phần của ý thức ông tập trung vào mệnh lệnh của Paul rằng cần phải tước vũ khí toán buôn lậu trước khi tiến hành thẩm vấn.
Tâm trí Gurney quay trở lại với cái lệnh đó khi ông nghe thấy vài thuộc hạ của mình phản đối. Ông lắc đầu, quay ngoắt lại. “Các anh điếc à?” ông quát. “Đây là vị Công tước hợp pháp trị vì Arrakis. Làm theo lệnh ngài đi.” Đám buôn lậu gầm gừ quy phục. Paul tiến lên cạnh Gurney, hạ giọng nói. “Ta không chờ đợi thầy bước thẳng vào cái bẫy này, Gurney ạ.” “Tôi đã bị trừng trị đích đáng,” Gurney nói. “Tôi dám cược rằng cái mảng hương dược này của các ngài chẳng dày hơn
một hạt cát, chẳng qua là miếng mồi nhử chúng tôi.” “Thế thì thầy thắng cược rồi,” Paul nói. Chàng nhìn xuống đám người đang bị tước vũ khí. “Trong đám quân của thầy còn ai khác từng là thuộc hạ của cha ta không?” “Không. Chúng tôi tản mác mỗi người một ngả. Có vài người ở chỗ các nhà buôn tự do. Hầu hết đã chi hết lợi nhuận của mình để rời bỏ nơi này.” “Nhưng thầy đã ở lại.” “Tôi ở lại.”
“Bởi Rabban vẫn đang ở đây,” Paul nói. “Tôi nghĩ tôi chẳng còn việc gì ngoài trả thù,” Gurney nói. Một tiếng kêu đứt đoạn lạ lùng vang lên từ phía đỉnh rặng đá. Gurney nhìn lên thì thấy một người Fremen đang vẫy khăn tay. “Một Ngài tạo đang đến,” Paul nói. Chàng tiến lên một mũi đá, nhìn về phía Tây Nam, Gurney bám theo sau. Có thể nhìn thấy cái ụ trông như hang đùn dưới đất của một con sâu ở khoảng cách vừa phải, một đường đội cát cắt thẳng qua
những đụn cát mà tiến về phía rặng đá. “Khá to đấy,” Paul nói. Một tiếng lách cách vang lên từ chỗ con bọ-xưởng khai thác bên dưới họ. Nó xoay mình trên các bánh xích như một con côn trùng khổng lồ, ì ạch tiến về phía những tảng đá. “Chúng ta không cứu được chiếc tàu thồ, thật dở quá,” Paul nói. Gurney liếc nhìn chàng, ngoái lại nhìn những vệt khói và đống mảnh vụn ngoài sa mạc nơi tàu thồ và những chiếc tàu chim đã bị tên lửa của người Fremen bắn
hạ. Ông chợt cảm thấy nhói lòng khi nghĩ tới những người đã chết ở đó - thuộc hạ của ông, và ông nói: “Cha của ngài hẳn sẽ quan tâm nhiều hơn tới những người ông ấy không cứu được.” Paul ném cho ông một cái nhìn nghiệt ngã, khiến ông cụp mắt xuống. Ngay sau đó, chàng nói: “Họ là bạn thầy, Gurney. Ta hiểu. Tuy nhiên với bọn ta, họ là những kẻ xâm phạm, có thể nhìn thấy những cái họ không nên thấy. Điều đó thầy phải hiểu.” “Tôi hiểu khá rõ,” Gurney nói. “Giờ thì tôi tò mò muốn thấy cái tôi không nên thấy.”
Paul ngước lên, nhìn thấy trên mặt Gurney nụ cười toe toét như chó sói mà chàng nhớ rõ, thấy nếp nhăn của vết sẹo vì cây nho mực hằn dọc quai hàm Gurney. Gurney gật đầu về phía sa mạc bên dưới họ. Người Fremen đang ai làm việc nấy khắp trên khu vực đó. Ông kinh ngạc nhận ra chẳng ai trong số họ tỏ ra bận tâm về chuyện sâu cát đang lại gần. Một tiếng thì thùng vang lên từ phía các đụn cát bên ngoài trảng hương dược dùng làm bẫy - một tiếng trống sâu thẳm, dường như nghe thấy được qua chân họ.
Gurney thấy người Fremen tản ra trên cát, ngay ở đó trên đường tiến của con sâu. Con sâu xuất hiện như một con cá răng lông khổng lồ, gồ lên trên bề mặt, các đốt thân của nó gợn sóng, xoắn vặn. Trong khoảnh khắc, từ điểm nhìn thuận lợi phía trên sa mạc, Gurney chứng kiến cảnh tóm bắt con sâu - cú nhảy táo bạo của người cầm móc đầu tiên, cú vặn mình của con vật, rồi cả toán người trèo lên mạn sườn uốn cong loang loáng vảy của con sâu. “Đó là một trong những thứ mà thầy không nên thấy,” Paul nói.
“Người ta có kể chuyện, có đồn đại,” Gurney nói. “Nhưng chừng nào chưa tận mắt thấy thì khó mà tin được.” Ông lắc đầu. “Con vật mà bất cứ ai ở Arrakis cũng đều khiếp sợ thì các ngài sử dụng làm vật cưỡi.” “Thầy đã nghe cha ta nói về quyền lực sa mạc,” Paul nói. “Nó đây. Bề mặt hành tinh này là của bọn ta. Không cơn bão nào, không sinh vật nào, không điều kiện nào ngăn nổi bọn ta.” Bọn ta, Gurney nghĩ. Ý cậu ta là người Fremen. Cậu ta nói về bản thân như thể là một trong số họ. Một lần nữa, Gurney nhìn màu xanh vì hương dược trong mắt
Paul. Mắt của chính ông, ông biết, cũng nhuốm màu đó, nhưng dân buôn lậu có thể kiếm được thức ăn từ thế giới bên ngoài, và có một hàm ý phân biệt đẳng cấp tế nhị giữa dân buôn lậu với nhau dựa theo sắc độ cặp mắt. Họ nói “nét cọ hương dược” để ám chỉ một người đã trở nên quá giống dân địa phương. Và luôn luôn có một gợi ý bóng gió về sự nghi ngờ trong câu nói đó. “Trước đây bọn ta không cưỡi Ngài tạo dưới ánh sáng ban ngày ở vùng này,” Paul nói. “Nhưng Rabban hiện còn quá ít không lực nên hắn không thể phí phạm nó vào việc tìm dăm ba dúm hương dược ở trong cát.” Chàng nhìn lên Gurney.
“Chiếc tàu của các người đã khiến cho bọn ta ở đây choáng váng.” Cho bọn ta... cho bọn ta... Gurney lắc đầu để gạt bỏ những ý nghĩ đó. “Sự choáng váng chúng tôi gây ra cho các ngài không bằng của các ngài gây ra cho chúng tôi đâu,” ông nói. “Ở các sink và làng mạc người ta nói gì về Rabban?” Paul hỏi. “Họ nói họ đã xây các làng graben kiên cố đến nỗi các ngài sẽ không làm hại họ nổi. Họ nói họ chỉ cần ngồi trong hầm bảo vệ trong khi các ngài tự làm hao mòn
lực lượng mình bởi cứ tấn công vô ích.” “Nói gọn, họ án binh bất động,” Paul nói. “Trong khi các ngài thì có thể đi đâu tùy thích,” Gurney nói. “Đó là một chiến thuật ta học được từ thầy,” Paul nói. “Họ đã mất quyền chủ động, nghĩa là họ đã thua trong cuộc chiến này.” Gurney mỉm cười, một nét biểu hiện chậm rãi, ra vẻ hiểu biết. “Kẻ thù của bọn ta ở đúng nơi ta muốn
hắn tới,” Paul nói. Chàng liếc nhìn Gurney. “Nào, Gurney, thầy có đầu quân cùng ta trong đoạn kết của chiến dịch này không?” “Đầu quân?” Gurney nhìn chàng đăm đăm. “Bẩm Chúa công, tôi chưa bao giờ thôi phụng sự ngài. Chính ngài mới là người khiến tôi... nghĩ rằng ngài đã chết. Và tôi, bị bỏ rơi, lang thang phiêu bạt, tôi thệ nguyện trung thành được với ai thì cứ thệ nguyện trung thành, trong khi đợi đến lúc có thể bán cuộc đời mình để lấy điều đáng giá với nó: cái chết của Rabban.” Một nỗi im lặng đầy bối rối xâm chiếm
lấy Paul. Một phụ nữ trèo lên các tảng đá về phía họ, đôi mắt lộ ra giữa mũ trùm của bộ sa phục và chiếc mặt nạ lọc liếc nhanh từ Paul sang người đang đứng cùng chàng. Nàng đứng lại trước mặt Paul. Gurney để ý đến vẻ sở hữu toát ra từ nàng, cung cách nàng đứng cạnh chàng. “Chani này, đây là Gurney Halleck,” Paul nói. “Em đã nghe anh kể về ông ấy.” Nàng nhìn Halleck, rồi nhìn lại Paul. “Em có nghe.” “Mấy người kia cưỡi Ngài tạo đi đâu?”
Paul hỏi. “Họ chỉ đánh lạc hướng nó để chúng ta có thì giờ cứu thiết bị.” “Vậy thì...” Paul ngừng lời, ngửi ngửi không khí. “Gió đang tới đấy,” Chani nói. Một giọng vang lên từ đỉnh rặng đá trên đầu họ. “Này, kìa - gió đấy!” Gurney thấy chuyển động của những người Fremen trở nên nhanh hơn - lăng xăng hơn, gấp gáp hơn. Sự xuất hiện của con sâu không kích động nổi họ như nỗi
sợ trước cơn gió. Con bọ-xưởng khai thác ì ạch trèo lên bãi đá khô bên dưới họ và một con đường đã được mở ra cho nó giữa những tảng đá... rồi các tảng đá khép lại đằng sau nó kín bưng đến nỗi mắt ông không nhìn ra được cái lối đi kia. “Các ngài có bao nhiêu nơi ẩn nấp như vậy?” Gurney hỏi. “Vô số,” Paul nói. Chàng nhìn Chani. “Tìm Korba đi. Bảo anh ta, Gurney đã cảnh báo anh rằng trong đám buôn lậu này có những người không đáng tin cậy.” Nàng nhìn nhanh sang Gurney, quay lại
Paul, gật đầu, rồi tụt xuống các tảng đá, nhảy thoăn thoắt như con sơn dương. “Cô ta là người đàn bà của ngài,” Gurney nói. “Mẹ của đứa con đầu lòng của ta,” Paul nói. “Có một Leto nữa trong gia tộc Atreides.” Gurney chấp nhận điều đó chỉ bằng một cử chỉ mở to mắt. Paul quan sát những hoạt động quanh họ bằng cái nhìn phán xét. Một màu cà ri giờ đây thống trị bầu trời phía Nam và những luồng gió giật từng cơn quất bụi
mù mịt quanh đầu họ. “Cài kín sa phục vào,” Paul nói. Và chàng buộc chặt mặt nạ cùng mũ trùm quanh mặt. Gurney nghe theo, thấy biết ơn vì có những bộ lọc. Paul nói, giọng nghẹt đi vì bộ lọc: “Ai trong đám thuộc hạ của thầy là người thầy không tin cậy, hở Gurney?” “Có vài người mới tuyển,” Gurney nói. “Những kẻ từ thế giới ngoài...” Ông ngập ngừng, đột nhiên thấy băn khoăn về chính mình. Kẻ từ thế giới ngoài. Từ đó đã bật
ra từ lưỡi ông quá dễ dàng. “Rồi sao?” Paul nói. “Họ không giống đám người chuyên săn lùng của cải mà chúng tôi thường tìm được,” Gurney nói. “Họ dày dạn hơn.” “Gián điệp của Harkonnen?” Paul hỏi. “Bẩm Chúa công, tôi cho rằng chúng chẳng thưa thốt gì với Harkonnen cả. Tôi ngờ chúng là người của Mật vụ Hoàng gia. Chúng có gì đó hao hao Salusa Secundus.” Paul nhìn ông một cái sắc như dao.
“Sardaukar?” Gurney nhún vai. “Có thể, nhưng được ngụy trang khéo.” Paul vừa gật đầu vừa nghĩ, Gurney đã quay trở lại cung cách của một lão bộc nhà Atreides dễ dàng đến thế nào... nhưng với sự dè dặt tinh vi... khác biệt tinh vi. Arrakis đã làm thay đổi cả ông ấy nữa. Hai người Fremen đội mũ trùm nhô lên từ tảng đá vỡ bên dưới họ, bắt đầu trèo lên. Một trong hai người vác trên vai một cái bọc to màu đen.
“Người của tôi giờ đâu rồi?” Gurney hỏi. “Đang an toàn trong các tảng đá phía dưới chúng ta,” Paul nói. “Bọn ta có một hang ở đây - Hang Chim. Sau khi bão tan bọn ta sẽ quyết định làm gì với họ.” Một giọng vang lên từ trên đầu họ: “Muad’Dib!” Paul quay về phía tiếng gọi thì thấy một vệ sĩ Fremen đang ra dấu bảo họ đi xuống hang. Paul ra hiệu rằng đã nghe thấy. Gurney chăm chú quan sát chàng với một
vẻ mặt mới. “Ngài là Muad’Dib?” ông hỏi. “Ngài là ý-chí-của-cát?” “Đó là tên Fremen của ta,” Paul nói. Gurney quay đi, lòng nặng trĩu một linh cảm chẳng lành. Nửa số thuộc hạ của ông đã chết trên cát, nửa còn lại thì bị bắt. Ông không quan tâm đến đám quân vừa mới tuyển, những kẻ khả nghi, nhưng trong số còn lại đó có những người tốt, có bạn bè ông, những người ông cảm thấy mình phải có trách nhiệm. “Sau khi bão tan bọn ta sẽ quyết định làm gì với họ.” Paul đã nói thế, Muad’Dib đã nói thế. Và Gurney nhớ lại những chuyện người ta kể về Muad’Dib, về Lisan al-
Ghaib - ông ta đã lột da một sĩ quan Harkonnen để làm màng bịt trống, rằng quanh ông ta là Fedaykin, những chiến binh cảm tử, những kẻ xông vào trận đánh miệng hát vang bài hát về cái chết. Ông ta. Hai người Fremen đang trèo lên các tảng đá nhẹ nhàng nhảy sang một thềm đá trước mặt Paul. Người có khuôn mặt sạm màu nói: “Tất cả an toàn, thưa Muad’Dib. Tốt nhất chúng ta hãy xuống dưới bây giờ.” “Phải.”
Gurney lưu ý thanh điệu trong giọng người này - nửa ra lệnh, nửa yêu cầu. Đó là người tên Stilgar, một gương mặt khác trong các truyền thuyết Fremen mới. Paul nhìn cái bọc mà người Fremen thứ hai vác trên vai rồi nói: “Korba, cái gì trong bọc vậy?” Stilgar đáp: “Nó ở trong con bọ. Nó có chữ viết tắt tên của bạn anh đây, bên trong đựng một cây đàn baliset. Đã nhiều lần tôi nghe anh nói về tài nghệ chơi baliset của Gurney Halleck.” Gurney quan sát người đang nói, nhìn thấy mép bộ râu đen nhánh lộ ra phía
trên chiếc mặt nạ sa phục, cái nhìn như của chim ưng, cái mũi như chạm bằng đục. “Ngài có một bạn đồng hành biết suy nghĩ, thưa Chúa công,” Gurney nói. “Cám ơn ông, Stilgar.” Stilgar ra hiệu cho người đi cùng trao cái bọc cho Gurney rồi nói: “Cám ơn Công tước của ông thì đúng hơn. Nhờ có ngài chấp thuận mà ông mới được kết nạp vào đây.” Gurney nhận cái bọc, bối rối bởi cái hàm ý khắt khe trong cuộc đối thoại này. Có một vẻ thách thức ở ông ta, và Gurney tự
hỏi liệu đó có thể là một cảm giác ghen tị ở người Fremen này không. Đây là một người có tên Gurney Halleck, kẻ từng biết Paul thậm chí từ trước thời Arrakis, người từng chia sẻ với Paul một tình đồng chí keo sơn mà Stilgar không bao giờ có thể xâm phạm được. “Các ông là hai người mà tôi muốn làm bạn,” Paul nói. “Stilgar, người Fremen, là một cái tên lừng lẫy,” Gurney nói. “Bất cứ ai giết bọn Harkonnen, tôi đều sẽ lấy làm vinh hạnh được kể là bạn tôi.” “Ông có bắt tay với Gurney Halleck bạn
tôi không, Stilgar?” Paul hỏi. Chầm chậm, Stilgar chìa tay ra, siết chặt những nốt chai sần trên bàn tay cầm gươm của Gurney. “Ít ai chưa từng nghe tên Gurney Halleck,” ông nói, rồi thả lỏng tay ra. Ông ngoảnh lại Paul. “Bão đang ập tới đấy.” “Xuống ngay,” Paul nói. Stilgar quay đi, dẫn họ xuống dưới qua những tảng đá, một lối đi lắt léo nhiều khúc ngoặt đâm vào một khe nứt khuất trong bóng tối dẫn tới cửa hang thấp. Những ngọn đèn cầu soi rõ một khoảng không thoáng đãng có mái vòm, một bên
có gờ nhô cao, từ gờ đó có một hành lang dẫn đi nơi khác. Paul nhảy lên cái gờ, dẫn đường vào hành lang đó, Gurney theo sát đằng sau. Những người khác tiến về phía một hành lang khác đối diện cửa hang. Paul dẫn đường ngang qua phòng đợi, tiến vào một gian phòng mà bốn phía tường treo những bức rèm màu rượu vang sẫm. “Ở đây chúng ta có thể được chút riêng tư trong chốc lát,” Paul nói. “Những người khác sẽ tôn trọng...” Tiếng chũm chọe cảnh báo ở phòng ngoài kêu lanh lảnh, theo sau là tiếng la hét và
vũ khí chạm nhau chan chát. Paul quay ngoắt lại, chạy ngược ra phòng đợi, trèo lên gờ phía trên của sảnh ngoài. Gurney theo sát chàng, vũ khí rút ra khỏi vỏ. Trên nền hang bên dưới họ là những dáng người xoáy tít vào nhau trong cuộc hỗn chiến. Paul đứng nhận định tình thế trong một thoáng, phân biệt người Fremen với các đối thủ thông qua áo choàng của họ. Các giác quan mà mẹ chàng đã huấn luyện sao cho phát hiện ra những manh mối nhỏ nhất liền nhặt ra được một chi tiết hệ trọng: người Fremen đang đánh lại những người mặc áo choàng của dân buôn lậu, nhưng đám buôn lậu này né đòn theo từng nhóm ba người, khi bị đánh rát
thì lui về phòng thủ theo đội hình tam giác. Thói quen cận chiến đó là dấu hiệu rành rành để phân biệt đội quân Sardaukar của hoàng gia. Một chiến binh Fedaykin trong đám đánh nhau trông thấy Paul, và tiếng hô chiến trận của anh ta được nâng lên thành tiếng vọng vang khắp căn phòng: “Muad’Dib! Muad’Dib! Muad’Dib!” Một con mắt khác cũng đã phát hiện ra Paul. Một con dao đen tuyền được ném thẳng cánh vào chàng. Paul lách tránh, nghe tiếng con dao chạm đánh choang
vào vách đá sau lưng, chàng liếc lại thì thấy Gurney rút nó ra. Các nhóm ba người giờ đang bị ép về phía sau. Gurney giơ con dao lên trước mắt Paul, chỉ vào cái vòng cuộn màu vàng mảnh như sợi tóc mang màu của Đế quốc, chiếc gia huy hình sư tử vàng, những con mắt đa diện trên cái núm tròn ở chuôi dao. Chắc chắn là Sardaukar. Paul bước lên mép gờ đá. Chỉ còn sót ba tên Sardaukar. Những đống vải đẫm máu
của cả Sardaukar lẫn Fremen lẫn lộn khắp nền phòng. “Dừng lại!” Paul thét. “Công tước Paul Atreides ra lệnh các người dừng lại!” Những cặp đánh nhau dao động, ngần ngừ. “Sardaukar các ngươi!” Paul hét lên với nhóm còn lại. “Các ngươi theo lệnh ai mà dám đe dọa một Công tước đang trị vì?” Và, nhanh như cắt, khi thuộc hạ của chàng bắt đầu sấn lại vây quanh đám Sardaukar: “Dừng lại, ta đã bảo!” Một trong ba kẻ đang bị dồn vào chân
tường thẳng người dậy. “Ai bảo chúng tôi là Sardaukar?” Paul cầm con dao từ tay Gurney, giơ cao. “Cái này cho biết các ngươi là Sardaukar.” “Vậy ai nói anh là một Công tước đang trị vì?” người đó hỏi. Paul ra hiệu về phía các chiến binh Fedaykin. “Những người này nói ta là Công tước trị vì. Chính hoàng đế của các ngươi đã trao Arrakis cho Gia tộc Atreides. Ta là Gia tộc Atreides.” Những tên Sardaukar đứng im, bồn chồn.
Paul quan sát kỹ người đó: cao lớn, nét gì cũng nhẵn thín, một vết sẹo bệch bạc hằn ngang má trái. Cơn giận dữ và bối rối lộ rõ trong dáng điệu của y, nhưng ở y vẫn có cái vẻ kiêu hãnh mà nếu thiếu nó thì một chiến binh Sardaukar chẳng khác gì không mặc áo quần, còn nếu có nó thì dẫu trần truồng y vẫn có vẻ như mặc đủ quần áo. Paul quay sang một trong các sĩ quan Fedaykin của chàng, nói: “Korba, sao họ lại có vũ khí?” “Chúng giấu dao trong mấy cái túi may rất khéo trên sa phục của chúng,” viên sĩ
quan nói. Paul kiểm tra những người chết và bị thương nằm la liệt giữa phòng, rồi lại hướng sự chú ý vào viên sĩ quan. Không cần phải nói gì. Viên sĩ quan cụp mắt xuống. “Chani đâu?” Paul hỏi, nín thở đợi câu trả lời. “Stilgar đã bí mật đưa cô ấy tránh ra chỗ khác.” Anh ta gật đầu về phía hành lang bên kia, nhìn lại những người chết và bị thương. “Chính tôi chịu trách nhiệm về lỗi lầm này, thưa Muad’Dib.”
“Có bao nhiêu tên Sardaukar, Gurney?” Paul hỏi. “Mười.” Paul nhẹ nhàng nhảy xuống nền phòng, sải bước tiến lại, đứng trong tầm tấn công của tên Sardaukar vừa nói. Không khí căng thẳng bao trùm đám quân Fedaykin. Họ không thích chàng phơi mình ra trước hiểm nguy như vậy. Đây là điều họ đã thề ngăn chặn, bởi người Fremen muốn giữ gìn sự thông tuệ của Muad’Dib. Không ngoái lại, Paul nói với sĩ quan
của chàng: “Thương vong của chúng ta bao nhiêu?” “Bốn bị thương, hai chết, thưa Muad’Dib.” Paul thấy có động tĩnh đằng sau tên Sardaukar. Chani và Stilgar đang đứng ở hành lang phía bên kia. Chàng lại chú ý vào nhóm Sardaukar, nhìn chòng chọc vào lòng trắng của thế giới khác trong đôi mắt kẻ phát ngôn. “Ngươi, tên ngươi là gì?” Gã đàn ông cứng người lại, liếc trái, liếc phải.
“Đừng cố làm thế,” Paul nói. “Ta thấy rành rành là các ngươi nhận lệnh truy tìm rồi tiêu diệt Muad’Dib. Ta bảo đảm rằng các ngươi chính là kẻ đã đưa ra ý tìm hương dược trong vùng sa mạc sâu.” Tiếng Gurney thở gấp sau lưng Paul khiến một nụ cười nhạt nở trên môi chàng. Máu dồn lên mặt tên Sardaukar. “Kẻ mà ngươi đang thấy trước mặt ngươi không chỉ là Muad’Dib,” Paul nói. “Bảy người bọn ngươi đã chết để đổi lấy hai người bọn ta. Ba đổi một. Địch lại Sardaukar thế cũng không tồi, hử?”
Gã đàn ông nhón chân lên, rồi lại hạ xuống khi quân Fedaykin sấn tới. “Ta hỏi tên ngươi,” Paul nói, rồi chàng huy động những tinh vi của Giọng nói: “Nói ta nghe, ngươi tên gì.” “Đại úy Aramsham, Sardaukar Hoàng gia!” y bật ra. Hàm y trễ xuống. Y nhìn Paul chằm chằm, bối rối. Cái dáng điệu của y mà ban nãy khiến cái hang này trở thành một chốn man rợ, giờ đã tan biến. “Được rồi, đại úy Aramsham,” Paul nói. “Nhà Harkonnen sẽ trả giá cao để biết được điều mà lúc này anh biết. Còn
Hoàng đế, ông ta sẽ không từ cái gì để biết được rằng một người của gia tộc Atreides hiện vẫn sống mặc cho sự phản bội của ông ta.” Viên đại úy liếc trái, liếc phải về phía hai người còn lại bên y. Paul hầu như thấy được những ý nghĩ đang quay cuồng trong đầu kẻ này. Quân Sardaukar không đầu hàng, nhưng Hoàng đế phải biết về mối đe dọa này. Vẫn sử dụng Giọng nói, Paul nói: “Hàng đi, Đại úy.” Người đứng ở bên trái viên đại úy bất ngờ nhảy phóc về phía Paul, nhưng liền
lãnh trọn vào giữa ngực mũi dao nhanh như cắt của chính kẻ chỉ huy hắn. Kẻ tấn công ngã vật xuống sàn như một đống thịt đầy nước, mũi dao vẫn còn cắm trên người. Viên đại úy đối mặt với kẻ đồng hành duy nhất còn lại. “Tôi là kẻ quyết định làm gì để phụng sự tốt nhất cho Hoàng thượng,” y nói. “Hiểu chưa?” Vai tên Sardaukar kia rũ xuống. “Hạ vũ khí xuống,” đại úy nói. Tên Sardaukar tuân lời.
Viên đại úy quay lại về phía Paul. “Tôi đã giết một người bạn vì ngài,” y nói. “Chúng ta hãy luôn nhớ điều đó.” “Các ngươi là tù binh của ta,” Paul nói. “Các ngươi đã đầu hàng ta. Các ngươi sống hay chết không quan trọng.” Chàng ra hiệu cho vệ sĩ đưa hai tên Sardaukar đi, ra dấu cho viên sĩ quan trước đó đã lục soát các tù nhân. Các vệ sĩ tiến vào, đẩy hai tên Sardaukar đi. Paul nghiêng người về phía viên sĩ quan Fedaykin.
“Muad’Dib,” anh ta nói. “Tôi đã làm ngài thất vọng vì...” “Lỗi do ta, Korba ạ,” Paul nói. “Lẽ ra ta nên cảnh báo anh phải tìm cái gì. Sau này, mỗi khi khám xét quân Sardaukar, hãy nhớ điều này. Cũng hãy nhớ rằng mỗi tên đều có một, hai cái móng chân giả có thể kết hợp với các thứ bí mật khác giấu trong người chúng để làm thành một máy phát tín hiệu hiệu quả. Chúng sẽ có nhiều cái răng giả chứ không chỉ một. Chúng mang những vòng shigaware trong tóc, mảnh đến độ anh khó mà phát hiện được, nhưng vẫn đủ chắc để thắt cổ một người cho đến khi cứa đứt đầu. Với bọn Sardaukar, anh phải rà soát từng li từng
tí một - cả bằng tia phản xạ lẫn tia cường độ mạnh - phải chẻ từng mẩu lông mẩu tóc ra. Mà ngay cả khi đã khám xét tận chân lông kẽ tóc như vậy rồi, hãy tin chắc rằng anh vẫn chưa phát hiện được tất cả mọi thứ.” Chàng ngước nhìn Gurney, ông đã lại gần để nghe. “Thế thì tốt nhất là giết quách chúng đi,” viên đại úy nói. Paul lắc đầu, mắt vẫn nhìn Gurney. “Không, tôi muốn họ thoát.” Gurney nhìn chàng chằm chặp. “Chúa
công...” Ông thở ra. “Sao?” “Người của ngài nói đúng đấy. Hãy giết ngay các tù binh kia. Tiêu hủy mọi bằng chứng về chúng. Ngài đã làm nhục quân Sardaukar của Hoàng gia! Khi Hoàng đế biết được điều đó, ông ta sẽ ăn không ngon ngủ không yên chừng nào chưa nướng ngài chín từ từ trên ngọn lửa liu riu.” “Hoàng đế hẳn không đủ sức làm vậy với ta đâu,” Paul nói. Chàng nói chậm rãi, lạnh lùng. Có cái gì đó đã xảy ra bên trong chàng trong khi chàng đối mặt với
quân Sardaukar. Một tổng số của nhiều quyết định đã tích lũy lại trong ý thức chàng. “Gurney,” chàng nói, “có bao nhiêu người của Hiệp hội xung quanh Rabban?” Gurney thẳng người lên, mắt nheo lại. “Câu hỏi của ngài không...” “Có không?” Paul gắt. “Arrakis đầy nhóc gián điệp của Hiệp hội. Họ lùng mua hương dược như thể nó là thứ quý nhất trong cả vũ trụ. Chứ ngài nghĩ vì lý do nào khác mà chúng tôi liều đi xa đến nhường này để...”
“Nó chính là thứ quý nhất trong toàn vũ trụ,” Paul nói. “Với họ.” Chàng nhìn về phía Stilgar và Chani lúc này đang băng qua phòng tiến về phía chàng. “Và chúng ta làm chủ nó, Gurney ạ.” “Bọn Harkonnen mới làm chủ nó!” Gurney phản đối. “Kẻ nào có thể hủy diệt một thứ, kẻ đó là người làm chủ nó,” Paul nói. Chàng phẩy tay để Gurney thôi đừng bình luận gì nữa, rồi gật đầu với Stilgar lúc này đã đứng trước mặt chàng, bên cạnh là Chani.
Paul cầm con dao Sardaukar bằng tay trái, chìa ra cho Stilgar. “Ông sống vì lợi ích của bộ tộc,” Paul nói. “Ông có thể lấy máu cuộc sống của ta bằng con dao đó không?” “Vì lợi ích của bộ tộc,” Stilgar lầm bầm. “Vậy hãy dùng con dao đó,” Paul nói. “Anh đang thách đấu tôi đấy à?” Stilgar hỏi. “Nếu làm vậy, ta sẽ đứng đó, không vũ khí, để mặc cho ông giết ta.”
Stilgar hít một hơi gấp gáp. Chani nói: “Usul!” rồi liếc sang Gurney, lại nhìn Paul. Trong khi Stilgar vẫn còn cân nhắc lời mình, Paul nói: “Ông là Stilgar, một chiến binh. Khi quân Sardaukar bắt đầu đánh nhau ở đây, ông không ở hàng đầu cuộc chiến. Ý nghĩ đầu tiên của ông là bảo vệ Chani.” “Nó là cháu tôi,” Stilgar nói. “Nếu như tôi có chút hoài nghi gì về chuyện quân Fedaykin của ngài xử bầy cặn bã đó...” “Tại sao ông nghĩ tới Chani trước hết?”
Paul hỏi gặng. “Không phải về nó.” “Ồ?” “Mà về anh,” Stilgar thú nhận. “Ông có nghĩ mình có thể động thủ chống lại ta không?” Paul hỏi. Stilgar bắt đầu run rẩy. “Đó là phong tục,” ông lẩm bẩm. “Phong tục là giết chết những kẻ lạ từ thế giới khác đến mà ta gặp trong sa mạc, lấy nước của họ như một món quà của
Shai-hulud,” Paul nói. “Thế nhưng một đêm nọ ông đã cho phép hai kẻ như vậy sống, mẹ ta và ta.” Trong khi Stilgar vẫn nhìn chàng trân trân, lặng thinh, rúng động, Paul nói: “Phong tục có thể thay đổi đấy, Stil ạ. Chính ông đã thay đổi chúng.” Stilgar nhìn xuống cái biểu tượng màu vàng trên con dao đang cầm trên tay. “Khi ta là Công tước ở Arrakeen với Chani bên cạnh, ông nghĩ ta sẽ vẫn có thời gian để quan tâm tới từng chi tiết nhỏ trong việc cai quản sietch Tabr sao?” Paul hỏi. “Bản thân ông có quan
tâm tới những vấn đề nội bộ trong từng gia đình không?” Stilgar vẫn nhìn con dao chăm chăm. “Ông nghĩ rằng ta muốn chặt cánh tay phải của ta sao?” Paul hỏi. Chầm chậm, Stilgar ngước lên nhìn chàng. “Ông!” Paul nói. “Ông nghĩ rằng ta muốn tước mất của chính ta hay của bộ tộc ta tài trí và sức mạnh của ông sao?” Stilgar khẽ nói: “Chàng trai của bộ tộc tôi mà tôi biết rõ tên, chàng trai đó tôi có
thể giết trên sàn thách đấu, ấy là ý của Shai-hulud. Còn Lisan al-Ghaib, người đó tôi không làm hại được. Ngài đã biết điều đó khi trao con dao này cho tôi.” “Ta biết,” Paul tán thành. Stilgar xòe bàn tay ra. Con dao rơi đánh cách xuống sàn đá. “Phong tục có thể thay đổi,” ông nói. “Chani,” Paul nói. “Hãy đến chỗ mẹ anh, dẫn người tới đây để ta có lời khuyên của người trong...” “Nhưng anh đã nói chúng ta sẽ đi về phía Nam,” nàng phản đối.
“Anh đã lầm,” chàng nói. “Bọn Harkonnen không có ở đó. Cuộc chiến không ở đó.” Nàng hít một hơi sâu, chấp nhận điều đó như một phụ nữ sa mạc chấp nhận mọi điều thiết yếu giữa một cuộc sống song hành cùng cái chết. “Em hãy cho mẹ ta biết một thông điệp, chỉ riêng bà thôi.” Paul nói. “Bảo bà rằng Stilgar thừa nhận anh là Công tước Arrakis, nhưng phải tìm được cách nào đó sao cho đám thanh niên chấp nhận điều này mà không giao chiến.”
Chani liếc nhìn Stilgar. “Làm như anh ấy nói đi,” ông lẩm bẩm. “Hai chúng ta đều biết anh ấy có thể đánh bại ta... và ta không thể động thủ chống lại anh ấy... vì lợi ích của bộ tộc.” “Em sẽ cùng mẹ quay lại đây,” Chani nói. “Mời mẹ anh tới,” Paul nói. “Bản năng của Stilgar đúng đấy. Khi em được an toàn thì anh mạnh mẽ hơn. Em sẽ ở lại trong sietch.” Nàng toan phản đối, nhưng kìm lại.
“Sihaya,” Paul nói, dùng cái tên thân mật với nàng. Chàng quay ngoắt về bên phải, bắt gặp ánh mắt trừng trừng của Gurney. Cuộc trao đổi giữa Paul với người Fremen lớn tuổi hơn như thể đã trôi trong một làn sương bao quanh Gurney từ khi Paul nhắc tới mẹ chàng. “Mẹ ngài,” Gurney nói. “Idaho đã cứu mẹ con ta trong cái đêm bị địch đột kích,” Paul nói, còn lơ đãng vì chia tay với Chani. “Ngay bây giờ chúng ta đã...” “Duncan Idaho thì sao, thưa Chúa
công?” Gurney hỏi. “Anh ấy chết rồi, đổi lấy chút thì giờ cho mẹ con ta thoát.” Mụ phù thủy vẫn sống! Gurney nghĩ. Kẻ mà ta thề báo thù, vẫn sống! Và rõ ràng Công tước Paul không biết cái thứ sinh vật gì đã đẻ ngài ra. Con mụ quái ác! Bán đứng chính phụ thân Công tước cho bọn Harkonnen! Paul bước qua trước mặt ông, nhảy lên gờ đá. Chàng ngoái lại, nhận thấy những người chết và bị thương đã được đưa đi, và chàng cay đắng nghĩ rằng ở đây lại có thêm một chương trong truyền thuyết về
Paul Muad’Dib. Thậm chí ta không hề rút dao ra, nhưng người ta sẽ nói ngày hôm nay một tay ta đã giết hai mươi tên Sardaukar. Gurney bám theo cùng Stilgar, bước đi trên cái mặt sàn mà thậm chí ông không cảm thấy. Cái hang với ánh sáng đèn cầu màu vàng này đã bị cơn phẫn nộ gạt phăng ra khỏi ý nghĩ của ông. Mụ phù thủy vẫn sống trong khi những kẻ bị mụ phản bội chỉ còn là nắm xương trong những nấm mồ đơn chiếc. Ta phải tính cách sao cho Paul biết được sự thật về mụ trước khi ta giết mụ. Thường hay có chuyện cơn thịnh nộ
của kẻ đang giận dữ phủ nhận những gì mà bản ngã nội tại của anh ta đang nói với anh ta. - “Tuyển Dụ ngôn của Muad’Dib” của Công chúa Irulan Đám đông trong phòng họp của hang toát ra cái cảm giác bầy đàn mà Jessica đã cảm thấy vào hôm Paul giết chết Jamis. Có sự bồn chồn trong những giọng thì thầm. Từng nhóm nhỏ tụ lại như các điểm nút giữa những bộ áo choàng. Jessica nhét một cái hộp hình trụ chứa thư vào dưới áo choàng khi từ khu nhà riêng của Paul tiến ra chỗ gờ đá. Bà cảm
thấy thư thái sau chuyến đi dài từ phía Nam về, nhưng vẫn day dứt bởi Paul vẫn chưa cho phép họ dùng các tàu chim bị tịch thu. “Chúng ta không hoàn toàn kiểm soát được bầu trời,” chàng đã nói. “Và nữa, chúng ta không được trở nên phụ thuộc vào nhiên liệu từ thế giới ngoài. Cả nhiên liệu lẫn tàu, chúng ta đều phải thu thập và giữ lại cho tới cái ngày cần huy động tối đa.” Paul đứng cùng một nhóm thanh niên trẻ hơn gần chỗ gờ đá. Ánh đèn cầu nhợt nhạt khiến cho quang cảnh nhuốm chút gì đó không thực. Nó như một bức tranh,
song là bức tranh được bồi thêm kích thước của mùi hang trong lòng đất, những tiếng thì thầm, tiếng bước chân qua lại. Bà quan sát kỹ con trai, tự hỏi tại sao nó vẫn chưa trưng ra cho mọi người thấy cái sẽ khiến họ ngạc nhiên - Gurney Halleck. Ý nghĩ về Gurney khiến lòng bà xáo động bởi những ký ức về một quá khứ thanh thản hơn, những ngày tràn ngập tình yêu và cái đẹp bên người cha của Paul. Stilgar đợi cùng một nhóm thuộc hạ của mình nơi đầu kia gờ đá. Có một vẻ đường hoàng như vẫn luôn thấy ở ông, ở cách ông đứng mà không trò chuyện với ai.
Chúng ta không thể mất người đó được, Jessica nghĩ. Kế hoạch của Paul phải thực hiện được. Bất cứ điều gì khác đều sẽ là bi kịch khủng khiếp. Bà sải bước dọc gờ đá, ngang qua trước mặt Stilgar mà không nhìn ông, bước xuống đám đông. Người ta mở lối cho bà khi bà tiến tới chỗ Paul. Và theo gót bà là sự im lặng. Bà biết ý nghĩa của sự im lặng đó - những câu hỏi không được nói ra của đám đông, nỗi kính sợ Mẹ Chí tôn. Đám thanh niên lùi lại khỏi Paul khi bà
lại gần chàng, và trong khoảnh khắc bà thấy mình mất hết tinh thần khi nhận thấy sự tôn kính mới mẻ này của họ đối với Paul. “Tất cả những ai nằm dưới vị trí của mi đều thèm địa vị của mi,” châm ngôn Bene Gesserit nói vậy. Nhưng bà không thấy sự thèm thuồng nào ở những khuôn mặt đó. Họ được giữ cách xa một quãng bởi nỗi kích động mang tính tôn giáo xung quanh địa vị thủ lĩnh của Paul. Và bà nhớ lại một châm ngôn Bene Gesserit khác: “Các nhà tiên tri có một cách để chết do bạo lực.” Paul nhìn bà. “Đến lúc rồi,” bà nói, rồi trao cho chàng
hộp trụ mang thư. Một trong các chiến hữu của Paul, táo bạo hơn những người khác, liếc ngang về phía Stilgar, nói: “Người có thách đấu ông ta không, Muad’Dib? Chắc chắn giờ đã đến lúc rồi. Người ta sẽ nghĩ người là tên hèn nhát nếu...” “Ai dám gọi ta là tên hèn nhát?” Paul hỏi. Nhanh như chớp, bàn tay chàng tìm đến cán dao. Im lặng như tờ trùm xuống toán người, lan ra đám đông. “Có việc cần phải làm,” Paul nói trong
khi người kia lùi khỏi chàng. Paul quay đi, len qua đám đông tiến về phía gờ đá, nhẹ nhàng nhảy lên đối diện với đám đông. “Làm đi!” ai đó thét to. Những tiếng lẩm bẩm thì thầm dậy lên đằng sau tiếng thét đó. Paul chờ sự im lặng. Nó đến từ từ, giữa những tiếng chân xê dịch và tiếng ho rải rác. Khi trong hang đã yên lặng, Paul hất cằm, nói bằng một giọng vang đến tận những góc xa nhất. “Các người đã mệt mỏi vì chờ đợi,”
Paul nói. Một lần nữa, chàng đợi cho đến khi những tiếng thét đáp lại lặng đi. Quả thật họ đã mệt mỏi vì chờ đợi, Paul nghĩ. Chàng nhấc chiếc hộp trụ đựng thư lên, nghĩ về cái đựng bên trong nó. Mẹ chàng đã đưa nó cho chàng xem, giải thích rằng nó đã được lấy từ một kẻ đưa thư Harkonnen. Thông điệp rất rõ ràng: Rabban đang bị bỏ rơi, bị để mặc cho xoay xở một mình ở Arrakis này! Hắn không thể kêu ai giúp đỡ hay cứu viện!
Một lần nữa, Paul cất cao giọng: “Các người nghĩ đã đến lúc ta thách đấu Stilgar và thay đổi quyền lãnh đạo bộ tộc!” Họ chưa kịp trả lời thì Paul đã quát lên với họ đầy giận dữ: “Các người nghĩ Lisan al-Ghaib ngu xuẩn đến thế sao?” Im lặng sững sờ bao trùm. Nó đang chấp nhận cái biểu tượng tôn giáo, Jessica nghĩ. Nó không được làm vậy! “Phong tục là thế!” ai đó la to. Paul nói khô khan, thăm dò những cảm xúc ngấm ngầm ở đám đông. “Phong tục
có thể thay đổi.” Một giọng giận dữ cất lên từ góc hang: “Chúng tôi mới có quyền nói cái gì thay đổi!” Đây đó trong đám đông vang lên tiếng hò la tán thành. “Tùy các người,” Paul nói. Và Jessica nghe thấy những ngữ điệu trầm bổng tinh tế khi chàng sử dụng quyền lực của Giọng nói mà bà đã dạy chàng. “Các người sẽ nói,” chàng đồng ý.
“Nhưng trước hết các người phải nghe ta nói.” Stilgar đi dọc theo gờ đá, bộ mặt râu ria lộ vẻ bình thản. “Đó cũng là phong tục,” ông lên tiếng. “Tiếng nói của bất cứ người Fremen nào cũng được lắng nghe ở Hội đồng. Paul Muad’Dib là người Fremen.” “Lợi ích của bộ tộc, đó là điều quan trọng nhất, phải không?” Paul hỏi. Cũng bằng giọng đều đều điềm nhiên, Stilgar nói: “Bước đi của chúng ta được dẫn dắt bằng cách đó.”
“Được,” Paul nói. “Vậy thì, ai cai trị chúng dân bộ tộc chúng ta, ai cai trị mọi bộ tộc và mọi đội quân bằng những chiến thuật mà chúng ta đã rèn luyện theo phương pháp huyền thuật?” Paul đợi, nhìn khắp trên đầu đám đông. Không có tiếng trả lời. Ngay sau đó, chàng nói: “Có phải Stilgar cai trị tất cả không? Chính ông nói là không phải thế. Ta cai trị ư? Kể cả Stilgar cũng có lúc vâng lệnh ta, và các nhà hiền triết, thông thái nhất trong những người thông thái cũng lắng nghe ta và kính trọng ta ở Hội đồng.”
Đám đông im lặng, rục rịch bồn chồn. “Vậy đó,” Paul nói. “Mẹ ta có cai trị không?” Chàng chỉ xuống Jessica đứng giữa đám đông, mặc áo choàng nghi lễ màu đen. “Hầu như trong mọi quyết định hệ trọng Stilgar và mọi thủ lĩnh khác của bộ tộc đều xin lời khuyên của bà. Các người biết điều đó. Nhưng Mẹ Chí tôn có cưỡi cát hay cầm đầu một cuộc razzia chống lại bọn Harkonnen không?” Những nét cau mày hằn lên trán đám người nằm trong tầm mắt Paul, nhưng vẫn có những tiếng thì thầm giận dữ. Làm cách này nguy hiểm quá, Jessica
nghĩ, nhưng bà nhớ lại chiếc hộp trụ đựng thư cùng ý nghĩa bao hàm trong nó. Và bà nhận ra ý định của Paul: tiến thẳng đến tận đáy sâu tính không kiên định của họ, sử dụng nó, rồi mọi chuyện khác tự khắc phải đi theo. “Không ai công nhận kẻ làm thủ lĩnh nếu không thử thách và không quyết đấu, phải không?” Paul hỏi. “Phong tục là vậy!” ai đó hét. “Mục đích của chúng ta là gì?” Paul hỏi. “Lật đổ Rabban, con thú dữ Harkonnen, và tái tạo thế giới của chúng ta thành nơi chúng ta có thể nuôi gia đình mình trong
hạnh phúc giữa cơ man nào là nước - có phải đó là mục đích của chúng ta?” “Nhiệm vụ nặng nề thì cần những cách thức nặng nề,” ai đó hét. “Các người có đập nát con dao của mình trước một trận đánh không?” Paul hỏi vặn. “Ta nói điều này như một thực tế, chẳng hề có ý khoe khoang hay thách thức: không một ai ở đây, kể cả Stilgar, có thể địch được với ta trong một cuộc đấu tay đôi. Chính Stilgar thừa nhận như vậy. Ông ta biết điều đó, các người cũng biết.” Một lần nữa, những tiếng thì thầm giận
dữ dậy lên từ đám đông. “Nhiều người trong các người từng đấu tập với ta,” Paul nói. “Các người biết đây chẳng phải khoe hão. Ta nói vậy vì đó là một thực tế ai cũng biết, và nếu chính ta không nhận thấy thì ta là kẻ thậm ngu. Ta bắt đầu rèn luyện theo những phương pháp đó sớm hơn các người, và thầy dạy ta là những kẻ dạn dày hơn bất cứ ai các người từng gặp. Các người thử nghĩ xem, nếu không vậy thì làm sao ta thắng được Jamis khi ta ở độ tuổi mà con trai các người vẫn chỉ đang đánh trận giả?” Nó dùng Giọng nói khá tốt, Jessica
nghĩ, nhưng với những người này thì chừng đó chưa đủ. Họ có độ cách ly khá tốt chống lại sự khống chế thông qua âm thanh. Nó còn phải chinh phục họ bằng cả logic nữa. “Vậy nên chúng ta đi đến điều này,” Paul nói. Chàng nhấc hộp trụ đựng thư lên, rút mẩu băng trong đó ra. “Cái này được lấy từ một người đưa tin của Harkonnen. Độ trung thực của nó không cần bàn cãi. Nó được gửi cho Rabban. Thư này bảo hắn rằng yêu cầu gửi thêm quân của hắn bị bác bỏ, rằng lượng thu hoạch hương dược của hắn quá thấp so với hạn ngạch, rằng hắn phải moi được nhiều hương dược hơn từ Arrakis với số người hắn
đang có.” Stilgar tiến lên cạnh Paul. “Bao nhiêu người trong các người hiểu ra điều này có nghĩa gì?” Paul hỏi. “Stilgar nhận ra ngay lập tức đấy.” “Chúng đã bị bỏ mặc!” ai đó hét. Paul nhét bức thư cùng hộp đựng vào khăn thắt lưng. Chàng lôi từ trong cổ ra một sợi dây bện shigawire, rồi tháo một chiếc nhẫn ra khỏi dây, giơ nó lên cao. “Đây từng là ấn công tước của cha ta,” chàng nói. “Ta đã thề không bao giờ
mang nó chừng nào ta chưa sẵn sàng dẫn dắt đoàn quân của ta đi khắp Arrakis đòi lại mảnh đất này như thái ấp hợp pháp của ta.” Chàng đeo nhẫn vào ngón tay rồi siết chặt nắm tay lại. Trong hang im phăng phắc. “Ai cai trị ở đây?” Paul hỏi. Chàng giơ nắm đấm lên. “Ta cai trị ở đây! Ta cai trị trên từng phân vuông xứ Arrakis này! Đây là thái ấp mà ta được hưởng, dù Hoàng đế có đồng ý hay không! Ngài đã trao nó cho cha ta, và thông qua cha ta, nó thuộc về ta.” Paul nhón chân lên rồi lại hạ gót chân
xuống. Chàng quan sát kỹ đám đông, cảm nhận được tâm trạng của họ. Hầu như được, chàng nghĩ. “Nơi đây có những người sẽ nắm giữ vị trí quan trọng ở Arrakis khi ta đòi được các quyền lợi thuộc Đế quốc mà vốn dĩ là của ta,” Paul nói. “Stilgar là một trong những người đó. Chẳng phải vì ta muốn mua chuộc ông ta! Cũng chẳng phải vì biết ơn, mặc dù ta là một trong số nhiều người ở đây nợ ơn cứu mạng của ông ta. Không! Mà vì ông ta là người thông thái và mạnh mẽ. Bởi ông ta cai quản dân chúng bằng trí thông minh của chính mình chứ không chỉ bằng luật lệ. Các người
nghĩ ta ngu ngốc sao? Các người nghĩ ta sẽ cắt đứt cánh tay phải ta rồi ném cánh tay đang ròng ròng chảy máu đó xuống nền hang này chỉ để cho các người xem một trò xiếc hay sao?” Paul quét một cái nhìn khắc nghiệt khắp đám đông. “Ai ở đây nói ta không phải người cai trị hợp pháp ở Arrakis? Ta phải chứng minh điều đó bằng cách khiến cho mỗi bộ tộc Fremen ở vùng erg này đều không có người lãnh đạo hay sao?” Bên cạnh Paul, Stilgar động đậy, nhìn chàng với vẻ dò hỏi. “Ta sẽ làm cho sức mạnh của chúng ta
giảm sút trong khi chúng ta đang cần nó nhất ư?” Paul hỏi. “Ta là thủ lĩnh của các người, và ta bảo các người rằng đã đến lúc chấm dứt việc giết những người giỏi nhất của chúng ta mà hãy bắt đầu giết kẻ thù đích thực của chúng ta - bọn Harkonnen!” Bằng một cử động nhanh đến khó nhìn thấy được, Stilgar rút dao pha lê của mình ra, chĩa lên trên đầu đám đông. “Công tước Paul Muad’Dib muôn năm!” ông thét. Một tiếng gầm đinh tai nhức óc vang lên ngợp cả hang, vang qua vọng lại. Người ta gào, người ta hô theo nhịp: “Ya hya
chouhada! Muad’Dib! Muad’Dib! Muad’Dib! Ya hya chuhada!” Jessica tự dịch lại cho mình: “Các chiến binh của Muad’Dib muôn năm!” Cái quang cảnh mà nàng cùng Paul và Stilgar bày mưu tính kế với nhau đã diễn ra đúng như dự tính. Cảnh ồn ào náo động mãi