phần dựa trên bản báo cáo miệng ngắn gọn (thận trọng và đầy nghi ngờ) của Hawat - bất giác trở nên hoàn toàn sáng
tỏ: kẻ này quả thực là người Fremen. Kynes đến cùng đội hộ tống người Fremen, điều đó chỉ có thể hiểu rằng người Fremen đang thử nghiệm quyền tự do họ mới có trong việc ra vào những khu vực đô thị - nhưng có vẻ nó là một đội hộ tống danh dự. Và xét theo cung cách hành xử thì Kynes là người cao ngạo, quen tự quyết, miệng lưỡi và thái độ của ông ta chỉ được kiểm soát bởi sự nghi ngờ của chính ông ta. Câu hỏi của Paul thẳng thắn và thích đáng. Kynes đã trở thành như người bản xứ. “Chúng ta đi thôi chứ, thưa Chúa công?” Halleck hỏi.
Công tước gật đầu. “Ta sẽ bay trên tàu chim của ta. Kynes có thể ngồi cùng ta ở ghế trước để chỉ đường cho ta. Ông và Paul ngồi ghế sau.” “Xin đợi một lát,” Kynes nói. “Nếu ngài cho phép, thưa Ngài, tôi phải kiểm tra độ an toàn của bộ quần áo ngài mặc.” Công tước định nói, nhưng Kynes chặn lại: “Tôi quan tâm đến xương thịt của chính tôi cũng như của ngài... thưa Chúa công. Tôi biết rõ cổ họng ai sẽ bị xẻ toạc ra nếu có sự chẳng lành xảy ra với cha con ngài trong lúc hai người nằm trong sự chăm sóc của tôi.”
Công tước cau mày nghĩ: Thời điểm này mới tế nhị làm sao! Nếu ta từ chối thì có thể xúc phạm ông ta. Trong khi đây có thể là một người có giá trị với ta đến mức không thể lường hết. Tuy nhiên... có nên để ông ta vào trong tấm chắn của ta, chạm vào người ta khi ta biết quá ít về ông ta không? Những suy nghĩ vụt qua đầu ông cùng với quyết định bám theo sát gót. “Bọn ta ở trong tay ông,” Công tước nói. Ông bước lên, phanh áo choàng ra, thấy Halleck kiễng chân lên, trong tư thế sẵn sàng đầy cảnh giác, nhưng vẫn không rời vị trí. “Nếu ông có lòng tốt như thế,” Công
tước nói, “ta sẽ rất cảm kích nếu được nghe lời giảng giải về bộ quần áo này từ một người sống gắn bó mật thiết với nó.” “Tất nhiên rồi,” Kynes nói. Ông đưa tay xuống dưới tấm áo choàng, sờ lên những miếng xi trên vai bộ sa phục, vừa nói vừa kiểm tra bộ quần áo. “Về cơ bản nó là một micro-sandwich - một bộ lọc và hệ thống trao đổi nhiệt hiệu suất cao.” Ông chỉnh những miếng xi ở vai áo. “Lớp tiếp xúc với da có những lỗ nhỏ li ti. Mồ hôi thoát qua đó, làm mát cơ thể... quá trình làm bay hơi gần như bình thường. Hai lớp kế tiếp...” Kynes kéo căng ngực áo cho vừa vặn, “... gồm những sợi dây nhỏ trao đổi nhiệt và kết
tủa muối. Muối được tái chế.” Công tước nhấc hai tay lên khi Kynes ra hiệu, rồi nói: “Thú vị thật.” “Hãy thở sâu,” Kynes nói. Công tước làm theo. Kynes quan sát những tấm xi dưới nách, điều chỉnh một tấm. “Những chuyển động của cơ thể, đặc biệt khi thở,” ông nói, “cùng một số hoạt động thấm lọc cung cấp lực bơm.” Ông nới lỏng ngực áo ra một chút. “Nước tái chế luân chuyển đến các túi hứng, ngài hút nước từ túi hứng thông qua chiếc ống này, chỗ cái kẹp ở
cổ áo.” Công tước cúi cằm xuống sát ngực để nhìn phần đầu của ống hút. “Thật hiệu quả và tiện lợi,” ông nói. “Một công trình xuất sắc.” Kynes quỳ xuống, quan sát những tấm xi ở ống quần. “Nước tiểu và phân được xử lý trong những miếng lót đùi,” ông nói rồi đứng lên, sờ bộ phận điều chỉnh cổ áo, nhấc một miếng vành cổ rời ở đó lên. “Giữa sa mạc rộng lớn không có gì che chắn, ngài hãy bịt bộ lọc này ngang qua mặt, cái ống này nằm trong lỗ mũi có những đầu ống để đảm bảo vừa khít. Hơi thở đi vào qua bộ lọc ở miệng, đi ra qua
ống ở mũi. Với một bộ quần áo Fremen loại tốt, trong một ngày ngài sẽ không mất nhiều hơn một ngụm độ ẩm - ngay cả khi ngài bị mắc kẹt trong Erg Lớn.” “Một ngụm một ngày,” Công tước nói. Kynes ấn ngón tay vào miếng đệm trán của bộ quần áo rồi nói: “Cái này có thể hơi cọ vào da. Nếu nó làm ngài khó chịu, xin hãy bảo tôi. Tôi có thể đệm thêm vào cho chặt hơn một chút.” “Cám ơn ông,” Công tước nói. Ông cử động hai vai dưới lớp áo trong lúc Kynes bước lùi lại, nhận thấy bây giờ chiếc áo đã có vẻ vừa hơn - khít hơn và
ít gây khó chịu hơn. Kynes quay sang Paul. “Nào, hãy để ta ngắm cho cháu, cậu bé.” Một người được đấy, nhưng ông ta sẽ phải học cách xưng hô đúng mực với cha con ta, Công tước nghĩ. Paul đứng yên khi Kynes kiểm tra kỹ bộ sa phục. Có một cảm giác kỳ lạ khi mặc bộ quần áo có bề mặt trơn mượt, nhiều nếp gấp này. Trong trạng thái tiền ý thức của cậu, cậu biết chắc chắn mình chưa từng mặc sa phục bao giờ. Thế nhưng, dưới sự hướng dẫn vụng về của Gurney, mỗi thao tác điều chỉnh những bộ phận
gắn vào bộ quần áo của cậu đều dường như thật tự nhiên, theo bản năng. Khi cậu siết ngực áo để tác dụng bơm từ hoạt động thở đạt được mức tối đa, cậu hiểu những gì cậu làm và tại sao phải làm thế. Khi chỉnh cổ áo và những miếng đệm trán cho chặt, cậu biết làm thế là để ngăn ngừa những vết rộp da do cọ xát. Kynes thẳng người lên, lùi lại đằng sau với vẻ bối rối. “Trước đây cháu đã mặc sa phục rồi à?” ông hỏi. “Đây là lần đầu tiên.”
“Vậy có ai đó đã giúp cháu điều chỉnh nó?” “Không ạ.” “Đôi bốt sa mạc của cháu được cài theo lối xỏ chân ở mắt cá. Ai dạy cháu làm như thế?” “Đó là... có vẻ làm như thế là đúng.” “Chắc chắn là đúng rồi.” Và Kynes xoa má, nghĩ về câu truyền thuyết: “Cậu bé sẽ biết những phương pháp của ngươi như thể cậu ta sinh ra là đã biết chúng rồi.”
“Chúng ta thật lãng phí thời gian,” Công tước nói. Ông ra hiệu về phía chiếc tàu chim đang đợi, rồi ông dẫn đường, gật đầu đáp lễ với đội bảo vệ chào mình. Ông trèo lên tàu, thắt dây an toàn, kiểm tra các bộ điều khiển và thiết bị. Chiếc tàu kêu cót két khi những người khác trèo lên. Kynes thắt dây an toàn, tập trung vào sự thoải mái tiện nghi của chiếc tàu bay - sự xa hoa êm ái của đệm bọc màu xanh xám, những thiết bị bóng loáng, cảm nhận về không khí trong phổi được lọc và làm sạch khi cửa đóng lại và quạt thông khí quay vù vù sinh động.
Thật êm ái! ông nghĩ. “Tất cả đã sẵn sàng, thưa Chúa công,” Halleck nói. Leto nạp điện cho các cánh, cảm thấy chúng khum lại và đập xuống - một lần, hai lần. Họ được đưa lên độ cao mười mét, bộ cánh hơi dang thẳng ra, và động cơ rít lên đẩy họ lao vút lên trời gần như theo đường thẳng đứng. “Về hướng Đông Nam bên trên Tường Chắn,” Kynes nói. “Đó là nơi tôi đã bảo sa chủ của ông tập trung thiết bị.”
“Được rồi.” Công tước chao nghiêng lao vào giữa nhóm tàu yểm trợ. Các tàu kia di chuyển vào vị trí bảo vệ trong khi bay về phía Đông Nam. “Việc thiết kế và sản xuất những bộ sa phục này cho ta thấy một sự tinh vi cao độ,” Công tước nói. “Một ngày nào đó tôi có thể chỉ cho ngài xem một xưởng sản xuất của sietch,” Kynes nói. “Ta sẽ thấy rất thú vị,” Công tước nói. “Ta nhận thấy những bộ sa phục đó cũng
được sản xuất trong một vài thành phố đồn trú.” “Hàng nhái chất lượng thấp mà thôi,” Kynes nói. “Bất cứ người Xứ Cát nào coi trọng làn da đều mặc quần áo do người Fremen sản xuất.” “Và loại quần áo này giúp người ta chỉ lãng phí nước ở mức một hớp một ngày?” “Hoàn toàn thích hợp, trán ngài được bịt chặt, mọi bộ phận đều được niêm kín một cách hợp lệ, lượng nước thất thoát chủ yếu là qua lòng bàn tay ngài,” Kynes nói. “Ngài có thể đeo găng tay đồng bộ
nếu không sử dụng đôi tay vào những việc quan trọng, nhưng hầu hết người Fremen ngoài sa mạc đều chà xát tay bằng chất dịch tiết ra từ lá loài cây bụi creosote. Nó ngăn sự đổ mồ hôi.” Công tước liếc mắt sang bên trái nhìn khung cảnh gập ghềnh của Tường Chắn - những kẽ nứt sâu của đá bị làm biến dạng, những mảng màu nâu vàng bị cắt ngang bởi các đường đen của đứt đoạn địa chất. Trông như thể có người nào đó thả mảnh đất này rơi từ trên không trung xuống và để mặc nó vỡ tan ở đó. Họ bay qua một vùng trũng nông, nhìn thấy rõ một đường cát xám từ hẻm núi
hướng ra phía Nam kéo tới, vắt ngang lòng chảo. Cát kéo thành từng vệt giống như ngón tay đan vào khu đất trũng - một vùng châu thổ khô cằn in rõ lên khối đá màu sẫm. Kynes ngồi dịch về phía sau, nghĩ về cái thân hình chứa đầy nước mà ông đã cảm thấy bên dưới sa phục. Bọn họ mang thắt lưng đeo tấm chắn trên áo choàng, súng bắn phi tiêu giắt ở thắt lưng, bộ thu phát tín hiệu khẩn cấp to cỡ đồng xu trên dây gai nhỏ vòng quanh cổ. Hai cha con Công tước đều mang dao đút trong vỏ giấu nơi cổ tay, vỏ dao có vẻ mòn nhiều. Những người này gây cho Kynes ấn tượng về một sự kết hợp kỳ lạ giữa sức
mạnh vũ trang và sự mềm dẻo. Họ có một tư thế đĩnh đạc, khác hẳn bọn Harkonnen. “Khi báo cáo với Hoàng đế về sự thay đổi chính quyền ở đây, ông sẽ nói rằng bọn ta đã tuân theo các tục lệ chứ?” Leto hỏi. Ông liếc nhìn Kynes, rồi quay trở lại lộ trình trước mặt. “Nhà Harkonnen ra đi; ngài đến,” Kynes nói. “Và mọi thứ diễn ra đúng cách chứ?” Leto hỏi. Một thoáng căng thẳng ngắn ngủi hiện lên
trong nét căng cơ dọc quai hàm Kynes. “Là nhà hành tinh học và Phán quan Phụ trách Thay đổi, tôi là một thần dân ngay thẳng của Đế quốc... thưa Chúa công.” Công tước mỉm cười cứng rắn. “Nhưng cả hai chúng ta đều hiểu rõ thực tại.” “Tôi xin nhắc nhở ngài rằng Hoàng đế ủng hộ công việc của tôi.” “Thực thế sao? Thế công việc của ông là gì vậy?” Trong sự im lặng ngắn ngủi, Paul nghĩ: Cha đang ép Kynes quá đáng. Paul liếc Halleck, nhưng người chiến binh hát
rong đang nhìn chằm chằm quang cảnh cằn cỗi bên ngoài. Kynes nói kiên quyết: “Tất nhiên ngài ám chỉ công việc của tôi với tư cách nhà hành tinh học.” “Đúng thế.” “Chủ yếu là nghiên cứu động thực vật ở vùng khô hạn... vài công việc địa chất - khoan và nghiên cứu lõi hành tinh. Ngài không bao giờ có thể thực sự hiểu thấu các khả năng của cả một hành tinh.” “Ông cũng nghiên cứu tỉ mỉ về hương dược?”
Kynes quay lại, và Paul để ý thấy nét dứt khoát hiện trên má ông. “Một câu hỏi tò mò, thưa Chúa công.” “Này Kynes, hãy nhớ rằng nơi này giờ đây là thái ấp của ta. Những phương thức của ta khác với của bọn Harkonnen. Ta không quan tâm liệu ông có nghiên cứu hương dược hay không, miễn là ta được chia sẻ những gì ông khám phá.” Ông liếc sang nhà hành tinh học. “Bọn Harkonnen không khuyến khích việc nghiên cứu về hương dược, phải không?” Kynes nhìn lại ông, không nói gì.
“Ông có thể trả lời thẳng thắn mà không cần lo sợ cho làn da của ông,” Công tước nói. “Triều đình quả thật cách xa rồi,” Kynes lẩm bẩm. Và ông nghĩ: Cái kẻ xâm lược ứ đầy nước này trông đợi điều gì? Hắn nghĩ ta ngu ngốc đến mức đứng vào hàng ngũ của hắn chắc? Công tước cười tủm tỉm, chú ý vào lộ trình. “Ta nhận ra âm điệu gay gắt trong giọng nói của ông, thưa ông. Bọn ta lặn lội đến đây cùng một lũ những tên sát thủ thuần phục, đúng không nào? Và bọn ta mong đợi ông nhận ra ngay là bọn ta
khác xa với bọn Harkonnen hay sao?” “Tôi đã thấy lời tuyên truyền mà ngài cho tràn ngập các sietch và thị trấn,” Kynes nói. “‘Hãy yêu quý Ngài Công tước tài giỏi tử tế!’ Quân đoàn của ngài...” “Có ngay đây!” Halleck quát. Ông lập tức thôi nhìn ra ngoài cửa sổ, chồm về phía trước. Paul đặt tay lên vai Halleck. “Gurney!” Công tước nói. Ông liếc về phía sau. “Người này đã sống một thời gian dài dưới chế độ Harkonnen.”
Halleck ngồi lùi lại. “Vú em.” “Vị Hawat của ngài thật tế nhị,” Kynes nói, “nhưng mục đích của anh ta cũng khá rõ ràng.” “Vậy thì ông sẽ mở những căn cứ đó ra cho bọn ta chứ?” Công tước hỏi. Kynes sẵng giọng: “Chúng thuộc quyền sở hữu của Hoàng đế.” “Nhưng chúng không được sử dụng.” “Chúng có thể được sử dụng.”
“Hoàng đế có đồng tình không?” Kynes ném cái nhìn trừng trừng nghiêm khắc vào Công tước. “Arrakis có thể là vườn Địa đàng nếu kẻ cai trị biết quan tâm đến những việc khác chứ không chỉ lui cui đào bới tìm hương dược!” Ông ta không trả lời câu hỏi của ta, Công tước nghĩ. Rồi ông nói: “Cái hành tinh này trở thành Địa đàng bằng cách nào nếu thiếu tiền đây?” “Tiền là cái gì,” Kynes hỏi, “nếu nó không mua được những sự giúp đỡ mà ngài cần?”
Chà chà, thế đấy! Công tước nghĩ. Rồi ông nói: “Chúng ta sẽ tranh luận vấn đề này vào dịp khác. Ngay lúc này thì ta nghĩ chúng ta sắp tới mép Tường Chắn rồi. Ta sẽ tiếp tục đi theo hướng này chứ?” “Vẫn hướng này,” Kynes thì thầm. Paul nhìn ra ngoài cửa sổ. Bên dưới họ, khu đất nhấp nhô bắt đầu dựng đứng lên thành những nếp gấp lộn xộn kéo về phía một bình nguyên đá khô cằn và một thềm đá hình lưỡi dao. Qua khỏi thềm đá, những nếp gấp hình móng tay của các đụn cát diễu hành về phía chân trời, đây đó ở đằng xa có một vết mờ xỉn, một vết sẫm
hơn cho biết đó là một cái gì đó không phải cát. Có thể là đá lộ thiên. Trong bầu không khí nóng đến mụ mị cả đầu óc này, Paul không thể biết chắc được. “Dưới đó có loài thực vật nào không?” Paul hỏi. “Một vài,” Kynes nói. “Sinh đới của vùng này