hồi lượng nước anh ta đã mất trong khi giao chiến.” “Tôi không cần nước của anh ta,” Paul lẩm bẩm. Cậu cảm thấy mình là một phần trong số nhiều hình ảnh chuyển động cùng lúc theo cách rời rạc từng đoạn một, khiến con mắt bên trong bối rối. Cậu không biết chắc mình nên làm gì, nhưng có một điều cậu biết rõ: cậu không muốn nhận chỗ nước chưng cất từ xác của Jamis.
“Đó là... nước mà,” Chani nói. Jessica kinh ngạc trước cung cách cô bé nói. “Nước.” Quá nhiều ý nghĩa trong một âm thanh giản dị. Một châm ngôn Bene Gesserit hiện ra trong tâm trí Jessica: “Sự sống sót là khả năng bơi trong nước lạ.” Và Jessica nghĩ: Paul và ta, chúng ta phải tìm ra những dòng chảy, những mẫu hình trong những chỗ nước lạ này... nếu chúng ta muốn sống sót. “Con sẽ nhận phần nước đó,” Jessica nói.
Nàng nhận ra thanh điệu trong giọng mình. Nàng đã dùng chính âm sắc đó với Leto, khi bảo vị Công tước quá cố rằng ông sẽ nhận một khoản tiền lớn mà có người dâng tặng vì ông đã ủng hộ họ trong một vụ làm ăn đáng ngờ - bởi tiền là cái duy trì quyền lực của nhà Atreides. Ở Arrakis, nước là tiền. Nàng thấy rõ điều đó. Paul vẫn im lặng, ngay khi đó cậu biết cậu sẽ làm theo lệnh mẹ - không phải vì bà ra lệnh, mà vì giọng điệu của bà đã buộc cậu nhìn nhận lại tình thế. Từ chối phần nước đó có nghĩa là không tuân thủ
tập quán của người Fremen. Ngay lúc đó Paul nhớ lại những lời từ Kalima 4:67 trong cuốn Kinh thánh Màu Cam của Yueh. Cậu nói: “Từ nước mà ra mọi sự sống.” Jessica nhìn cậu chằm chằm. Nó học câu trích dẫn đó từ đâu vậy? nàng tự hỏi. Nó đã bao giờ học những huyền thuật đâu. “Người xưa đã nói thế,” Chani nói. “Giudichar mantene: Trong Shah-nama có viết, nước là tạo vật đầu tiên trong mọi tạo vật.” Vì một lý do nào đó mà Jessica không
sao lý giải được (và điều này còn khiến nàng bứt rứt hơn cả chính điều nàng cảm thấy), đột nhiên nàng rùng mình. Nàng quay mặt đi để tránh cơn bối rối và cũng vừa kịp lúc để thấy hoàng hôn. Một vùng màu sắc như báo hiệu tai ương tràn khắp bầu trời khi vầng dương xuống dưới đường chân trời. “Đến lúc rồi!” Đó là giọng của Stilgar vang rền khắp hang. “Vũ khí của Jamis người đã bị giết. Jamis đã được Người, Shai-hulud, gọi đi; Shai-hulud, Đấng đã ra lệnh cho các tuần trăng ngày một khuyết và rốt cuộc thành như những nhành cây cong queo,
héo úa.” Giọng Stilgar chùng xuống. “Chuyện xảy ra cho Jamis là vậy.” Im lặng như tấm chăn trùm xuống cả hang. Jessica nhìn thấy cái bóng xám của Stilgar di chuyển như một bóng ma trong phần tối của hang. Nàng lại nhìn ra ngoài lòng chảo, cảm thấy mát lạnh. “Bằng hữu của Jamis hãy lại gần.” Stilgar nói. Những người đàn ông di chuyển sau lưng Jessica, hạ một tấm mành che kín cửa hang. Một quả đèn cầu duy nhất được
thắp trên trần sâu bên trong hang. Ánh sáng màu vàng của nó tỏa lên một dòng người đang tiến vào trong. Jessica nghe thấy tiếng áo sột soạt. Chani tiến lên một bước như thể bị ánh đèn lôi đi. Jessica ghé sát tai Paul, nói bằng mật ngữ gia đình: “Theo gương họ đi; họ làm gì mình làm nấy. Chỉ là một buổi lễ giản dị để xoa dịu vong linh Jamis mà thôi.” Không chỉ vậy thôi đâu, Paul nghĩ. Và cậu cảm thấy một nỗi quặn thắt trong ý thức, như thể cậu đang cố nắm bắt một cái gì đang chuyển động để rồi buộc nó
thôi chuyển động. Chani nhẹ nhàng lùi lại bên Jessica, nắm tay nàng. “Đi nào, Sayyadina. Chúng ta phải ngồi cách nhau ra.” Paul quan sát họ đi xa dần vào trong bóng tối, để lại cậu một mình. Cậu cảm thấy bị bỏ rơi. Những người đàn ông vừa chăng tấm mành bước đến cạnh cậu. “Đi nào, Usul.” Cậu cho phép mình để người ta dẫn lối, để người ta đẩy cậu vào một vòng người
vừa mới hình thành quanh Stilgar, ông ta đang đứng ngay dưới quả đèn cầu, bên cạnh một đống lùm lùm, cong queo, cứng đờ trên nền đá, khuất dưới một tấm áo dài. Đám đông cúi xuống khi Stilgar ra hiệu, những chiếc áo dài của họ kêu sột soạt theo sau cử động này. Paul vừa cúi xuống theo họ vừa quan sát Stilgar, lưu ý thấy quả đèn cầu trên đầu soi rõ hai hố mắt của ông, rọi sáng màu vải xanh ở cổ ông. Paul chuyển sự chú ý sang cái đống phủ dưới chiếc áo dài cạnh chân Stilgar, nhận ra tay cầm một cây đàn baliset thòi ra từ dưới mớ vải.
“Khi vầng trăng thứ nhất mọc, linh hồn rời bỏ nước của cơ thể,” Stilgar ngâm nga. “Người xưa nói vậy. Khi ta thấy vầng trăng thứ nhất mọc đêm nay, thì trăng sẽ gọi ai?” “Jamis,” đám đông đáp lại. Stilgar xoay tròn một vòng trên một gót chân, lướt nhìn khắp vòng người. “Tôi từng là bạn của Jamis,” ông nói. “Khi chiếc máy bay chim ưng sà xuống đầu chúng ta ở Lỗ-trong-Tảng-đá, chính Jamis đã cứu tôi thoát nạn.” Ông cúi xuống bên cái đống cạnh mình, nhấc chiếc áo dài ra. “Tôi nhận chiếc áo
này với tư cách bằng hữu của Jamis - theo quyền của thủ lĩnh.” Ông vắt chiếc áo ngang qua một vai, thẳng người dậy. Giờ thì Paul thấy rõ cái đống lùm lùm được phơi bày ra kia gồm có những gì: màu xám nhạt lấp lánh của một bộ sa phục, một literjon méo mó, một chiếc khăn mà ở chính giữa là một cuốn sách nhỏ, tay cầm không lưỡi của một con dao pha lê, một vỏ dao rỗng, một chiếc cận la bàn, một chiếc distrans, một cây dùi gọi, một đống móc kim loại cỡ số một, một lô những cái trông như những hòn đá nhỏ nằm trong một tấm vải, một búi lông vũ bó lại với nhau... và cây đàn baliset phơi ra cạnh chiếc túi gấp lại.
Vậy ra Jamis chơi đàn baliset, Paul nghĩ. Nhạc cụ này khiến Paul nhớ đến Gurney Halleck và tất cả những gì đã mất. Nhờ ký ức trước đây của cậu về tương lai, Paul biết rằng một vài tình thế ngẫu nhiên nào đó có thể mang lại cuộc gặp gỡ với Halleck, song những cuộc tái hợp đều ít ỏi và mơ hồ. Chúng làm cậu rối trí. Nhân tố bất định khiến cậu băn khoăn. Phải chăng vậy có nghĩa là một việc nào đó ta sẽ làm... một việc nào đó ta có thể sẽ làm, biết đâu sẽ hủy diệt Gurney... hoặc đưa ông ấy trở lại cuộc sống... hay là... Paul nuốt nước bọt, lắc đầu.
Một lần nữa, Stilgar khom mình trên đống đồ vật. “Cho người đàn bà của Jamis và cho đội bảo vệ,” ông nói. Những hòn đá nhỏ và cuốn sách được cất vào nếp áo dài của ông. “Quyền của thủ lĩnh,” đám đông ngân nga. “Dấu hiệu để người ta phục vụ cà phê cho Jamis,” Stilgar nói, rồi nhấc lên một chiếc đĩa dẹt bằng kim loại màu xanh lục. “Nó sẽ được trao cho Usul trong buổi lễ thích hợp khi chúng ta quay lại
sietch.” “Quyền của thủ lĩnh,” đám đông ngân nga. Cuối cùng, ông cầm cán dao pha lê, thẳng người lên. “Dành cho bình nguyên tang lễ,” ông nói. “Dành cho bình nguyên tang lễ,” đám đông ngân nga. Đứng ở chỗ của mình giữa vòng người, đối diện Paul, Jessica gật đầu, nhận ra nguồn gốc xa xưa của nghi thức này, và nàng nghĩ: Cuộc gặp gỡ giữa dốt nát và hiểu biết, giữa tàn bạo và văn hóa - nó
bắt đầu trong sự tôn trọng mà chúng ta dành cho người đã khuất. Nàng nhìn qua vòng người về phía Paul, tự hỏi: Nó có nhận ra điều đó không? Liệu nó có biết phải làm gì không? “Chúng ta là bạn của Jamis,” Stilgar nói. “Chúng ta không than khóc cho người đã khuất như một lũ garvarg.” Một người râu xám đứng bên trái Paul đứng dậy. “Tôi từng là bạn của Jamis,” anh ta nói. Anh ta tiến về phía đống đồ vật, cầm chiếc distrans lên. “Khi nước của chúng tôi xuống dưới mức tối thiểu hồi bị vây hãm ở Hai Con Chim, Jamis đã chia sẻ nước.” Anh ta quay lại chỗ
của mình trong vòng người. Liệu mình có phải nói mình là bạn của Jamis không? Paul tự hỏi. Họ có chờ đợi mình lấy một món gì đó từ đống kia không? Cậu thấy những khuôn mặt quay về phía cậu rồi quay đi. Họ chờ đợi điều đó! Một người khác đối diện Paul đứng dậy, tiến lại chỗ chiếc túi, lấy chiếc cận la bàn ra. “Tôi từng là bạn của Jamis,” anh ta nói. “Khi đội tuần tra bắt gặp chúng tôi ở Khúc-Quanh-Mỏm-Đá và tôi bị thương, Jamis đã đánh bật chúng đi, nhờ vậy những người bị thương mới được cứu thoát.” Anh ta quay lại chỗ của mình
trong vòng người. Một lần nữa, những khuôn mặt quay về phía Paul, và cậu thấy sự chờ đợi trên những khuôn mặt đó, bèn cụp mắt xuống. Một cùi chỏ hích vào cậu và một giọng nói rít lên: “Anh muốn mang sự hủy diệt đến cho chúng ta sao?” Làm sao mình có thể nói mình là bạn của Jamis được? Paul tự hỏi. Một dáng người khác đứng lên từ trong vòng người, chỗ đối diện Paul, và khi khuôn mặt bị mũ trùm che khuất hiện ra dưới ánh sáng, cậu nhận ra mẹ cậu. Nàng lấy một chiếc khăn từ chỗ đống đồ vật.
“Tôi từng là bạn của Jamis,” nàng nói. “Khi linh hồn của các linh hồn bên trong anh ấy nhận ra những đòi hỏi của chân lý, linh hồn ấy đã rút lui và tha mạng cho con tôi.” Nàng quay về chỗ. Và Paul nhớ lại nỗi khinh miệt trong giọng nói của mẹ khi mẹ đối mặt cậu ngay sau trận chiến. “Làm kẻ giết người thì thấy thế nào?” Một lần nữa, cậu thấy những khuôn mặt quay về phía cậu, cảm thấy nỗi tức giận và e sợ trong đám đông. Một đoạn trong một cuốn sách phim mà mẹ từng cho cậu xem về “Sự tôn thờ người chết” thoáng qua tâm trí Paul. Cậu biết mình phải làm
gì. Chầm chậm, Paul đứng dậy. Một tiếng thở dài lan khắp vòng người. Càng tiến đến giữa vòng tròn, Paul càng cảm thấy cái tôi của mình thu nhỏ lại. Như thể cậu đã đánh mất một mảnh của chính mình và đang tìm nó ở đây. Cậu cúi xuống đống vật tùy thân, nhấc cây baliset lên. Một dây đàn khẽ bật lên khi chạm vào một cái gì đó trong đống đồ vật. “Tôi từng là bạn của Jamis,” Paul thì thầm.
Cậu cảm thấy nước mắt nóng hổi trong mắt cậu, buộc mình nói to hơn. “Jamis đã dạy tôi... rằng... khi ta giết người... ta phải trả giá. Tôi ước gì mình đã quen biết Jamis nhiều hơn.” Mò mẫm, cậu quay về chỗ của mình trong vòng người, ngồi bệt xuống nền đá. Một giọng khẽ vang lên: “Anh ta nhỏ nước mắt!” Lời đó được truyền đi khắp vòng người: “Usul trao hơi ẩm cho người đã khuất.” Cậu cảm thấy có những ngón tay chạm
vào bờ má còn ướt của cậu, nghe thấy những tiếng thì thầm kính sợ. Nghe thấy những giọng nói, Jessica nhận ra chiều sâu của điều người Fremen đang cảm nhận, hiểu rằng ở họ ắt phải có những cấm đoán kinh khủng đến nhường nào đối với việc để rơi nước mắt. Nàng tập trung chú ý vào câu: “Anh ấy trao hơi ẩm cho người đã khuất.” Nước mắt, đó là một món quà cho thế giới bóng tối. Không nghi ngờ gì nữa, nước mắt sẽ được tôn sùng. Không gì trên hành tinh này có thể khắc sâu vào tâm trí nàng một cách mạnh mẽ đến thế về giá trị tối thượng của nước.
Không phải những người bán nước dạo, không phải làn da khô héo của người dân bản xứ, không phải sa phục hay những quy định khắt khe của kỷ luật nước. Ở đây có một thứ tinh chất còn quý hơn mọi thứ, đó là bản thân sự sống và bện chặt quanh nó là biểu tượng, là nghi lễ. Nước. “Tôi đã sờ má anh ấy,” ai đó thì thầm. “Tôi cảm nhận được món quà.” Ban đầu, những ngón tay sờ mặt Paul khiến cậu sợ. Cậu siết chặt chiếc cần lạnh giá của cây đàn baliset, cảm thấy những dây đàn miết chặt đến đau nhói
vào lòng bàn tay cậu. Thế rồi cậu thấy những khuôn mặt phía trên những bàn tay mò mẫm đó - những đôi mắt mở to, kinh ngạc. Ngay sau đó, những bàn tay rụt lại. Tang lễ lại tiếp tục. Nhưng lúc này có một khoảng trống tinh tế xung quanh Paul, đám đông lùi lại, suy tôn cậu bằng một sự cách biệt đầy cung kính. Tang lễ kết thúc bằng những lời ngân nga khe khẽ: “Trăng tròn gọi anh... Anh sẽ nhìn thấy Shai-hulud;
Đêm đỏ ối, trời mờ tối. Anh đã chết đẫm máu. Chúng ta cầu nguyện trăng: mặt trăng tròn... Rồi chúng ta sẽ lắm vận may, Chúng ta tìm thứ gì sẽ tìm ra thứ đó Ở vùng đất rắn.” Bên chân Stilgar vẫn còn một cái túi căng phồng. Ông cúi xuống, đặt hai lòng bàn tay lên nó. Ai đó đến cạnh ông, cúi
xuống bên cùi chỏ ông, và Paul nhận ra khuôn mặt Chani trong bóng tối chiếc mũ trùm. “Jamis đã mang ba mươi ba phẩy bảy lít và ba trăm ba mươi phần sáu mươi dram nước của bộ tộc,” Chani nói. “Bây giờ ta ban phúc cho nó trước sự hiện diện của Sayyadina. Ekkeri-akairi, đây là nước, fillissin-follasy của Paul Muad’Dib! Kivi a-kavi, không bao giờ thêm nữa, nakalas! Nakelas! được đong đếm nữa, ukair-an! bởi những nhịp tim jan-jan-jan của Jamis, bằng hữu của chúng ta...” Trong im lặng đột ngột và sâu thẳm, Chani quay lại, nhìn đăm đăm vào Paul.
Ngay sau đó cô nói: “Nơi đâu tôi là lửa, người hãy là than. Nơi đâu tôi là sương, người hãy là nước.” “Bi-lal kaifa,” đám đông ngân nga. “Phần nước này trao cho Paul Muad’Dib,” Chani nói. “Hãy để anh ấy giữ gìn nó cho bộ tộc, bảo vệ nó, không để nó mất đi vì bất cẩn. Hãy để anh ấy hào phóng trao nó đi những lúc cần. Hãy để anh ấy trao lại nó vì lợi ích của bộ tộc khi thời khắc của anh ấy đến.” “Bi-lal kaifa,” đám đông ngân nga. Mình phải nhận chỗ nước đó, Paul nghĩ.
Chầm chậm, cậu đứng dậy, tiến lại bên Chani. Stilgar lùi lại nhường chỗ cho cậu, nhẹ nhàng lấy cây baliset từ tay cậu. “Quỳ xuống,” Chani nói. Paul quỳ xuống. Cô cầm tay cậu hướng về phía túi nước, để tay cậu sờ thấy bề mặt co giãn của túi. “Bộ tộc tin cậy trao cho anh chỗ nước này,” cô nói. “Jamis đã ra đi, để nó lại. Hãy thanh thản nhận lấy.” Cô đứng dậy, kéo Paul đứng theo. Stilgar trao lại cho cậu cây baliset, chìa ra một đống vòng kim loại nhỏ trên một
lòng bàn tay. Paul nhìn chúng, thấy có nhiều cỡ khác nhau, nhận thấy ánh đèn cầu phản chiếu trở lại từ chúng. Chani cầm chiếc vòng lớn nhất, tròng vào một ngón tay. “Ba mươi lít,” cô nói. Rồi cô lần lượt cầm lên từng cái một, vừa chìa cho Paul xem vừa đếm: “Hai lít; một lít; bảy mươi vòng đếm nước, mỗi vòng là một dram; một vòng đếm nước ba trăm ba mươi phần sáu mươi dram. Tổng cộng là ba mươi ba phẩy bảy lít và ba trăm ba mươi phần sáu mươi dram.” Cô chìa các chiếc vòng đeo trên ngón tay mình cho Paul thấy.
“Anh có nhận không?” Stilgar hỏi. Paul nuốt nước bọt, gật đầu. “Có.” “Sau này tôi sẽ chỉ cho anh cách buộc chúng vào khăn để chúng không khua lách cách làm anh bị lộ những lúc anh cần im lặng.” Cô chìa tay ra. “Cô... giữ hộ tôi được không?” Paul hỏi. Chani hoảng hốt quay lại nhìn Stilgar. Ông ta mỉm cười nói: “Paul Muad’Dib, cũng là Usul, chưa biết tập quán của chúng ta, Chani ạ. Hãy giữ các vòng đếm
nước của anh ấy, nhưng đừng cam kết gì cho tới khi chỉ cho anh ấy phải mang chúng bằng cách nào.” Cô gật đầu, rút một dải vải từ dưới chiếc áo choàng đang mặc ra, giắt vòng vào đó bằng những động tác đan xuống đan lên lắt léo, ngần ngừ một chút, rồi nhét tất cả vào trong thắt lưng dưới áo choàng. Mình đã bỏ sót cái gì đó, Paul nghĩ. Cậu cảm thấy một không khí hài hước xung quanh cậu, có sự bỡn cợt nào đó trong cái hài hước ấy, và tâm trí cậu bỗng kết nối tới một ký ức tiên tri: trao vòng đếm nước cho một phụ nữ - nghi thức tán tỉnh.
“Thầy quản nước,” Stilgar nói. Đám đông đứng dậy, áo dài khua sột soạt. Hai người đàn ông bước ra, nhấc túi nước lên. Stilgar tháo đèn cầu trên trần xuống, cầm nó dẫn đường đi sâu vào trong lòng hang. Paul bị đẩy vào đoàn người sau lưng Chani, lưu ý đến ánh sáng màu bơ trên những bức tường đá, những cái bóng nhảy múa, và cậu cảm thấy sự nâng đỡ linh hồn của đám đông hàm chứa trong một bầu không khí hối hả chờ đợi. Bị những bàn tay hăm hở lôi vào cuối đoàn người, bị vây tứ phía bởi những
thân mình xô đẩy, Jessica cố nén một khoảnh khắc hoảng hốt. Nàng đã nhận ra từng phần rời rạc của nghi lễ, xác định được những mẩu nhỏ tiếng Chakobsa và Bhotani-jib trong những lời nói, và nàng biết cái sức mạnh hoang dã có thể nổ bùng ra từ những khoảnh khắc có vẻ như bình thường kia. Jan-jan-jan, nàng nghĩ. Đi-đi-đi. Nó giống như một trò chơi trẻ con đã đánh mất mọi sự kiềm chế trong bàn tay người lớn. Stilgar dừng lại bên một bức tường đá màu vàng. Ông ấn lên một mấu đá lồi ra,
và bức tường lặng lẽ xoay vào trong, mở ra một vết nứt khác thường. Ông đi trước dẫn đường, băng qua một tấm lưới tối lỗ chỗ như tổ ong. Khi đi qua tấm lưới, Paul cảm thấy nó lùa một luồng không khí mát rượi lên người cậu. Paul quay lại nhìn Chani vẻ dò hỏi, kéo tay cô. “Không khí đó nghe ẩm,” cậu nói. “Su...u...ỵ...t...t”, cô thì thầm. Nhưng một người sau lưng họ nói: “Đêm nay có nhiều hơi ẩm trong bẫy. Đó là cách để Jamis bảo chúng ta rằng anh ấy hài lòng.”
Jessica đi qua cánh cửa bí mật, nghe nó đóng lại sau lưng nàng. Nàng nhận thấy người Fremen chậm bước lại lúc băng qua tấm lưới tổ ong, cảm nhận được sự ẩm ướt của không khí khi nàng đã sang tới phía bên kia. Bẫy gió! nàng nghĩ. Họ có một cái bẫy gió giấu ở đâu đó trên mặt đất để lùa không khí xuống đây, đến những chỗ mát hơn, nhằm thu hơi ẩm trong không khí. Họ đi qua một cánh cửa bằng đá khác phía trên có bức mành, và cửa đóng lại sau lưng họ. Luồng không khí sau lưng đem lại cảm giác ẩm ướt rõ rệt cho cả
Jessica lẫn Paul. Dẫn đầu đám đông, quả đèn cầu trong tay Stilgar thụt xuống thấp hơn tầm những đầu người đi trước Paul. Ngay sau đó cậu cảm thấy có những bậc thang dưới chân mình, quặt xuống về bên trái. Ánh sáng phản chiếu lại trên những cái đầu đội mũ trùm và trên chuyển động ngoằn ngoèo của đoàn người nối nhau xuống các bậc thang trôn ốc. Jessica cảm thấy nỗi căng thẳng ngày càng tăng ở những người xung quanh nàng, áp lực của nỗi im lặng riết róng làm nhức nhối dây thần kinh của nàng.
Những bậc thang kết thúc khi đoàn người băng qua một cánh cửa thấp khác. Ánh đèn cầu giờ đây bị nuốt chửng trong một không gian rộng lớn có trần cao uốn cong. Paul cảm thấy Chani đặt tay lên cánh tay cậu, nghe thấy tiếng nước chảy tí tách trong bầu không khí mát lạnh, cảm thấy một sự nín lặng tuyệt đối bao trùm lấy những người Fremen trước sự hiện diện đầy thánh thiêng của nước. Mình đã thấy nơi này trong một giấc mơ, cậu nghĩ. Ý nghĩ đó khiến cậu vừa an lòng vừa thất
vọng. Ở đâu đó đằng trước cậu trên con đường này, những đoàn quân cuồng tín xẻ con đường đẫm máu xuyên qua vũ trụ dưới tên cậu. Ngọn cờ xanh đen của nhà Atreides sẽ trở thành biểu tượng của nỗi kinh hoàng. Những binh đoàn hung bạo sẽ xung trận mồm thét vang: “Muad’Dib!” Điều đó không thể xảy ra, cậu nghĩ. Mình không thể để nó xảy ra. Nhưng cậu cảm thấy được cái ý thức dòng giống riết róng đòi hỏi bên trong cậu, cái mục đích kinh khủng của chính cậu, và cậu biết không một thứ nhỏ nhặt nào làm chệch hướng nổi cái cỗ xe hủy
diệt tàn khốc đó. Nó đang ngày càng nặng hơn, đà tiến càng mạnh mẽ hơn. Nếu cậu chết ngay trong khoảnh khắc này, vật đó sẽ cán qua mẹ và đứa em gái chưa chào đời của cậu. Không gì ngăn nổi vật đó, ngoại trừ cái chết của toàn bộ đám đông đang tụ tập ở đây, kể cả chính cậu và mẹ cậu. Paul nhìn quanh, thấy đám đông giãn ra thành một hàng. Họ đẩy cậu lên phía trước về phía một hàng rào thấp tạc từ đá tự nhiên. Bên kia hàng rào, dưới ánh sáng quả đèn cầu trong tay Stilgar, Paul thấy một mặt nước tối thẫm phẳng lặng. Nó trải dài vào trong bóng tối - đen ngòm, sâu thẳm - bức tường đằng xa chỉ
hiện lên mờ mờ, có lẽ cách chừng một trăm mét. Jessica cảm thấy làn da khô nẻ trên má và trán mình dễ chịu hẳn đi trước sự hiện diện của hơi ẩm. Hồ nước khá sâu; nàng cảm thấy được độ sâu của nó; và cố cưỡng lại mong muốn ngâm tay vào đó. Một tiếng nước bắn tóe vang lên phía bên trái nàng. Nàng nhìn xuống hàng người Fremen mờ tỏ trong ánh sáng nhá nhem thì thấy Stilgar cùng Paul đứng bên cạnh và các thầy quản nước đang đổ chỗ nước họ mang theo xuống hồ qua một lưu lượng kế. Cái lưu lượng kế là một con mắt tròn màu xám trên mép hồ. Nàng thấy
mũi tên lấp lánh của nó di động khi nước chảy qua, thấy mũi tên dừng lại ở mức ba mươi ba lít, bảy dram và ba trăm ba mươi phần sáu mươi dram. Cực kỳ chính xác khi đếm nước, Jessica nghĩ. Và nàng lưu ý thấy vách máng dẫn nước của chiếc lưu lượng kế không giữ lại dấu vết nào của hơi ẩm sau khi nước đi qua. Nước chảy ra khỏi những vách đó mà không cần tới áp lực bắt buộc. Nàng nhận ra một manh mối sâu xa về kỹ thuật của người Fremen ở sự kiện giản đơn này: họ là những kẻ cầu toàn. Jessica tiến về phía hàng rào, đến bên cạnh Stilgar. Người ta nhường lối cho
nàng một cách nhã nhặn tự nhiên. Nàng để ý thấy cái nhìn lãnh đạm trong mắt Paul, nhưng sự bí ẩn của cái hồ nước vĩ đại này đã choán hết ý nghĩ của nàng. Stilgar nhìn nàng. “Trong chúng tôi có nhiều người cần nước,” ông nói, “nhưng họ chỉ tới đây mà không đụng tới nước. Bà có biết điều đó không?” “Tôi tin điều đó,” nàng nói. Ông nhìn cái hồ. “Chúng tôi có hơn ba mươi tám triệu đê ca lít ở đây,” ông nói. “Chúng tôi xây tường ngăn để ngăn ngừa các Ngài tạo bé, để giấu kỹ và bảo vệ nước này.”
“Cả một kho báu,” nàng nói. Stilgar nhấc cao quả đèn cầu lên để nhìn thẳng vào mắt nàng. “Nó còn hơn cả kho báu nữa. Chúng tôi có hàng ngàn nơi trữ nước như vậy. Chỉ vài người trong chúng tôi biết hết những nơi ấy.” Ông nghếch đầu sang một bên. Quả đèn cầu hắt một ánh sáng mờ màu vàng qua mặt và râu ông. “Nghe thấy không?” Họ lắng nghe. Tiếng nước tí tách rỏ từ bẫy gió xuống ngự trị toàn không gian nơi đây. Jessica nhận thấy cả đám đông háo hức lắng
nghe. Chỉ có Paul dường như ở đâu đó rất xa. Với Paul, âm thanh đó như thể từng khoảnh khắc một đang tích tắc trôi qua. Cậu cảm thấy thời gian đang tuôn qua cậu, những khoảnh khắc không bao giờ tóm bắt lại được. Cậu cảm thấy cần phải quyết định, nhưng thấy mình bất lực không thể nhúc nhích. “Nó được tính toán chi li chính xác,” Stilgar thì thầm. “Chúng tôi biết rõ mình cần bao nhiêu triệu đê ca lít. Chừng nào có đủ, chúng tôi sẽ thay đổi bộ mặt của Arrakis.”
Một tiếng thì thầm đáp lại từ phía đám đông: “Bi-lal kaifa!” “Chúng tôi sẽ giam các đụn cát dưới những thảm cỏ,” Stilgar nói, giọng càng lúc càng mạnh mẽ. “Chúng tôi sẽ trói buộc nước vào đất nhờ cây cối - cây trên cao, cây dưới thấp.” “Bi-lal kaifa,” đám đông ngân nga. “Mỗi năm băng ở hai cực sẽ một lùi dần,” Stilgar nói. “Bi-lal kaifa,” đám đông ngân nga. “Chúng tôi sẽ biến Arrakis thành thế giới
quê hương, có những thấu kính làm tan băng ở các cực, có những hồ nước ở vùng ôn đới, chỉ dành sa mạc sâu cho Ngài tạo và hương dược của người.” “Bi-lal kaifa.” “Và không một ai còn phải đòi nước nữa. Nước sẽ có ê hề thỏa thích cho anh ta dưới giếng, dưới hồ ao, kênh rạch. Nước sẽ từ kênh dẫn nước tuôn ra tưới cho cây trái của chúng tôi. Nước sẽ luôn sẵn đó, ai cần thì lấy. Nước là của anh ta, chìa tay ra là có.” “Bi-lal kaifa.”
Jessica cảm thấy cái nghi thức tôn giáo trong những lời đó, nhận thấy phản xạ kính sợ theo bản năng của chính mình. Họ liên minh với tương lai, nàng nghĩ. Họ có ngọn núi của chính họ để trèo. Đây là giấc mơ của nhà khoa học... thế mà những con người giản dị này, những nhà nông này, lòng tràn ngập giấc mơ đó. Ý nghĩ của nàng quay lại Liet-Kynes, nhà sinh thái học hành tinh của Hoàng đế, con người đã trở thành dân bản xứ ở đây - và nàng lấy làm lạ về ông ta. Đó là một giấc mơ xâm chiếm linh hồn con người, và nàng cảm thấy có bàn tay của nhà sinh thái học kia ở trong đó. Đó là một giấc
mơ mà vì nó người ta có thể sẵn sàng chết. Đó là một thành tố khác trong những thành tố cơ bản mà nàng cảm thấy con trai nàng cần phải có: một dân tộc có chung một mục đích. Một dân tộc như vậy sẽ dễ thấm nhuần sự nhiệt thành và cuồng tín. Có thể sử dụng họ làm thanh gươm để giành lại cho Paul vị trí lẽ ra thuộc về cậu. “Giờ chúng ta sẽ đi khỏi đây,” Stilgar nói, “và đợi đến khi vầng trăng đầu tiên mọc. Khi Jamis đã lên đường an toàn, chúng ta sẽ về nhà.” Đám đông vừa xì xầm tỏ vẻ miễn cưỡng vừa theo chân ông, quay lưng lại phía
hàng rào ngăn hồ nước, đi lên các bậc thang. Và Paul, bước cạnh Chani, cảm thấy một khoảnh khắc có tầm quan trọng sống còn đã lướt qua cậu, cảm thấy cậu đã bỏ qua một quyết định hệ trọng và giờ đây cậu kẹt trong huyền thoại về chính mình. Cậu biết mình đã thấy nơi này trước đây, đã trải nghiệm nó trong một mảnh giấc mơ tiên tri từ hồi ở Caladan xa xôi, song các chi tiết về nơi đó thì hồi ấy cậu chưa nhìn thấy, mãi bây giờ, ở đây mới được thêm vào. Cậu cảm thấy một cảm giác kinh ngạc mới mẻ về những giới hạn của khả năng mình. Như thể cậu đang cưỡi trên con sóng thời gian, khi thì tụt xuống
bụng sóng, khi thì trồi lên đỉnh sóng - tứ phía xung quanh cậu những con sóng khác dềnh lên hạ xuống, phơi ra rồi lại giấu đi ngay những gì chúng mang trên bề mặt. Qua tất cả những cái đó, cuộc thánh chiến điên cuồng vẫn lù lù trước mặt cậu, bạo lực và giết chóc. Nó như một doi đất sừng sững trên đỉnh sóng. Đám người lũ lượt kéo qua cánh cửa sau cùng dẫn vào hang chính. Cánh cửa bị niêm phong. Đèn đã tắt hết, màn che được tháo khỏi cửa hang, để lộ màn đêm và những ngôi sao đã xuất hiện phía trên sa mạc.
Jessica tiến lại chỗ mép cửa hang khô khốc, nhìn lên những vì sao. Chúng trông thật gần, thật sắc nét. Nàng cảm thấy đám đông rục rịch quanh mình, nghe thấy đâu đó cạnh nàng có tiếng lên dây đàn baliset, và giọng Paul ngân nga từng nốt. Trong giọng cậu có một nỗi u sầu mà nàng không thích. Giọng Chani vang lên từ bóng tối dày đặc của hang: “Kể cho em nghe về nước ở quê hương anh đi, Paul Muad’Dib.” Và giọng Paul: “Khi khác nhé, Chani. Tôi hứa.”
Buồn quá đỗi. “Cây đàn tốt đấy,” Chani nói. “Rất tốt,” Paul nói. “Theo em, nếu tôi dùng nó thì liệu Jamis có phiền lòng không?” Nó nói về người đã khuất như thể anh ta vẫn đang sống, Jessica nghĩ. Ẩn ý trong câu nói khiến nàng thấy bứt rứt. Một giọng đàn ông cất lên: Thỉnh thoảng anh ta thích nhạc, Jamis ấy. “Vậy thì hát em nghe một bài của anh đi,” Chani nói.
Cái giọng trẻ con-thiếu nữ kia có sức quyến rũ thật đàn bà, Jessica nghĩ. Mình phải cảnh cáo Paul về đám phụ nữ Fremen... mà phải nhanh lên. “Đây là bài hát của một người bạn tôi,” Paul nói. “Chắc lúc này ông ấy chết rồi, ông ấy là Gurney. Ông ấy gọi đây là bài hát nguyện buổi chiều.” Đám đông nín lặng, lắng nghe Paul cất giọng nam cao thiếu niên ngọt ngào, với tiếng cửu huyền cầm bập bùng, lảnh lót đệm theo: “Đây là lúc nhìn rõ nhất những mẩu
than âm ỉ Mặt trời vàng biến mất trong bóng chiều chạng vạng. Ôi cảm xúc điên cuồng, mùi xạ hương nồng nặc Là bạn đời của nỗi nhớ nhung.” Jessica cảm thấy cái âm nhạc bằng lời đó trong ngực mình - ngoại giáo và đầy những âm thanh khiến nàng ý thức về chính mình một cách đột ngột và mạnh mẽ, cảm thấy cơ thể mình và những nhu cầu của nó. Nàng lắng nghe với sự im lặng căng thẳng.
“Lễ cầu hồn lư hương ngọc trai của bóng đêm... Dành cho chúng ta! Niềm vui nào lướt qua mau - Sáng trong cặp mắt em... Tình yêu dát hoa nào Làm thắt tim ta... Tình yêu dát hoa nào Choán ngợp lòng khao khát của ta.”
Và Jessica nghe thấy cái dư-âm-im-lặng kêu o o trong không khí cùng nốt nhạc cuối cùng. Tại sao con ta hát một bản tình ca cho đứa trẻ-thiếu nữ đó? nàng tự hỏi. Nàng đột nhiên thấy sợ. Nàng cảm thấy sự sống tuôn chảy quanh mình mà nàng không sao kiểm soát được. Tại sao nó lại chọn bài ấy? nàng tự hỏi. Đôi khi bản năng cũng đúng. Tại sao nó làm vậy? Paul ngồi câm lặng trong bóng tối, một ý nghĩ nghiệt ngã duy nhất ngự trị trong ý thức cậu: Mẹ ta là kẻ thù của ta. Bà không biết điều đó, nhưng bà chính là như vậy. Bà đang mang lại cuộc thánh
chiến. Bà sinh ra ta; bà huấn luyện ta. Bà là kẻ thù của ta.
Ý niệm về sự tiến bộ vận hành như một cơ chế phòng vệ nhằm che chắn chúng ta trước những nỗi kinh hoàng của tương lai. - trích “Tuyển Dụ ngôn của Muad’Dib” của Công chúa Irulan Vào sinh nhật thứ mười bảy, FeydRautha Harkonnen giết chết tay đấu sĩ-nô lệ thứ một trăm trong cuộc thi đấu của gia tộc. Có những vị khách từ triều đình - Bá tước Fenring cùng Phu nhân - đang có mặt ở hành tinh quê nhà Giedi Prime của gia tộc Harkonnen để chứng kiến sự kiện
này, họ được mời dự khán cùng những nhân vật trọng yếu của gia tộc trong lô danh dự bằng vàng phía trên đấu trường hình tam giác. Để tỏ lòng trân trọng đối với sự ra đời của vị chuẩn Nam tước và nhắc nhở mọi người trong gia tộc Harkonnen cũng như mọi thần dân rằng Feyd-Rautha là người thừa kế chính thức, hôm nay là ngày lễ trên toàn Giedi Prime. Vị Nam tước già đã ra chiếu chỉ cho phép người lao động từ kinh tuyến này đến kinh tuyến nọ được nghỉ làm; và tại thành phố chôn nhau cắt rốn của gia tộc Harko, người ta ra sức tạo ra ảo tưởng về sự vui vẻ hội hè: cờ bay phấp phới trên các tòa nhà, những
bức tường dọc Đường Cung đình được phun sơn mới. Nhưng bên ngoài con đường chính, Bá tước Fenring cùng phu nhân để ý thấy những đống rác, những bức tường nâu xỉn sần sùi phản chiếu vào những vũng nước đen ngòm trên đường phố, và vẻ nháo nhác có gì đó như vụng trộm của người dân. Trong thành lũy bọc tường xanh của Nam tước có sự hoàn hảo đến đáng sợ, nhưng Bá tước cùng phu nhân vẫn nhận ra cái giá phải trả để có được điều đó - đâu đâu cũng lính gác, đâu đâu cũng vũ khí, những vũ khí mang cái tia óng ánh đặc
biệt mà con mắt sành sỏi sẽ nhận ra rằng chúng được sử dụng thường xuyên. Có những trạm kiểm soát để kiểm tra người qua kẻ lại từ khu vực này sang khu vực kia trong nội bộ lâu đài. Ngay các đầy tớ cũng để lộ ra họ đã được huấn luyện quân sự, qua cách họ đi, qua dáng dấp đôi vai họ... qua cái kiểu cặp mắt họ cứ không ngừng quan sát, quan sát, quan sát mãi. “Áp lực đang đè nặng,” Bá tước thì thầm với phu nhân bằng thứ mật ngữ của họ. “Nam tước chỉ mới bắt đầu nhận ra cái giá hắn ta phải trả để rũ bỏ Công tước Leto khỏi hắn.”
“Lúc nào đó em phải kể lại cho anh truyền thuyết về phượng hoàng,” cô nói. Họ đang ở trong sảnh lễ tân của lâu đài, đợi đi xem cuộc thi đấu của gia tộc. Sảnh không rộng lắm - có lẽ dài bốn mươi mét và rộng hai mươi mét - song các cây cột giả dọc hai bên tường có đầu cột vuốt thon đột ngột, trần nhà có hình vòm cung tinh tế, tạo ra ảo tưởng một không gian lớn hơn nhiều. “Ái chà chà, Nam tước tới đây rồi,” Bá tước nói. Nam tước đang đi dọc theo chiều dài của sảnh lễ tân, với cái dáng đi vừa êm lướt
vừa lạch bạch chẳng giống ai do nhu cầu phải dẫn dắt cái trọng lượng được nâng bằng bộ đai treo. Xương hàm ngài bập bềnh lên xuống; các bộ đai treo cứ đong đưa xộc xệch bên dưới tấm áo choàng màu cam. Tay ngài đeo đầy nhẫn lấp lánh, những viên ngọc opafire thêu vào bộ áo choàng sáng lên óng ánh. Đi sát nách Nam tước là Feyd-Rautha. Mái tóc sẫm màu của cậu vấn thành những lọn tóc quăn dày đặc trông vui mắt dường như không hợp với cặp mắt rầu rĩ. Cậu mặc áo choàng đen thắt ngang lưng ôm sát người, quần chật bó, dưới gấu quần hình như có đính chuông. Đôi giày đế mềm che kín hai bàn chân nhỏ.
Để ý tới tư thế của chàng trai trẻ và chuyển động chắc nịch của cơ bắp dưới tấm áo choàng, Phu nhân Fenring tự nhủ: Đây là người sẽ không để mình bị béo. Nam tước dừng lại trước mặt họ, vừa nắm cánh tay Feyd-Rautha ra điều sở hữu vừa nói: “Đây là cháu tôi, chuẩn Nam tước Feyd-Rautha Harkonnen.” Rồi ngài quay bộ mặt bụ bẫm như con nít về phía Feyd-Rautha mà nói: “Đây là vợ chồng Bá tước Fenring mà ta đã nói với cháu.” Feyd-Rautha khẽ cúi đầu theo nghi thức. Cậu nhìn đăm đăm Phu nhân Fenring. Cô
có mái tóc vàng óng, dáng người uyển chuyển, tấm thân hoàn hảo vận chiếc áo chảy dài bằng vải mộc - cách phục trang giản dị phù hợp khi không mang đồ trang sức. Đôi mắt xanh xám nhìn lại cậu. Cô có phong thái ung dung tự tại kiểu Bene Gesserit khiến chàng trai cảm thấy hơi xáo động. “E-hè-è-è-è-è-m-m-m-m-m-m,” Bá tước nói. Ông ta săm soi Feyd-Rautha. “Chính, e-hè-è-è-m-m-m, chính là chàng trai trẻ này... e-hè-è-m-m-m... hở ông bạn thân mến?” Bá tước liếc nhìn Nam tước. “Nam tước thân mến, ông bảo ông đã nói cho chínhanh bạn trẻ này nghe về chúng tôi sao? Ông đã nói gì?”
“Tôi đã nói với cháu tôi rằng Bá tước Fenring rất được Hoàng đế quý mến,” Nam tước nói. Và ngài nghĩ: Lưu ý hắn ta cho kỹ vào, Feyd! Một tên giết người mang cung cách một con thỏ - đấy chính là loại nguy hiểm nhất. “Dĩ nhiên rồi!” Bá tước nói, rồi mỉm cười với vợ. Feyd-Rautha nhận thấy hành vi và lời nói của con người này gần như là xấc xược. Chúng chỉ còn thiếu chút nữa là đi đến chỗ không úp mở khiến người ta dễ nhận ra. Chàng trai trẻ tập trung chú ý vào Bá tước: một người bé nhỏ, trông ẻo lả. Mặt
choắt như mặt chồn, cặp mắt màu thẫm thì lại quá to. Hai bên thái dương có tóc bạc. Lại còn cử động của ông ta nữa - ông ta giơ một tay lên hoặc xoay đầu hướng này song khi nói thì lại xoay hướng khác. Khó mà theo dõi được. “E-hè-è-è-è-è-m-m-m-m-m-m, ông hiếm khi nói năng được, e-hè-è-è-m-m-m... chính xác đến như thế,” Bá tước nói, mắt ngó qua vai Nam tước. “Tôi, ờ, xin chúc mừng ông về e-hè-è-m-m về sự hoàn hảo của ờ-ờ của người thừa kế của ông. Dưới ánh sáng của e-hè-è-m-m-m bậc trưởng thượng, có thể nói vậy.” “Ngài thật tử tế,” Nam tước nói. Ngài
cúi mình, nhưng Feyd-Rautha nhận thấy ánh mắt ngài không ăn nhập với cử chỉ lịch thiệp đó. “Mỗi khi ông e-hè-è-m-m-m mỉa mai, có nghĩa là ờ-ờ ông đang e-hè-è-m-m-m nghĩ những điều sâu sắc,” Bá tước nói. Hắn lại thế nữa, Feyd-Rautha nghĩ. Nghe cứ như hắn đang xúc phạm người ta, nhưng người ta chẳng thể nào thách đấu cho thỏa hận. Nghe người này nói, Feyd-Rautha có cảm giác ai đó đang dúi đầu cậu vào bột nhão... e-hè-è-è-ờ-ờ-m-m-m-m! FeydRautha chuyển sang chú mục vào Phu
nhân Fenring. “Chúng tôi à-ờ đang chiếm quá nhiều thời gian của chàng trai trẻ này,” cô nói. “Tôi hiểu hôm nay cậu ấy sẽ phải ra đấu trường.” So với một mỹ nhân trong hậu cung, cô ả thật đáng yêu! Feyd-Rautha nghĩ. Cậu nói: “Hôm nay tôi sẽ giết một mạng người cho Phu nhân. Tôi sẽ cung hiến điều đó cho Phu nhân trên đấu trường, nếu Phu nhân cho phép.” Cô điềm tĩnh nhìn lại cậu đăm đăm, nhưng giọng cô như một nhát roi quất: “Ta không cho phép cậu.”
“Feyd!” Nam tước nói. Và ngài nghĩ: Cái thằng ôn vật! Nó muốn lão Bá tước chết giẫm này thách đấu nó hay sao chớ? Nhưng Bá tước chỉ mỉm cười mà nói: “E-hè-è-è-è-è-m-m-m-m-m-m.” “Đúng là cháu phải chuẩn bị cho trận đấu đi, Feyd,” Nam tước nói. “Cháu phải nghỉ ngơi, đừng làm những trò mạo hiểm ngu ngốc.” Feyd-Rautha cúi chào, mặt sạm lại vì phẫn uất. “Cháu tin chắc mọi chuyện sẽ như Người mong muốn, thưa Bá phụ.”
Cậu gật đầu với Bá tước Fenring. “Thưa Chúa công.” Với Phu nhân: “Thưa Phu nhân.” Và cậu xoay người, sải bước ra khỏi phòng lễ tân, gần như không thèm liếc sang đám Tiểu Gia tộc đang đứng gần cánh cửa đôi. “Nó còn trẻ quá,” Nam tước thở dài. “E-hè-è-è-è-è-m-ờ-ờ đúng vậym-m-mm-m,” Bá tước nói. Và Phu nhân Fenring nghĩ: Liệu đó có thể là chàng trai trẻ mà Mẹ Chí tôn muốn nói không? Có phải chính đó là dòng máu mà chúng ta phải bảo tồn?
“Còn hơn một giờ nữa chúng ta mới phải ra đấu trường,” Nam tước nói. “Hẳn bây giờ chúng ta có thể trò chuyện một chút, thưa Bá tước Fenring.” Ngài nghênh cái đầu đồ sộ sang bên phải. “Tình hình có nhiều tiến triển cần phải thảo luận.” Và Nam tước nghĩ: Giờ ta hãy xem thằng nhãi chạy việc vặt cho Hoàng đế sẽ làm cách nào để trình bày khúc chiết cái thông điệp hắn mang theo mà không đần độn tới mức nói toẹt ra ngay tắp lự. Bá tước nói với vợ: “E-hè-è-è-ờ-ờ-mm-m-m-m, em cho à-ừ-m anh nói chuyện riêng với Nam tước được không, em
yêu?” “Mỗi một ngày, thậm chí có khi mỗi một giờ đều đem lại đổi thay,” cô nói. “E-hèè-è-m-m-m.” Và cô mỉm cười ngọt ngào với Nam tước rồi quay đi. Bộ váy dài cô mặc kêu loạt xoạt, và cô bước đi bằng dáng điệu cao sang, lưng thẳng tắp, tiến về phía cánh cửa đôi ở cuối phòng. Nam tước để ý thấy mọi cuộc chuyện trò của đám Tiểu Gia tộc đứng ở gần đó đều im bặt khi cô lại gần, thấy những cặp mắt dõi theo cô. Bene Gesserit! Nam tước nghĩ. Vũ trụ này sẽ tốt hơn nếu tống khứ được hết bọn họ đi!
“Có một nón lặng giữa hai cây cột ở đằng kia, bên trái chúng ta,” Nam tước nói. “Ta có thể trò chuyện ở đó mà không sợ ai nghe trộm.” Ngài lạch bạch dẫn đường về phía khu vực có giảm âm, cảm thấy những tiếng ồn của lâu đài trở nên đùng đục, xa xăm. Bá tước lại gần đứng cạnh Nam tước, và họ quay lưng lại, đối diện bức tường để không ai đọc được môi họ. “Bọn ta không hài lòng về cái kiểu ông ra lệnh cho quân Sardaukar rời khỏi Arrakis,” Bá tước nói. Nói thẳng thừng nhỉ! Nam tước nghĩ.
“Quân Sardaukar không thể nán lại thêm nữa, bằng không những kẻ khác sẽ biết Hoàng đế đã giúp đỡ tôi ra sao,” Nam tước nói. “Nhưng thằng cháu Rabban của ông không có vẻ gì là đang nỗ lực ráo riết tìm giải pháp cho vấn đề bọn Fremen.” “Hoàng đế muốn gì nào?” Nam tước hỏi. “Chỉ còn một nhúm Fremen sót lại trên Arrakis, không hơn. Sa mạc phía Nam không ở được. Sa mạc phía Bắc thì thường xuyên bị lính tuần của chúng tôi rà soát.”
“Ai bảo sa mạc phía Nam không ở được?” “Chính nhà hành tinh học của ngài nói thế, Bá tước thân mến ạ.” “Nhưng Tiến sĩ Kynes chết rồi.” “À, vâng... thật không may.” “Chúng tôi nhận được báo cáo từ một đội do thám bay trên khu vực phía Nam,” Bá tước nói. “Có bằng chứng là ở đó có cây cỏ mọc.” “Vậy thì Hiệp hội đã chấp thuận quan sát từ trên không chưa?”
“Chuyện đó thì ông biết quá rồi còn gì, Nam tước. Về mặt pháp lý Hoàng đế không thể đặt trạm quan sát Arrakis được.” “Tôi thì cũng không làm được,” Nam tước nói. “Đội bay do thám đó là ai vậy?” “Một... tàu buôn lậu.” “Ai đó nói dối ngài đấy, thưa Bá tước,” Nam tước nói. “Bọn buôn lậu không thể nào đi lại trên vùng phía Nam giỏi hơn người của Rabban được. Bão tố, nhiễu động cát, lại còn bao nhiêu thứ nữa, ngài
biết mà. Các dấu hiệu dẫn đường chưa lắp đặt xong thì đã bị giật đổ mất rồi.” “Chúng ta sẽ bàn về các loại hình nhiễu động vào khi khác,” Bá tước nói. Ái chà chà, Nam tước nghĩ. “Vậy thì ngài thấy báo cáo của tôi có nhầm lẫn ư?” ngài hỏi. “Khi ông tưởng tượng ra những sai lầm thì không thể có sự tự vệ nào,” Bá tước nói. Hắn ta cố ý buộc mình phải giận sôi lên, Nam tước nghĩ. Ngài hít hai hơi dài để tự trấn tĩnh. Ngài ngửi thấy mồ hôi
của chính mình, và khung bộ đai treo dưới áo choàng của ngài tự dưng làm ngài ngứa ngáy khó chịu. “Hoàng đế không thể không vui về cái chết của bà hầu thiếp và thằng bé,” Nam tước nói. “Họ đã trốn vào sa mạc. Một trận bão đã xảy ra.” “Phải, có quá nhiều sự ngẫu nhiên thuận lợi.” Bá tước tán thành. “Tôi không thích giọng điệu ngài, thưa Bá tước,” Nam tước nói. “Tức giận là một chuyện, bạo lực là chuyện khác,” Bá tước nói. “Để tôi cảnh
cáo ông nhé: Nếu tôi gặp bất cứ sự cố không may nào ở đây, tất cả các Đại Gia tộc đều sẽ biết ông đã làm gì trên Arrakis. Từ lâu họ đã hoài nghi cái kiểu làm ăn của ông rồi.” “Vụ làm ăn duy nhất gần đây mà tôi nhớ là chuyên chở vài binh đoàn Sardaukar đến Arrakis,” Nam tước nói. “Ông nghĩ ông có thể cứ làm như vậy trên đầu Hoàng đế sao?” “Tôi không hề nghĩ thế!” Bá tước mỉm cười. “Người ta có thể tìm được những chỉ huy Sardaukar sẵn sàng
thú nhận họ hành động không có lệnh trên bởi họ muốn đánh nhau với lũ khốn Fremen nhà ông.” “Nhiều người có thể nghi ngờ một lời thú nhận như vậy,” Nam tước nói, nhưng lời đe dọa đó khiến ngài choáng váng. Bọn Sardaukar có kỷ luật đến thế thật sao? ngài tự hỏi. “Hoàng đế muốn cho kiểm toán sổ sách của ông,” Bá tước nói. “Lúc nào cũng được.” “Ông... ờ... không phản đối à?”
“Không. Ban giám đốc Công ty CHOAM của tôi sẽ chấp nhận sự kiểm tra nghiêm ngặt nhất.” Và ngài nghĩ: Cứ để hắn đưa ra một lời buộc tội dối trá chống lại ta và để cho nó bị vạch trần. Ta sẽ đứng đó, vững như bàn thạch mà nói: “Nhìn tôi xem, tôi đã bị vu oan giá họa.” Thế rồi cứ để hắn buộc tội ta lần nữa, thậm chí là buộc tội đúng. Các Đại Gia tộc sẽ không còn tin ở lời buộc tội thứ hai của một kẻ từng bị chứng minh là vu oan kẻ khác. “Nhất định sổ sách của các ông sẽ bị kiểm tra hết sức nghiêm ngặt,” Bá tước lẩm bẩm.
“Tại sao Hoàng đế lại quan tâm đến việc hủy diệt người Fremen đến thế?” Nam tước hỏi. “Ông muốn đổi chủ đề hử?” Bá tước nhún vai. “Ấy là bọn Sardaukar muốn, chứ không phải Hoàng đế muốn. Chúng cần phải thực tập việc giết người... với lại chúng rất ghét phải thấy một nhiệm vụ dang dở.” Hắn nghĩ sẽ làm ta sợ bằng cách nhắc ta rằng hắn được những tên giết người khát máu ủng hộ sao? Nam tước tự hỏi. “Xưa nay giết chóc ở mức độ nhất định luôn luôn là một phần quan trọng của
kinh doanh,” Nam tước nói, “nhưng phải vạch ra giới hạn ở đâu đó. Vẫn phải để lại ai đó để khai thác hương dược chứ.” Bá tước bật ra một tiếng cười lớn cộc lốc. “Ông nghĩ ông có thể điều khiển được lũ Fremen à?” “Bọn chúng chưa bao giờ đủ đông để làm việc đó,” Nam tước nói. “Nhưng việc giết chóc đã khiến cho số dân còn lại của tôi ăn không ngon ngủ không yên. Nó đã lên đến mức khiến tôi phải cân nhắc một giải pháp khác để giải quyết vấn nạn Arrakis, Bá tước Fenring thân mến ạ. Và tôi phải thừa nhận rằng Hoàng đế xứng đáng được coi là người đã gợi
cho tôi ý tưởng này.” “Hư-ử-ử?” “Ngài thấy đấy, Bá tước, tôi có hành tinh giam tù của Hoàng đế, Salusa Secundus, làm nguồn gợi ý cho tôi.” Bá tước nhìn trừng trừng ông ta, mắt sáng quắc. “Giữa Arrakis với Salusa Secundus thì có thể có mối liên hệ nào chứ?” Nam tước cảm thấy sự cảnh giác trong ánh mắt Bá tước, liền nói: “Chưa có mối liên hệ nào.”
“Chưa ư?” “Ngài phải thừa nhận rằng đó hẳn là cách phát triển một lực lượng lao động đông đảo trên Arrakis - sử dụng nơi này làm một hành tinh giam tù.” “Ông dự đoán số tù nhân sẽ tăng lên sao?” “Đã có những cuộc bạo loạn,” Nam tước thừa nhận. “Tôi đã phải bóp chết chúng khá là tàn nhẫn, Fenring ạ. Nói gì thì nói, ngài biết cái giá tôi phải trả cho đám Hiệp hội chết giẫm kia để họ chuyển quân đội chung của chúng ta đến Arrakis. Khoản tiền đó phải từ đâu đó mà ra
chứ.” “Tôi đề nghị ông không dùng Arrakis làm hành tinh giam tù nếu không được Hoàng đế cho phép, Nam tước ạ.” “Dĩ nhiên là không,” Nam tước nói, và ngài tự hỏi tại sao giọng của Bá tước bỗng dưng lạnh nhạt thế. “Còn một chuyện khác,” Bá tước nói. “Chúng tôi được biết Mentat của Công tước Leto là Thufir Hawat không chết mà đang được ông dùng.” “Tôi không thể cho phép mình bỏ phí ông ta,” Nam tước nói.
“Ông đã nói dối chỉ huy Sardaukar của chúng tôi rằng Hawat đã chết.” “Chỉ là nói dối vô hại thôi, Bá tước kính mến. Tôi chẳng có bụng dạ nào đôi co dông dài với anh ta.” “Hawat có phải kẻ phản bội thật không?” “Ồ, lạy chúa, không! Chính tay bác sĩ phản trắc kia mới là kẻ phản bội.” Nam tước lau mồ hôi trên cổ. “Ngài phải hiểu, Fenring ạ, vừa rồi tôi không có Mentat. Ngài biết mà. Xưa nay tôi chưa bao giờ không có Mentat cả. Đó là điều tôi bứt rứt hơn hết.”
“Làm cách nào ông khiến Hawat chuyển lời thệ nguyện trung thành sang kẻ khác được?” “Công tước của ông ta đã chết.” Nam tước gượng cười. “Chẳng có gì phải sợ Hawat cả, thưa Bá tước kính mến. Thịt tay Mentat đó đã bị cấy một độc dược ngầm. Cứ mỗi bữa ăn chúng tôi lại cho một liều giải độc vào thức ăn của ông ta. Nếu không có thuốc giải, độc dược sẽ phát tác và trong vòng vài ngày ông ta sẽ chết.” “Đừng cho thuốc giải nữa,” Bá tước nói.
“Nhưng ông ta có ích!” “Và ông ta biết quá nhiều điều mà những kẻ còn sống không nên biết.” “Ngài đã nói Hoàng đế không sợ bị vạch mặt cơ mà.” “Đừng đùa với tôi, Nam tước!” “Khi nào tôi thấy có chỉ dụ mang dấu triện của Hoàng đế, tôi sẽ tuân theo,” Nam tước nói. “Nhưng ý thích bốc đồng của ngài thì tôi không phục tùng đâu.” “Ông cho đó là ý thích bốc đồng sao?”
“Chứ còn sao nữa? Hoàng đế cũng nợ tôi mà, Fenring. Tôi đã giúp ông ta thoát khỏi tên Công tước rầy rà đó.” “Nhờ một vài tên Sardaukar giúp đỡ.” “Nếu không thì Hoàng đế tìm đâu ra một Gia tộc sẵn sàng cung cấp quân phục giả trang để giấu biến bàn tay ông ta trong vụ này?” “Hoàng đế cũng tự hỏi mình y như vậy, Nam tước à, nhưng với sự nhấn giọng hơi khác.” Nam tước săm soi Fenring, chú ý tới sự rắn đanh của các cơ hàm, sự cẩn thận tự
chủ. “Ái chà chà,” Nam tước nói. “Tôi hy vọng Hoàng đế không tin rằng ông ta có thể hành động chống lại tôi một cách hoàn toàn bí mật.” “Hoàng đế hy vọng sẽ không cần phải làm thế.” “Hoàng đế không thể tin rằng tôi đe dọa ông ta,” Nam tước cho phép giọng mình nhuốm vẻ tức giận và đau khổ, ngài nghĩ: Cứ để ông ta cư xử bất công với ta về chuyện đó! Ta có thể tự đặt mình lên ngai vàng trong khi vẫn đấm ngực than van mình đã bị cư xử bất công đến thế nào.
Giọng Bá tước trở nên khô khan và xa xôi khi ngài nói: “Hoàng đế tin ở những gì giác quan mách bảo người.” “Hoàng đế có dám buộc tội tôi mưu phản trước mặt đông đủ Hội đồng Landsraad không?” Và Nam tước nín thở, hy vọng vào điều mình nói. “Hoàng đế không cần phải dám mới làm bất cứ chuyện gì.” Nam tước quay ngoắt thân hình trong bộ khung treo để giấu cảm xúc. Chuyện ấy có thể xảy ra ngay trong đời ta! ngài nghĩ.Hoàng đế! Cứ để ông ta đối xử bất công với ta đi! Thế rồi - tham nhũng,
áp bức, sự tập hợp của các Đại Gia tộc: họ sẽ lũ lượt tề tựu dưới cờ của ta như bọn nhà nông hộc tốc tìm chỗ trú. Điều họ sợ hơn hết thảy là đoàn quân Sardaukar của Hoàng đế được tự tung tự tác lần lượt với từng Gia tộc một. “Hoàng đế chân thành mong rằng Người sẽ không bao giờ phải buộc ông tội mưu phản,” Bá tước nói. Nam tước thấy khó lòng ngăn không để giọng mình nhuốm vẻ mỉa mai mà chỉ cho phép nó biểu lộ cảm giác bị tổn thương, nhưng ngài vẫn cố. “Tôi vẫn luôn là bầy tôi trung thành nhất. Những lời đó khiến tôi đau lòng đến không thể
nói nên lời.” “E-hè-è-è-è-è-m-m-m-m-m-m,” Bá tước nói. Nam tước vẫn quay lưng lại Bá tước, gật đầu. Ngay sau đó ngài nói: “Đến lúc ra đấu trường rồi.” “Ừ, đúng,” Bá tước nói. Họ ra khỏi nón lặng, sánh bước về phía đám Tiểu Gia tộc đang đứng ở cuối phòng. Một tiếng chuông bắt đầu đổ chầm chậm đâu đó trong lâu đài - báo hiệu còn hai mươi phút nữa là đến giờ tập trung ở đấu trường.
“Các Tiểu Gia tộc chờ ông dẫn đường cho họ,” Bá tước vừa nói vừa gật đầu về phía đám người trước mặt. Một câu hai nghĩa... một câu hai nghĩa, Nam tước nghĩ. Ngài ngẩng lên nhìn những món bùa hộ mệnh mới đặt hai bên lối ra của phòng tiếp tân - chiếc đầu bò gắn trên giá và bức tranh sơn dầu vẽ Lão Công tước Atreides, phụ thân của Công tước Leto quá cố. Chúng khiến Nam tước tràn ngập một linh tính chẳng lành, và ngài tự hỏi những món bùa này đã khơi gợi trong Công tước Leto những ý nghĩ nào khi
chúng còn treo trong đại sảnh ở Caladan rồi sau đó ở Arrakis - người cha anh tài dũng lược và đầu của con bò đã giết chết ông ta. “Loài người chỉ có ừ-ừ một ừ-m-m môn khoa học,” Bá tước nói khi hai người đã tập hợp xong đám diễu hành gồm những kẻ theo chân họ và từ sảnh tiếp tân tiến vào phòng đợi, một không gian hẹp với những khung cửa sổ cao và sàn lát gạch có hoa văn màu trắng xen màu tía. “Vậy khoa học đó là gì?” Nam tước hỏi. “Đó là ừ-ừ-m-m khoa học về ờ-ờ sự bất mãn,” Bá tước nói.
Các Tiểu Gia tộc đi sau họ, bẽn lẽn, xun xoe, phá lên cười bằng đúng giọng tỏ ra tâm đắc, nhưng cái âm thanh đó mang thanh điệu nghịch tai khi va chạm với tiếng động cơ phành phạch bất ngờ vọng đến tai họ khi đám tiểu đồng mở tung các cửa ngoài, để lộ một dãy xe dùng để chạy trên mặt đất, cờ hiệu bay phần phật trong gió. Nam tước cất cao giọng để át tiếng ồn đột ngột, ngài nói: “Tôi hy vọng ngài sẽ không bất mãn với màn trình diễn hôm nay của cháu tôi, Bá tước Fenring ạ.” “Tôi à-ờ-ờ chỉ thấy ừ-ừ-m-m như à-ừ-m-
m linh cảm một điều gì, đúng vậy,” Bá tước nói. “Bao giờ cũng vậy, trong một à-ờ biên bản luận tội, người ta ừ-ừ-m-m phải xét đến việc đâu là à-ờ nơi khởi tạo hồ sơ.” Nam tước che giấu sự ngạc nhiên khiến ngài đột ngột đờ người ra bằng cách vấp vào bậc tam cấp đầu tiên dẫn từ lối ra xuống.Biên bản luận tội! Đó là bản báo cáo về một tội ác chống lại Đế quốc! Nhưng Bá tước chỉ khẽ cười để câu đó có vẻ như một lời nói đùa, rồi vỗ vỗ vào tay Nam tước. Dù vậy, suốt trên đường đến đấu trường,
Nam tước ngồi thụt vào giữa mớ đệm bọc sắt trên xe ngài, vừa ném những cái nhìn vụng trộm về phía vị Bá tước đang ngồi cạnh vừa tự hỏi tại sao thằng chạy việc vặt của Hoàng đế lại cho rằng cần phải đùa kiểu đó chứ không phải kiểu nào khác trước mặt các Tiểu Gia tộc. Rõ ràng Fenring chẳng mấy khi làm việc gì hắn cho rằng không cần thiết, hoặc dùng hai từ nếu hắn thấy một từ là đủ, hoặc tự giới hạn ở một nghĩa duy nhất trong một câu duy nhất. Họ vừa ngồi vào lô bằng vàng phía trên đấu trường tam giác - kèn rúc om sòm, các tầng ở trên và xung quanh họ ken dày sự ồn ào huyên náo của đám đông và
những lá cờ hiệu bay phấp phới - thì câu trả lời cất lên đáp lại Nam tước. “Nam tước thân mến,” Bá tước ghé sát tai ông ta, nói, “ông biết Hoàng đế chưa chính thức chuẩn y người thừa kế do ông chọn mà, phải không?” Nam tước cảm thấy mình đột nhiên rơi vào giữa một cái nón lặng cá nhân sinh ra từ cơn choáng của chính ngài. Ngài nhìn Fenring chòng chọc, gần như không thấy Bá tước phu nhân đang băng qua đội cận vệ bên ngoài để đến nhập hội với họ trong lô bằng vàng. “Chính vì vậy tôi mới ở đây hôm nay,”
Bá tước nói. “Hoàng đế muốn tôi báo cáo về việc liệu ông có chọn người kế vị xứng đáng hay không. Để khiến con người thực ẩn dưới cái mặt nạ phải phơi bày thì chẳng có gì hơn đấu trường được, hử?” “Hoàng đế đã hứa cho phép tôi tự do chọn người kế vị,” Nam tước nghiến răng kèn kẹt. “Để rồi xem,” Fenring nói rồi quay người lại đón phu nhân. Cô ngồi xuống, mỉm cười với Nam tước, rồi chú mục vào nền cát bên dưới nơi Feyd-Rautha vừa tiến ra, mặc áo gi lê và quần bó - tay phải mang găng đen cầm dao dài, còn tay
trái mang găng trắng cầm dao ngắn. “Màu trắng là độc dược, màu đen là tinh khiết,” Phu nhân Fenring nói. “Phong tục thú vị thật, phải không anh yêu?” “Ư-hừ-ừ-m-m-m-m,” Bá tước nói. Tiếng reo hò chào đón dậy lên từ các dãy khán đài dành cho gia tộc, và FeydRautha dừng lại để đón nhận, ngẩng lên nhìn khắp lượt các khuôn mặt, nhận ra các anh chị em họ, các anh em cùng cha khác mẹ, họ hàng bên các bà tì thiếp và những họ hàng xa. Quá nhiều những cái miệng hồng hồng há ra lải nhải liên hồi kỳ trận giữa cảnh chập chờn quần áo và
cờ xí đủ màu. Ngay khi đó Feyd-Rautha chợt nghĩ, dù máu cậu hay máu tên đấu sĩ-nô lệ kia đổ xuống thì những hàng khuôn mặt ken dày kia cũng sẽ háo hức như nhau. Chẳng nghi ngờ gì về kết quả trận đấu này, dĩ nhiên. Sự nguy hiểm ở đây chỉ có hình thức chứ không mang thực chất, thế nhưng... Feyd-Rautha giơ dao về phía mặt trời, cúi chào ba góc đấu trường theo lối cổ. Con dao ngắn trong bàn tay mang găng trắng (màu trắng là dấu hiệu cho biết có độc dược) được cho vào vỏ trước tiên. Rồi lưỡi dao dài trong bàn tay mang
găng đen - lưỡi dao tinh khiết mà bây giờ thực ra không tinh khiết, cái vũ khí bí mật của cậu để biến ngày hôm nay thành một chiến thắng thuần túy của cá nhân cậu: lưỡi dao đen mới có độc. Việc điều chỉnh tấm chắn bảo vệ cơ thể chỉ mất chút thời gian, và cậu ngừng lại để lĩnh hội cảm giác thít chặt vào trán, khiến cậu yên tâm rằng mình đã được bảo vệ đâu ra đó. Khoảnh khắc này mang sự căng thẳng của riêng nó, và Feyd-Rautha kéo dài nó ra với bàn tay chắc nịch của một tay diễn trò lão luyện, gật đầu với các trợ thủ và chuyên viên đánh lạc hướng, kiểm tra
thiết bị của họ bằng cái nhìn xét đoán - những sợi xiềng đặt đúng chỗ, các gai của nó sắc lẻm, lấp lánh, những cái ngạnh và móc có buộc những dải cờ đuôi nheo màu xanh nước biển bay phấp phới. Feyd-Rautha ra hiệu cho các nhạc công. Điệu hành khúc chậm bắt đầu, vang rền trịnh trọng theo lối xưa, và Feyd-Rautha dẫn đầu đoàn tùy tùng băng qua đấu trường để kính cẩn cúi chào dưới lô danh dự nơi ông bác của cậu ngồi. Cậu tóm lấy chiếc chìa khóa nghi lễ khi nó được ném xuống. Âm nhạc ngừng.
Trong im lặng đột ngột, cậu lùi lại hai bước, nâng chìa khóa lên mà thét vang. “Tôi xin dâng sự thật này cho...” Và cậu ngừng lại, biết rằng ông bác sẽ nghĩ: Rốt cuộc cái thằng ranh rồ dại sắp dâng cho Phu nhân Fenring và gây chuyện động trời đây! “... cho Bá phụ và người bảo trợ của tôi, Nam tước Vladimir Harkonnen!” FeydRautha thét. Và cậu vui sướng thấy ông bác thở dài. Âm nhạc lại tiếp tục với hành khúc nhanh, và Feyd-Rautha dẫn bộ hạ rảo
bước ngang qua đấu trường về phía cánh cửa an toàn chỉ dành cho những ai đeo dải băng nhận diện theo đúng quy định. Feyd-Rautha tự hào rằng cậu chưa bao giờ dùng tới cửa an toàn và chẳng mấy khi cần tới các chuyên viên đánh lạc hướng đối thủ. Nhưng riêng hôm nay biết rằng cửa an toàn có đó thì cũng tốt - đôi khi những kế hoạch đặc biệt cũng hàm chứa những nguy cơ đặc biệt. Một lần nữa, im lặng trùm xuống đấu trường. Feyd-Rautha quay lại, đối mặt với cánh cửa lớn màu đỏ đối diện, nơi tay đấu sĩ sẽ xuất hiện.
Đấu sĩ đặc biệt. Kế hoạch mà Thufir Hawat nghĩ ra đơn giản và rạch ròi đến đáng khâm phục, Feyd-Rautha nghĩ. Không nên phục thuốc cho tên nô lệ - làm vậy là nguy hiểm. Thay vào đó, người ta đãn