleck nói. Paul gật đầu. Cậu cảm thấy ngạc nhiên trước sự nghiêm trang ít thấy trong cung cách của Halleck và vẻ tập trung đầy cảnh tỉnh ở ông. Cậu nhìn vết sẹo vì roi nho mực màu củ cải trên quai hàm ông, nhớ lại câu chuyện kể rằng vết sẹo đó do Rabban Thú dữ ở một khu nô lệ Harkonnen trên hành tinh Giedi Prime để lại. Và đột nhiên Paul thấy xấu hổ vì đã nghi ngờ Halleck dù chỉ trong một khoảnh khắc. Rồi Paul chợt nảy ra ý nghĩ rằng vết sẹo của Halleck đã được tạo ra kèm theo sự đau đớn - một sự đau đớn

có lẽ cũng dữ dội như nỗi đau do Mẹ Chí tôn gây ra. Cậu gạt ý nghĩ này sang một bên; nó làm thế giới của họ trở nên lạnh lẽo. “Con nghĩ hôm nay con muốn chơi vài trò vui,” Paul nói. “Thời gian gần đây toàn thấy những chuyện quan trọng.” Halleck quay đi để giấu cảm xúc của mình. Đôi mắt ông bùng cháy một điều gì đó. Có một nỗi đau trong ông - giống như một vết bỏng, tất cả những gì còn lại của một quá khứ đã mất nào đó mà Thời gian đã tước khỏi ông. Cậu bé này phải gánh lấy tuổi trưởng

thành sớm biết bao, Halleck nghĩ. Cậu phải đọc quá sớm cái bản mẫu đó trong tâm trí, bản giao kèo về sự cẩn trọng tàn bạo đó, để điền điều cần thiết vào dòng cần thiết: “Hãy liệt kê họ hàng thân thiết nhất của bạn.” Halleck nói mà không quay đầu lại: “Ta cảm nhận được trò vui trong con, cậu bé, và ta không thích gì hơn là được tham gia trò vui đó. Nhưng không thể chơi thêm hơn nữa. Ngày mai chúng ta đi Arrakis rồi. Arrakis là có thật. Bọn Harkonnen là có thật.” Paul giữ thẳng đứng thanh kiếm mỏng, cho lưỡi kiếm chạm vào trán.

Halleck quay người, nhận ra kiểu chào, liền gật đầu đáp lại. Ông ra hiệu về phía người nộm dùng để luyện tập. “Bây giờ chúng ta sẽ luyện để nâng cao khả năng chọn thời điểm của con. Hãy để ta xem con đánh nhau với cái vật nguy hiểm này. Ta sẽ điều khiển nó từ đằng kia, ở chỗ ta có thể nhìn bao quát trận đánh. Và ta báo trước cho con biết, hôm nay ta sẽ thử những đòn phản công mới đấy. Nếu là kẻ thù thực sự thì sẽ không cảnh báo cho con như thế này đâu.” Paul kéo căng ngón chân để làm thư giãn

các cơ. Cậu cảm thấy nghiêm túc hơn khi bất ngờ nhận ra cuộc sống của mình đã trở nên đầy ắp những thay đổi mau lẹ. Cậu đi về phía người nộm, ấn mũi kiếm vào cái nút trên ngực nó và cảm nhận được trường bảo vệ đẩy lưỡi kiếm của cậu ra. “En garde!” Halleck hô to, và người nộm tấn công dồn dập. Paul kích hoạt tấm chắn bảo vệ, tránh đòn và phản công. Halleck vừa quan sát vừa dùng tay thao tác trên bộ điều khiển. Trí óc ông như chia ra làm hai: nửa này tỉnh táo nghĩ ra

những chiêu thức cần thiết cho trận đấu tập, nửa kia lan man trong tiếng vo vo như của lũ ruồi. Ta là một cây ăn quả được uốn nắn tốt, ông nghĩ. Đầy những cảm xúc và khả năng được trui rèn cẩn thận, tất cả được ghép lên mình ta - và ta cứ mang chúng mãi để ai đó đến mà hái chúng. Vì lý do nào đó, ông nhớ lại em gái mình, khuôn mặt tinh nghịch của bà hiện rõ mồn một trong tâm trí ông. Nhưng giờ đây bà đã chết, trong một nhà nghỉ dành cho quân đội Harkonnen. Xưa kia bà yêu hoa păng xê... hay hoa cúc nhỉ? Ông không nhớ được. Ông cảm thấy buồn bực

vì không nhớ được. Paul đỡ một đòn tạt chậm của tên người nộm, vung tay trái ra đòn entretisser. Cái đồ quỷ nhỏ sáng dạ này! Halleck vừa chăm chú theo dõi những cử động đan xen của tay cậu bé vừa nghĩ. Cậu ta đã tự mình rèn luyện và nghiên cứu. Đây không phải phong cách của Duncan, và chắc chắn không phải do mình dạy. Ý nghĩ này chỉ làm tăng thêm nỗi buồn trong lòng Halleck. Mình nhiễm tâm trạng rồi, ông nghĩ. Và ông bắt đầu tự hỏi về Paul, liệu cậu bé có bao giờ lắng

nghe một cách đầy sợ hãi cái gối mình giần giật trong đêm tối hay không. “Nếu những điều ước là cá thì ai cũng đều quăng lưới,” ông lẩm bẩm. Đó là cách nói của mẹ ông và ông luôn dùng đến nó mỗi khi cảm thấy cái màn đen của ngày mai bao phủ lên người mình. Rồi ông nghĩ, câu này nghe mới kỳ quặc làm sao nếu đem đến một hành tinh vốn chưa bao giờ biết đến biển cả hay cá mú.

YUEH (yü), Wellington (welling-tun), 10.082 - 10.191 Năm Chuẩn; bác sĩ trường Suk (tốt nghiệp 10.112 Năm Chuẩn), vợ: Wanna Marcus, Bene Gesserit (10.092 - 10.186? Năm Chuẩn), chủ yếu được nhắc tới với tư cách kẻ phản bội Công tước Leto Atreides (Xem: Tiểu sử, Phụ lục VII [Tối thượng Y pháp] và Kẻ phản bội). - trích “Từ điển Muad’Dib” của Công chúa Irulan Mặc dù nghe thấy bác sĩ Yueh đi vào phòng tập, nhận ra bước chân thong thả

cứng nhắc của ông ta, Paul vẫn duỗi người nằm sấp trên chiếc bàn tập luyện nơi người xoa bóp đã để cậu lại. Cậu cảm thấy vô cùng nhẹ nhõm sau buổi tập cường độ cao với Gurney Halleck. “Trông con có vẻ thoải mái,” Yueh nói bằng chất giọng cao, bình thản của ông. Paul ngẩng đầu, thấy cái dáng cứng đơ của người đàn ông đứng cách cậu vài bước, liếc nhìn bộ quần áo màu đen nhàu nhĩ, cái đầu vuông vức với đôi môi đỏ tía và bộ ria rủ xuống, hình xăm kim cương của Tối thượng Y pháp trên trán ông, mái tóc đen dài giắt vào chiếc vòng bạc của Trường Suk đeo nơi vai trái.

“Con sẽ rất vui nếu biết hôm nay chúng ta không có thì giờ học hành như thường lệ,” Yueh nói. “Cha con sẽ đến ngay bây giờ.” Paul ngồi dậy. “Tuy nhiên, ta đã thu xếp để con xem một cuốn sách phim và học một vài bài trên đường đến Arrakis.” “Ồ.” Paul bắt đầu mặc quần áo. Cậu cảm thấy phấn khích vì cha cậu đang tới. Từ khi Hoàng đế hạ lệnh tiếp quản thái ấp

Arrakis, hai cha con có quá ít thời gian ở bên nhau. Yueh vừa đi về phía chiếc bàn hình chữ L vừa nghĩ: Mấy tháng gần đây thằng bé mới lớn nhanh làm sao. Thật lãng phí. Ôi, một sự lãng phí đáng buồn. Ông tự nhắc nhở mình: Ta không được dao động. Ta làm việc này là để đảm bảo Wanna của ta không bị lũ Harkonnen độc ác hành hạ nữa. Paul đến ngồi cùng ông ở bàn, cài cúc áo vest. “Con sẽ học gì trên đường đi?” “À-à-à-à, những dạng sống kiểu trái đất ở Arrakis. Có vẻ như hành tinh này đã

mở rộng tay tiếp nhận một số dạng sống kiểu trái đất. Không rõ bằng cách nào. Khi đến đó, ta phải tìm nhà sinh thái học hành tinh - tiến sĩ Kynes - và đề nghị được giúp ông ta nghiên cứu.” Và Yueh nghĩ: Ta đang nói gì vậy? Ta chơi trò giả nhân giả nghĩa ngay với chính mình sao. “Sẽ có gì đó về người Fremen chứ?” Paul hỏi. “Người Fremen?” Yueh gõ gõ ngón tay lên bàn, bắt gặp ánh mắt Paul đang nhìn chằm chằm vào hành động bồn chồn đó, liền rút tay lại.

“Có lẽ thầy nắm được điều gì đó về toàn bộ dân cư Arrakeen,” Paul nói. “Có chứ, chắc chắn rồi,” Yueh nói. “Về dân cư, họ thường được chia ra làm hai loại: người Fremen là một nhóm, còn nhóm kia gồm những người sống trong địa hào, vùng đầm lầy, và khu đất trũng. Có vài cuộc hôn nhân khác chủng tộc, ta nghe nói thế. Đàn bà vùng đầm lầy và khu đất trũng thích lấy chồng người Fremen; còn đàn ông xứ họ thích lấy vợ là người Fremen. Họ có một câu nói: ‘Lịch lãm đến từ thành phố; thông thái đến từ sa mạc.’ ”

“Thầy có ảnh của họ không?” “Ta sẽ xem có thể cho con biết được gì nào. Đặc điểm thú vị nhất, tất nhiên là mắt họ - toàn màu xanh nước biển, không có chút màu trắng nào.” “Do đột biến à?” “Không phải; nó liên quan đến sự bão hòa chất melange trong máu họ.” “Hẳn người Fremen phải gan dạ lắm mới sống ở rìa sa mạc.” “Theo thông tin thu thập được, họ làm thơ tặng những con dao của mình,” Yueh

nói. “Đàn bà hung dữ chẳng khác gì đàn ông. Thậm chí bọn trẻ Fremen cũng dữ tợn và nguy hiểm. Con sẽ không được phép giao tiếp với họ đâu, ta dám nói như thế.” Paul chằm chằm nhìn Yueh, tìm thấy trong đôi lời kể sơ sài về người Fremen đó một sức mạnh ngôn từ đã thu hút toàn bộ sự chú ý của cậu. Nếu thu phục được giống dân này làm đồng minh thì hay biết mấy! “Thế còn sâu thì sao?” Paul hỏi. “Cái gì?”

“Ta muốn tìm hiểu kỹ hơn về sâu cát.” “À-à-à, chắc chắn rồi. Ta có cuốn sách phim về một tiêu bản nhỏ, chỉ dài 110 mét, đường kính 22 mét. Người ta phát hiện ra nó ở vùng phía Bắc. Các nhân chứng đáng tin cậy cũng đã ghi chép về những con sâu dài hơn 400 mét, và có lý do để tin rằng có những con còn lớn hơn cả thế.” Paul liếc xuống tấm bản đồ sử dụng phép chiếu hình nón về vùng phía Bắc Arrakeen đang trải rộng trên mặt bàn. “Vành đai sa mạc và những vùng Cực Nam được đánh dấu là không thể ở được. Có phải do sâu không?”

“Cả bão nữa.” “Nhưng chỗ nào cũng có thể được cải tạo để làm nơi ở.” “Nếu khả thi về mặt kinh tế,” Yueh nói. “Arrakis có nhiều hiểm họa làm hao tiền tốn của.” Ông vuốt thẳng chòm râu. “Cha con sắp đến đây. Trước khi đi, ta có món quà dành cho con, một thứ ta đã tình cờ tìm được trong khi gói ghém đồ đạc.” Ông đặt một vật lên bàn, giữa hai người - màu đen, hình chữ nhật, không lớn hơn đầu ngón tay cái Paul. Paul nhìn nó. Yueh nhận thấy cậu bé

không với lấy món đồ, thầm nghĩ: Thằng bé mới thận trọng làm sao. “Nó là một cuốn Kinh thánh Toàn Nhân loại Màu Cam rất cổ dành cho người du hành không gian. Không phải sách phim, mà thật ra được in trên giấy làm bằng sợi. Nó có bộ phận phóng đại và hệ thống điện tích tĩnh điện.” Ông nhấc nó lên, giải thích. “Quyển sách được đóng lại nhờ điện tích, điện tích tạo ra lực hút giữa các trang sách và hai bìa sách có khóa lò xo. Con ấn vào mép, thế, và những trang con chọn sẽ đẩy lẫn nhau làm quyển sách mở ra.” “Sách nhỏ quá.”

“Nhưng dày tới 1800 trang cơ đấy. Con ấn vào mép sách - thế này, thế... cứ mỗi lần ấn thì điện tích lại chuyển đến trang sau trong khi con đọc. Đừng bao giờ chạm ngón tay vào trang sách. Giấy bằng sợi mỏng lắm.” Ông đóng quyển sách lại, đưa cho Paul. “Con thử đi.” Yueh nhìn Paul tập thao tác trên trang sách mà nghĩ: Ta xoa dịu lương tâm của mình. Ta trao cho cậu bé sự cáo chung của tôn giáo trước khi phản bội cậu. Làm vậy ta có thể tự bảo mình rằng cậu bé đã đi đến một nơi mà ta không thể đến.

“Chắc hẳn quyển sách này được làm ra trước khi có sách phim,” Paul nói. “Nó khá cổ rồi. Hãy coi nó là bí mật giữa chúng ta, nhé? Cha mẹ con sẽ nghĩ nó có giá trị quá lớn với một người còn trẻ thế.” Yueh nghĩ: Mẹ cậu bé chắc chắn sẽ muốn biết động cơ của ta. “Được rồi...” Paul đóng sách lại, cầm trong tay. “Nếu nó có giá trị đến thế...” “Con hãy thỏa mãn mong muốn của một lão già đi,” Yueh nói. “Nó được trao cho ta khi ta còn rất trẻ.” Và ông nghĩ: Ta

phải nắm bắt được tâm lý cũng như tính tham lam của cậu ta. “Hãy mở đến trang 467 Kalima - trong đó viết: ‘Mọi sự sống đều bắt đầu từ nước.’ Có một vết khía mảnh hình chữ V ở mép bìa sách để đánh dấu trang này.” Paul sờ vào bìa sách, phát hiện hai vết khía, một vết nông hơn vết kia. Cậu ấn vào vết nông hơn và quyển sách mở rộng trong lòng bàn tay cậu, bộ phận phóng đại của nó trượt vào trang này. “Đọc to lên,” Yueh nói. Paul đưa lưỡi liếm môi, đọc: “Hãy nghĩ đến sự thật rằng người điếc thì không thể

nghe thấy. Vậy, đâu là cái tật điếc mà chẳng phải tất cả chúng ta đều có? Chúng ta thiếu những giác quan gì để đến nỗi không nhìn hay nghe thấy cái thế giới khác bao quanh chúng ta? Có cái gì ở quanh chúng ta mà chúng ta không thể...” “Dừng lại!” Yueh quát. Paul sững lại, nhìn ông trân trối. Yueh nhắm mắt, đấu tranh để lấy lại bình tĩnh. Sự trớ trêu nào khiến cuốn sách mở đúng đoạn tâm đắc nhất của Wanna vợ ta? Ông mở mắt, thấy Paul đang trân trân nhìn ông.

“Có chuyện gì sao?” Paul hỏi. “Ta xin lỗi,” Yueh nói. “Đó là... đoạn mà người vợ đã chết của ta tâm đắc nhất. Đó không phải đoạn ta muốn con đọc. Nó gợi lên những kỷ niệm... đau thương.” “Có hai vết khía,” Paul nói. Tất nhiên, Yueh nghĩ. Wanna đã đánh dấu đoạn cô ấy thích. Ngón tay cậu bé nhạy cảm hơn ngón tay ta và đã tìm ra chỗ cô ấy đánh dấu. Đó là một sự ngẫu nhiên, không hơn. “Con có thể thấy quyển sách này khá thú vị,” Yueh nói. “Nó chứa nhiều sự thật

lịch sử cũng như triết lý đạo đức hay ho.” Paul nhìn xuống quyển sách tí hon trong lòng bàn tay - một vật mới nhỏ làm sao. Vậy mà, nó chứa một bí ẩn... một điều gì đó đã xảy ra trong lúc cậu đọc nó. Cậu cảm thấy một điều gì đó khuấy động cái mục đích kinh khủng của cậu. “Vài phút nữa cha con sẽ đến đây,” Yueh nói. “Cất cuốn sách này đi, khi nào rảnh thì đọc.” Paul ấn vào mép sách theo hướng dẫn của Yueh. Quyển sách tự đóng lại. Cậu nhét nó vào trong áo. Mãi một lúc sau

khi Yueh quát cậu, Paul vẫn sợ ông sẽ đòi lại cuốn sách. “Ta cám ơn thầy về món quà, Bác sĩ Yueh,” Paul nói, lời nói trang trọng. “Nó sẽ là bí mật giữa hai ta. Nếu thầy muốn ta tặng một món quà để tỏ lòng quý mến, xin thầy đừng ngại nói.” “Ta... không cần gì cả,” Yueh nói. Và ông nghĩ: Tại sao ta đứng ở đây để tra tấn mình? Và tra tấn cậu bé tội nghiệp này... mặc dù cậu bé không biết điều đó. Ôi! Bầy thú dữ Harkonnen khốn khiếp! Tại sao bọn chúng chọn ta để làm cái việc ghê tởm này cho

chúng?

Chúng ta tiếp cận việc nghiên cứu về cha của Muad’Dib như thế nào? Công tước Leto Atreides, một người nồng ấm khác thường và lạnh lùng cũng khác thường. Tuy nhiên, rất nhiều sự thật đã mở ra con đường tiếp cận vị Công tước này: tình yêu vĩnh cửu dành cho quý bà Bene Gesserit của ông; những giấc mơ ông gìn giữ cho đứa con trai; sự nhất tâm tận tụy của những người phụng sự ông. Ta thấy ông ở đó - một người bị Số phận giăng bẫy, một dáng hình cô độc với ánh sáng lu mờ bên cạnh hào quang của đứa con trai. Thế nhưng, người ta phải đặt câu hỏi: Cậu bé là cái gì

ngoài sự tiếp nối người cha? - trích “Muad’Dib, Ghi chú về gia đình” của Công chúa Irulan Paul nhìn cha đi vào phòng tập, thấy đội cận vệ đứng gác bên ngoài. Một cận vệ đóng cửa lại. Như thường lệ, Paul cảm thấy sựhiện diện của cha cậu, một người đang hoàn toàn ở đây. Ngài Công tước có dáng người cao, da màu ô liu. Khuôn mặt mỏng với những góc cạnh thô ráp chỉ được sưởi ấm nhờ đôi mắt xám sâu. Ông mặc đồng phục làm việc màu đen gắn phù hiệu con chim ưng đỏ trên ngực. Một thắt lưng đeo

khiên mạ bạc đã hoen gỉ do sử dụng nhiều quấn quanh cái eo thon của ông. Công tước nói: “Tập luyện vất vả chứ, con?” Ông đến bên chiếc bàn hình chữ L, liếc đám giấy tờ trên đó, quét cái nhìn khắp phòng rồi quay lại nhìn Paul. Ông cảm thấy mệt mỏi, tràn đầy nỗi đau bởi không được tỏ ra mệt mỏi. Trên đường đến Arrakis ta phải tận dụng mọi cơ hội để nghỉ ngơi, ông nghĩ. Ở Arrakis sẽ không có chuyện nghỉ ngơi. “Không vất vả lắm ạ,” Paul nói. “Mọi thứ rất...” Cậu nhún vai.

“Được lắm. Rất tốt, mai chúng ta sẽ lên đường. Mọi thứ sẽ trở nên tốt đẹp khi chúng ta định cư trên vùng đất mới, bỏ tất cả sự xáo trộn này lại đằng sau.” Paul gật đầu, bất ngờ bị xâm chiếm bởi ký ức về lời của Mẹ Chí tôn: “... còn người cha, không gì cứu được.” “Thưa cha,” Paul nói, “Arrakis có nguy hiểm như mọi người nói không?” Công tước buộc mình phải tỏ ra tự nhiên, ngồi xuống góc bàn, mỉm cười. Trong đầu ông hiện ra cả một khuôn mẫu cho cuộc nói chuyện này - cái kiểu nói

chuyện mà ông hay dùng để xua tan sự hoang mang của thuộc hạ trước một trận đánh. Cái khuôn mẫu này chưa được cất thành lời thì đã đóng băng lại khi phải đương đầu với ý nghĩ duy nhất: Đây là con trai ta. “Sẽ nguy hiểm,” ông thừa nhận. “Hawat nói với con là chúng ta có một kế hoạch đối với người Fremen,” Paul nói. Và cậu tự hỏi: Tại sao ta không nói với cha những điều bà lão nói? Làm cách nào mà bà ta niêm kín được lưỡi ta?

Công tước nhận thấy nỗi buồn bực của cậu con trai, liền nói: “Như thường lệ, Hawat nhìn ra cơ hội cốt yếu. Nhưng còn nhiều hơn nữa. Ta còn nhìn thấy bọn Combine Honnete Ober Advancer Mercantiles - Công ty CHOAM ấy. Bằng việc trao Arrakis cho ta, Hoàng thượng buộc phải trao cho chúng ta một chức giám đốc trong Công ty CHOAM... một món lợi tinh vi.” “CHOAM kiểm soát hương dược,” Paul nói. “Và Arrakis cùng hương dược của nó là con đường lớn dẫn chúng ta vào CHOAM,” Công tước nói. “CHOAM

còn có nhiều thứ nữa ngoài melange.” “Mẹ Chí tôn có cảnh báo cha không?” Paul buột miệng. Cậu siết chặt nắm tay, cảm thấy lòng bàn tay trơn tuột vì mồ hôi. Cần phải gắng sức biết bao để đưa ra câu hỏi đó. “Hawat nói với ta bà ấy đã làm con phát hoảng bởi những lời cảnh báo về Arrakis,” Công tước nói. “Đừng để những nỗi sợ hãi của một người đàn bà che phủ tâm trí con. Không người đàn bà nào muốn người thân của mình gặp nguy hiểm. Bàn tay ở phía sau những lời cảnh báo này là của mẹ con. Hãy coi đấy là biểu hiện tình yêu của mẹ dành cho cha

con mình.” “Thế mẹ có biết về người Fremen không?” “Có, và còn biết rất nhiều điều khác nữa.” “Gì cơ ạ?” Công tước nghĩ: Sự thật có thể còn tồi tệ hơn thằng bé tưởng tượng, nhưng thực tại dù nguy hiểm thì vẫn có giá trị nếu thằng bé đã được huấn luyện để đối phó với nó. Và có một nơi mà ở đó không cái gì được chừa lại cho con ta - đương đầu với thực tại nguy hiểm. Dù

vậy, ta vẫn phải làm cho chuyện này nhẹ nhõm đi một chút; thằng bé vẫn còn nhỏ. “Ít có sản phẩm nào thoát khỏi tầm tay của CHOAM,” Công tước nói. “Gỗ mới đốn, lừa, ngựa, bò, gỗ xẻ, phân thú, cá mập, da cá voi - từ thứ tầm thường nhất cho đến những của lạ phương xa... ngay cả gạo pundi kém phẩm chất từ Caladan của chúng ta. Bất cứ thứ gì Hiệp hội cũng vận chuyển, tác phẩm nghệ thuật của Ecaz, máy móc của Richesse và Ix. Nhưng tất cả đều lu mờ trước melange. Chỉ một nhúm hương dược là mua được một ngôi nhà ở Tupile. Không thể sản xuất hương dược mà chỉ có thể khai thác

nó ở Arrakis. Nó là thứ có một không hai và quả thực có đặc tính kéo dài tuổi thọ.” “Và bây giờ chúng ta kiểm soát nó?” “Ở mức độ nào đó. Nhưng điều quan trọng là phải tính đến tất cả các Gia tộc đang ăn theo lợi nhuận của CHOAM. Và hãy nghĩ đến việc một phần rất lớn số lợi nhuận này phụ thuộc vào độc một sản phẩm - hương dược. Thử tưởng tượng xem điều gì sẽ xảy ra nếu có một cái gì đó làm giảm sản lượng hương dược.” “Bất cứ ai dự trữ melange đều sẽ nhanh chóng kiếm được khối tiền,” Paul nói. “Những người khác sẽ bị cho ra rìa.”

Công tước tự cho phép mình được mãn nguyện một cách tàn nhẫn trong chốc lát, vừa nhìn cậu con trai vừa nghĩ: cái nhận xét đó mới sắc sảo, mới đầy học vấn làm sao chứ. Ông gật đầu: “Bọn Harkonnen đã tích trữ hương dược trên hai mươi năm rồi.” “Bọn họ định làm giảm sản lượng hương dược và cha sẽ phải chịu trách nhiệm.” “Họ muốn cái tên Atreides không được ai ngưỡng mộ nữa,” Công tước nói. “Hãy nghĩ về các gia tộc Landsraad vốn trông cậy ở cha như một người có ít nhiều khả năng lãnh đạo - người phát ngôn không

chính thức của họ. Thử nghĩ xem họ sẽ phản ứng thế nào nếu cha chịu trách nhiệm về việc thu nhập của họ giảm sút nghiêm trọng. Nói gì đi nữa, lợi nhuận cá nhân là trên hết. Cái Đại Hiệp định chết giẫm! Anh không được để cho bất cứ ai làm hao tổn lợi nhuận của anh!” Miệng Công tước méo xệch đi trong một nụ cười cay nghiệt. “Họ sẽ ngoảnh mặt làm ngơ, bất kể người ta làm cái gì với cha đi nữa.” “Ngay cả khi chúng ta bị tấn công bằng nguyên tử sao?” “Không trắng trợn đến thế đâu. Sẽ không ai công khai coi thường Hiệp định.

Nhưng ngoài điều đó ra thì hầu như làm gì cũng được... thậm chí có thể cả một trận đòn và đầu độc ít đất đai.” “Thế thì tại sao chúng ta vẫn dấn thân vào?” “Paul!” Công tước cau mày nhìn con. “Biết cái bẫy ở đâu, đó là bước đầu tiên để tránh nó. Nó giống như cuộc đấu tay đôi vậy, con trai ạ, chỉ có điều là trên quy mô lớn - một đòn nghi binh trong một đòn nghi binh trong một đòn nghi binh... cứ thế dường như bất tận. Nhiệm vụ là tháo gỡ nó ra. Biết bọn Harkonnen đang tích trữ melange, chúng ta hãy hỏi một câu khác: Còn ai tích trữ nữa? Đó là

danh sách kẻ thù của chúng ta.” “Ai?” “Một số Gia tộc mà chúng ta biết là chẳng thân thiện gì và một số mà chúng ta vẫn cho là thân thiện. Tạm thời chúng ta không cần xét tới họ vì còn một người khác quan trọng hơn gấp bội: Hoàng đế Padishah kính mến của chúng ta.” Paul cố nuốt nước bọt trong cái cổ họng đột nhiên khô khốc. “Cha không thể triệu tập Landsraad, vạch trần...” “Để kẻ thù biết chúng ta nắm được bàn tay nào đang cầm dao ư? Ái chà, bây

giờ, Paul ạ, bây giờ chúng ta thấy con dao. Nhưng ai mà biết rồi nó có thể được chuyển sang tay ai nữa chứ? Nếu chúng ta đưa chuyện này ra trước Landsraad, nó sẽ chỉ tạo ra một đám mây hỗn loạn mà thôi. Hoàng đế sẽ phủ nhận điều đó. Ai nói trái được ý ngài? Cái duy nhất chúng ta đạt được là chút ít thời gian trong khi phải liều lĩnh gây nên hỗn loạn. Thế rồi đòn tấn công kế tiếp sẽ từ đâu đến?” “Có thể tất cả các Gia tộc sẽ bắt đầu tích trữ hương dược.” “Các kẻ thù của chúng ta đã xuất phát trước... chúng đi trước quá xa đến nỗi

không cách gì vượt được.” “Hoàng đế.” Paul nói. “Điều đó có nghĩa là Sardaukar.” “Cải trang bằng cách ăn mặc như bọn Harkonnen, chắc chắn vậy,” Công tước nói. “Nhưng dù sao thì vẫn là những chiến binh cuồng tín.” “Làm sao người Fremen giúp ta chống bọn Harkonnen được?” “Hawat đã nói với con về Salusa Secundus chưa?” “Hành tinh giam giữ phạm nhân của

Hoàng đế phải không cha? Chưa ạ.” “Nếu nó không chỉ là một hành tinh giam giữ phạm nhân thì sao, hở Paul? Có một câu hỏi về Quân đoàn Hoàng gia Sardaukar mà con chưa từng nghe ai hỏi: Họ từ đâu đến?” “Từ hành tinh giam giữ phạm nhân?” “Họ đến từ một nơi nào đó.” “Nhưng còn quân yểm trợ mà Hoàng đế yêu cầu từ...” “Đó là điều người ta muốn chúng ta tin: rằng họ chỉ là quân đội của Hoàng đế,

tinh nhuệ và được đào tạo từ khi còn trẻ. Có những lúc con nghe người ta thì thầm về các chuyên viên huấn luyện của Hoàng đế, nhưng thế cân bằng của nền văn minh chúng ta vẫn là như vậy: một bên là lực lượng quân sự của các Đại gia tộc Landsraad, còn bên kia là Sardaukar và các đội quân yểm trợ của họ. Và các đội quân yểm trợ của họ, Paul ạ. Sardaukar thì vẫn là Sardaukar.” “Nhưng mọi báo cáo về Salusa Secundus đều nói rằng S.S. là địa ngục trần gian!” “Nhất định rồi. Nhưng nếu con muốn đào tạo những người mình đồng da sắt, mạnh mẽ và hung bạo, thì con sẽ buộc họ phải

ở trong điều kiện môi trường nào đây?” “Làm sao cha chiếm được lòng trung thành của những người như thế?” “Có những cách đã cho thấy là đúng đắn: lợi dụng sự hiểu biết nhất định về sức mạnh vượt trội của họ, bầu không khí thần bí của giao ước bí mật, tinh thần đồng cam cộng khổ. Có thể chiếm được chứ. Người ta đã làm được thế ở nhiều nơi, trong nhiều thời đại rồi.” Paul gật đầu, tập trung chú ý vào khuôn mặt cha. Cậu cảm thấy có một bí mật nào đó sắp được tiết lộ.

“Nghĩ đến Arrakis xem,” Công tước nói. “Nếu con ra khỏi các thành phố và làng mạc của lính đồn trú thì nơi đấy cũng kinh khủng chẳng khác gì Salusa Secundus.” Paul mở to mắt. “Người Fremen!” “Ở đó, chúng ta có tiềm năng xây dựng được một đội quân dũng mãnh và đáng sợ chẳng kém gì Sardaukar. Cần phải kiên nhẫn khai thác họ một cách bí mật, và phải đổ tiền đổ của để trang bị cho họ tới nơi tới chốn. Nhưng người Fremen có sẵn đó... mà tiền của nhờ hương dược thì cũng sẵn đó. Giờ thì con hiểu tại sao chúng ta vẫn tới Arrakis dù biết nơi đó

có cạm bẫy rồi đấy.” “Bọn Harkonnen không biết về người Fremen sao?” “Bọn Harkonnen cười nhạo người Fremen, săn đuổi họ để giải trí, thậm chí chưa bao giờ buồn đếm xem họ có bao nhiêu người. Chúng ta biết chính sách của nhà Harkonnen đối với cư dân hành tinh mà - chi càng ít tiền để nuôi họ thì càng tốt.” Những sợi kim loại trong biểu tượng chim ưng trên ngực cha cậu sáng lên lấp lánh khi Công tước đổi tư thế. “Con hiểu chứ?”

“Ngay lúc này chúng ta đang đàm phán với người Fremen,” Paul nói. “Ta đã cử một đoàn sứ giả do Duncan Idaho dẫn đầu,” Công tước nói. “Duncan, một con người kiêu ngạo và tàn nhẫn, nhưng yêu lẽ phải. Cha nghĩ người Fremen sẽ thích anh ta. Nếu chúng ta gặp may, họ sẽ đánh giá chúng ta thông qua Duncan: Duncan, con người phẩm hạnh.” “Duncan, con người phẩm hạnh,” Paul nói, “và Gurney, con người dũng cảm.” “Con đặt tên cho họ hay lắm,” Công tước nói.

Và Paul nghĩ: Gurney là một trong những người Mẹ Chí tôn nhắc đến, một người bảo vệ các thế giới - “... đức can trường của những người dũng cảm”. “Gurney bảo cha hôm nay con đã tập dùng vũ khí rất tốt,” Công tước nói. “Ông ấy không nói với con như vậy.” Công tước cười to. “Cha cho rằng Gurney là người kiệm lời khen. Ông ấy bảo con có một nhận thức tinh vi - nguyên văn lời ông ấy nói - về sự khác biệt giữa cạnh một lưỡi gươm và mũi nhọn của nó.”

“Gurney bảo giết người bằng mũi nhọn chẳng có gì là nghệ thuật hết; nếu giết thì phải dùng cạnh lưỡi gươm.” “Gurney vốn lãng mạn mà,” Công tước càu nhàu. Cái đề tài giết chóc do con trai ông khởi xướng đột nhiên khiến ông buồn bực. “Cha ước gì con không bao giờ phải giết người... nhưng nếu cần, con muốn dùng cách nào cũng được, dù bằng mũi hay cạnh.” Ông nhìn lên cửa sổ trên trần, nơi mưa đang gõ nhịp. Nhìn theo hướng ánh mắt chăm chú của cha, Paul nghĩ đến bầu trời ướt át ngoài kia - một thứ mà Arrakis không bao giờ

có, theo tất cả những gì cậu biết - và ý nghĩ về những bầu trời dẫn tâm trí cậu đến với không gian vũ trụ xa xa. “Tàu của Hiệp hội có lớn thật không ạ?” cậu hỏi. Công tước nhìn cậu. “Đây sẽ là lần đầu tiên con rời khỏi hành tinh,” ông nói. “Phải, tàu lớn lắm. Chúng ta sẽ đi trên một chiếc Đại thương thuyền bởi vì đường xa. Đại thương thuyền thì lớn thật. Toàn bộ tàu chiến và tàu vận chuyển quân dụng của chúng ta chất vào cũng chỉ chiếm một góc nhỏ trong khoang của nó - chúng ta sẽ chỉ là một phần nhỏ trong số hành khách hàng hóa của nó thôi.”

“Và chúng ta sẽ không thể rời khỏi các tàu chiến của mình sao?” “Đó là một

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 7

T
Trần Thế VIP 12· 10 phút trước

Truyện này đọc cuốn dã man! Đoạn cao trào xử lý quá mượt, đề cử ae đọc mạnh nhé.

L
Lâm Phong VIP 3· 1 giờ trước
⚠️ Bình luận có chứa Spoil (Bấm để xem)

Ai đọc rồi cho hỏi đoạn sau nhân vật chính có gặp lại sư phụ không vậy?

B
Bạch Tiểu Thuần· 3 giờ trước

Web đọc mượt thật sự, không có quảng cáo nhảy lung tung như mấy web khác. 10 sao!