phần của những khối đá cực lớn được gọi là Tường Chắn.
Kính lọc, nàng nghĩ. Để biến mặt trời trắng thành cái gì đó dịu hơn và quen thuộc hơn. Ai có thể là người xây lên một nơi như thế này? Leto chăng? Thật giống cách ông ấy thường làm mình ngạc nhiên với một món quà như thế, nhưng ông ấy làm gì có thời gian. Vả lại ông ấy còn bận rộn với những vấn đề quan trọng hơn. Nàng nhớ lại bản báo cáo cho biết nhiều ngôi nhà ở Arrakeen phải đóng kín mọi cửa chính và cửa sổ bằng khóa khí để bảo quản và tái chế độ ẩm trong nhà. Leto nói rằng chủ nhân của ngôi nhà này cố ý không thèm đếm xỉa đến sự phòng
xa đó, mọi cửa chính và cửa sổ trong nhà đóng lại chỉ để chống thứ bụi có mặt khắp nơi kia, bằng cách đó họ tuyên bố về quyền lực và sự giàu sang của họ. Nhưng căn phòng này là hiện thân cho một lời tuyên bố còn hùng hồn hơn cả việc không cần đóng kín cửa ngoài để giữ nước. Theo ước lượng của nàng, căn phòng lạc thú này tiêu thụ lượng nước đủ dùng cho một ngàn người ở Arrakis - có khi còn nhiều hơn. Jessica tiến đến cửa sổ, tiếp tục quan sát căn phòng. Sự di chuyển này đã giúp nàng phát hiện ra bên cạnh đài phun nước có một mặt phẳng bằng kim loại
cao ngang tầm một chiếc bàn, và nàng thoáng nhìn thấy trên đó là tờ giấy trắng cùng chiếc bút trâm bị một cái lá hình cánh quạt nhô ra che khuất một phần. Nàng đến bên bàn, nhận ra ký hiệu của Hawat trên đó, liền xem thông điệp được viết trên tờ giấy: “KÍNH GỬI LỆNH BÀ JESSICA - Cầu mong sao nơi này sẽ đem đến cho Lệnh bà nhiều niềm vui như nó đã đem lại cho tôi. Xin hãy coi căn phòng này như lời truyền đạt một bài học mà chúng ta đã học từ cùng những người thầy: Việc ở gần kề một thứ đáng thèm muốn sẽ xúi giục ta làm những điều
vượt quá sự cho phép. Nguy hiểm nằm trên con đường đó. Thân quý chào bà, Phu nhân Margot Fenring” Jessica gật đầu, nhớ lại Leto từng nhắc đến người được Hoàng đế ủy nhiệm ở đây trước kia là Bá tước Fenring. Nhưng thông điệp ẩn giấu trong bức thư ngắn buộc nàng phải chú ý ngay lập tức, nó được diễn đạt sao cho nàng biết người viết là một Bene Gesserit khác. Một ý nghĩ cay đắng vụt xuất hiện trong đầu Jessica: Bá tước đã cưới Phu nhân của ông ta.
Ngay khi ý nghĩ này lóe lên trong đầu, nàng cúi xuống để tìm cho ra cái thông điệp đầy ẩn ý này. Nó phải ở đó. Bức thư này chứa cụm mật mã mà bất cứ Bene Gesserit nào không bị Lệnh Huấn thị của Trường ràng buộc đều được yêu cầu chuyển cho Bene Gesserit khác khi tình thế đòi hỏi: “Nguy hiểm nằm trên con đường đó.” Jessica sờ vào mặt sau bức thư, chà xát mặt giấy để tìm những chấm mật mã. Không có gì. Nàng tìm kiếm cả ở mép giấy. Không có gì. Nàng đặt lại tờ giấy vào nơi đã tìm thấy nó, cảm thấy sự cấp bách.
Có điều gì trong vị trí của tờ giấy này chăng? nàng tự hỏi. Nhưng Hawat đã kiểm tra khắp căn phòng, chắc chắn ông ta đã làm dịch chuyển tờ giấy. Nàng nhìn chiếc lá trên tờ giấy. Chiếc lá! Nàng lướt một ngón tay dọc theo mặt dưới lá, dọc theo mép, dọc theo cuống lá. Nó đây rồi! Ngón tay nàng phát hiện ra những chấm mật mã khó nhận thấy, và đọc liền một mạch: “Con trai bà và Công tước đang gặp nguy hiểm. Một phòng ngủ đã được thiết kế để thu hút con trai bà. Bọn H đã cài vào đó những cái bẫy chết người có thể
bị phát hiện, giữ lại một cái không thể tìm ra.” Jessica cố nén sự thôi thúc muốn chạy về gặp Paul; phải nắm được toàn bộ thông điệp. Ngón tay nàng lướt trên những dấu chấm: “Tôi không biết chính xác mối nguy hiểm ấy thuộc loại gì, nhưng nó có liên quan gì đó đến chiếc giường. Mối đe dọa đối với Công tước của bà liên quan đến sự ly khai của một người bạn hoặc một người phụ tá thân cận. Xin thứ lỗi vì tôi không thể nói nhiều hơn. Tôi chỉ biết chút ít vì Bá tước của tôi không làm việc cho bọn H. Vội vã, MF.” Jessica gạt chiếc lá sang một bên, xoay người để chạy về tìm Paul. Ngay lúc đó,
cánh cửa khóa khí bật mở. Paul nhảy qua cửa, tay phải giữ vật gì đó, đóng sầm cánh cửa đằng sau lại. Cậu nhìn thấy mẹ, len qua đám lá đến bên mẹ, liếc đài phun nước, rồi nhúng cả bàn tay lẫn vật bị nắm chặt trong đó xuống dòng nước đang chảy. “Paul!” Nàng túm lấy vai con, nhìn chằm chằm vào bàn tay cậu. “Cái gì thế?” Cậu nói giọng bình thường, nhưng nàng nắm bắt được sự cố gắng ẩn sau giọng nói: “Tiểu ma đao. Con tóm được nó ở trong phòng và đã đập vỡ mũi nó, nhưng con muốn thật chắc ăn. Nước sẽ phá hủy nó hoàn toàn.”
“Nhấn nó xuống!” nàng ra lệnh. Cậu làm theo lời mẹ. Ngay sau đó, nàng nói: “Buông tay ra. Cứ để nó chìm trong nước.” Cậu rút tay ra, vẩy nước khỏi tay, nhìn chăm chăm chiếc bát kim loại im lìm trong đài phun nước. Jessica bẻ một thân cây, chọc chọc vào con ma đao trông như chết rồi. Nó đã chết thật. Nàng thả thân cây vào nước, nhìn Paul.
Mắt cậu quan sát căn phòng với sự tập trung cao độ mà nàng đã nhận ra - Phương pháp B.G. “Nơi này có thể che giấu bất cứ thứ gì,” cậu nói. “Mẹ có lý do để tin là nó an toàn,” nàng nói. “Phòng con người ta cũng cho là an toàn. Hawat đã nói...” “Nó là một tiểu ma đao,” nàng nhắc nhở cậu. “Như thế nghĩa là có ai đó trong ngôi nhà này điều khiển nó. Những tia điều khiển ma đao có tầm hoạt động hạn
chế. Có thể nó được bí mật đưa vào đây sau khi Hawat đã kiểm tra.” Nhưng nàng nghĩ đến thông điệp của chiếc lá: “...sự ly khai của một người bạn hoặc một phụ tá thân cận.” Không phải Hawat, chắc chắn thế. Ôi, chắc chắn không phải Hawat. “Lúc này, người của Hawat đang lục soát ngôi nhà,” cậu nói. “Con tiểu ma đao suýt nữa đã lấy mạng bà lão đó khi bà ta đến đánh thức con.” “Shadout Mapes,” Jessica nói, nhớ lại cuộc chạm trán ở cầu thang. “Cha con ra lệnh triệu tập...”
“Việc đó cứ để đấy đã,” Paul nói. “Tại sao mẹ nghĩ căn phòng này an toàn?” Nàng chỉ vào bức thư ngắn, giải thích nó. Cậu bớt căng thẳng một chút. Nhưng trong thâm tâm, Jessica vẫn thấy căng thẳng, nàng nghĩ: Tiểu ma đao! Ôi Đức mẹ nhân từ! Phải vận hết vốn liếng đã được đào tạo, Jessica mới có thể ngăn cơn run rẩy cuồng loạn. Paul nói một cách giản dị: “Tất nhiên đó là do bọn Harkonnen. Chúng ta sẽ phải tiêu diệt chúng.”
Có tiếng gõ vang lên ở cánh cửa khóa khí - tiếng gõ theo mật mã của người thuộc quân đoàn Hawat. “Mời vào,” Paul nói. Cánh cửa mở rộng và một người đàn ông dáng người cao mặc đồng phục Atreides có gắn phù hiệu riêng của quân đoàn Hawat trên mũ lách vào phòng. “Cậu đây rồi, thưa cậu chủ,” anh ta nói. “Bà quản gia nói có thể cậu ở đây.” Anh ta đưa mắt nhìn khắp phòng. “Chúng tôi tìm thấy một ụ đá hình tháp trong hầm chứa và tóm được một gã trong đó. Hắn ta có bảng điều khiển tiểu ma đao.”
“Ta muốn tham gia thẩm vấn hắn,” Jessica nói. “Xin thứ lỗi, thưa Lệnh bà. Chúng tôi đã đánh hắn trọng thương khi bắt hắn. Hắn chết rồi.” “Không có gì để nhận dạng tên đó sao?” nàng hỏi. “Chúng tôi vẫn chưa tìm thấy gì, thưa Lệnh bà.” “Liệu hắn có phải dân Arrakeen bản địa không?” Paul hỏi.
Jessica gật đầu tỏ ý tán thành sự sắc sảo trong câu hỏi. “Hắn ta hao hao giống dân bản địa,” anh ta nói. “Theo quan sát bên ngoài thì hắn đã làm cái ụ hình tháp đó quãng hơn một tháng trước rồi cứ để đó chờ chúng ta đến. Hôm qua khi chúng tôi kiểm tra thì đá và vữa ở chỗ hắn đột nhập vào hầm chứa vẫn không suy suyển gì. Tôi xin lấy danh dự mình bảo đảm cho điều đó.” “Không ai nghi ngờ sự cẩn trọng của anh đâu,” Jessica nói. “Tôi thì có, thưa Lệnh bà. Lẽ ra chúng tôi đã phải sử dụng máy dò âm ở đó.”
“Ta cho rằng hiện giờ các anh đang làm việc đó,” Paul nói. “Vâng, thưa cậu chủ.” “Hãy chuyển lời đến cha ta rằng chúng ta sẽ đến muộn.” “Ngay lập tức, thưa cậu chủ.” Anh ta nhìn Jessica. “Hawat đã có lệnh là trong những tình thế như hiện thời, cậu chủ cần phải được bảo vệ ở một nơi an toàn.” Một lần nữa, mắt anh ta đảo khắp phòng. “Nơi này là gì vậy?” “Ta có lý do để tin rằng chỗ này an
toàn,” nàng nói. “Cả Hawat lẫn ta đã kiểm tra rồi.” “Thế thì tôi sẽ cử người canh gác ở đây, thưa Lệnh bà, cho tới khi chúng tôi kiểm tra xong toàn bộ ngôi nhà một lần nữa.” Anh ta cúi người, đưa tay chạm vành mũ để chào Paul rồi đi ra, kéo cánh cửa đóng lại sau lưng. Paul lên tiếng, phá vỡ sự im lặng đột ngột: “Có lẽ sau đây chúng ta nên tự đi kiểm tra toàn bộ ngôi nhà thì hơn chăng? Mắt mẹ có thể thấy những thứ kẻ khác bỏ sót.” “Chái nhà này là nơi duy nhất mẹ chưa
kiểm tra,” nàng nói. “Mẹ để nó lại sau cùng bởi vì...” “Bởi vì cá nhân Hawat cũng chú ý đến nó,” cậu nói. Nàng ném về phía cậu một cái nhìn nhanh dò hỏi. “Con không tin Hawat sao?” nàng hỏi. “Không phải, nhưng ông ấy già rồi... ông ấy phải làm việc quá nhiều. Chúng ta có thể gánh bớt một phần gánh nặng của ông ấy.” “Điều đó chỉ làm ông ấy xấu hổ và gây
ảnh hưởng xấu đến hiệu quả của ông ấy thôi,” nàng nói. “Sau khi ông ấy đã biết về vụ việc này rồi thì ngay cả một con côn trùng bay lạc cũng không thể léo hánh vào đây được. Ông ấy sẽ xấu hổ vì...” “Chúng ta phải tiến hành biện pháp riêng của mình,” cậu nói. “Hawat đã phụng sự suốt ba thế hệ Atreides một cách đầy phẩm giá,” nàng nói. “Ông ấy xứng đáng với mọi sự tôn trọng và tín nhiệm của chúng ta... thậm chí còn hơn gấp nhiều lần.” Paul nói: “Khi cha con phiền muộn vì
điều gì đó mẹ đã làm, cha thường nói ‘Bene Gesserit!’ như một lời nguyền rủa.” “Mẹ thì có gì để cha con phiền muộn chứ?” “Mỗi khi mẹ tranh cãi với cha.” “Này Paul, con không phải là cha con.” Và Paul nghĩ: Chuyện này sẽ làm mẹ lo lắng, nhưng mình phải cho mẹ biết bà Mapes đó đã nói trong chúng ta có kẻ phản bội. “Con đang ngập ngừng gì vậy?” Jessica
hỏi. “Con có hay thế đâu, Paul?” Cậu nhún vai, thuật lại cuộc trao đổi với Mapes. Và Jessica nghĩ đến thông điệp trên chiếc lá. Nàng đi đến một quyết định đột ngột, chỉ cho Paul xem chiếc lá, nói cho cậu biết về bức thông điệp. “Cha con phải biết chuyện này ngay tức khắc,” cậu nói. “Con sẽ ký âm lại bằng mật mã rồi gửi đi.” “Không,” nàng nói. “Con hãy đợi đến khi có thể gặp riêng cha. Chuyện này càng ít người biết càng tốt.”
“Ý mẹ là chúng ta không nên tin ai cả sao?” “Có một khả năng khác,” nàng nói. “Có thể thông điệp này được gửi đến cho chúng ta một cách cố ý. Những người trao nó cho chúng ta có thể tin nó là sự thật, nhưng cũng có thể mục đích duy nhất là để chúng ta nhận được thông điệp đó.” Khuôn mặt Paul vẫn giữ vẻ ưu tư. “Để gieo sự bất tín và hoài nghi trong hàng ngũ chúng ta, làm chúng ta yếu đi bằng cách đó,” cậu nói.
“Con phải nói riêng cho cha con, và phải lưu ý cha về điểm này,” nàng nói. “Con hiểu.” Nàng quay về phía lớp kính lọc cao, nhìn đăm đăm về phía Tây Nam nơi mặt trời Arrakis đang lặn - một quả cầu vàng trên những vách đá. Paul quay về phía nàng, nói: “Con cũng không nghĩ là Hawat. Liệu có thể là Yueh không?” “Ông ấy không phải người phụ tá hay bạn đồng hành,” nàng nói. “Và mẹ có thể cam đoan với con, ông ấy căm thù nhà
Harkonnen cũng sâu đậm chẳng khác chúng ta.” Paul hướng sự chú ý về những vách đá, suy nghĩ: Cũng không thể là Gurney... hoặc Duncan. Có thể là một trong những phụ tá cấp dưới chăng? Không thể. Tất cả bọn họ đều xuất thân từ những dòng họ đã trung thành với gia đình ta bao đời nay rồi - vì lý do chính đáng. Jessica day trán, cảm nhận được sự mệt mỏi của chính mình. Quá nhiều mối nguy hiểm ở đây! Nàng nhìn ra khung cảnh được lớp kính lọc nhuộm vàng rực, quan sát nó. Đất đai của Công tước trải
dài đến tận kho dự trữ có hàng rào cao bao quanh - những dãy hầm chứa hương dược trong khu vực này cùng những tháp canh đứng xung quanh trên đôi chân cà kheo trông giống như hàng đàn nhện giật mình hoảng hốt. Nàng có thể nhìn thấy ít nhất hai mươi kho dự trữ vươn xa đến tận những vách núi Tường Chắn - những bể chứa nối nhau, lổm ngổm khắp vùng lòng chảo. Mặt trời qua kính lọc chầm chậm lặn xuống dưới chân trời. Sao đã mọc. Nàng thấy một ngôi sao sáng nằm rất thấp phía chân trời, nhấp nháy với một nhịp điệu rõ ràng, chính xác - một ánh sáng lập lòe run rẩy: nhấp nháy-nhấp nháy-nhấp nháy-
nhấp nháy-nhấp nháy. . . Paul đang cựa quậy bên cạnh nàng trong căn phòng mờ tối. Nhưng Jessica vẫn tập trung vào ngôi sang sáng đơn lẻ kia, nhận ra nó quá thấp, chắc hẳn nó phải xuất phát từ những vách đá Tường Chắn. Ai đó đang đánh tín hiệu! Nàng cố gắng đọc thông điệp đó, nhưng nó không thuộc loại mật mã nào nàng từng được học. Những ánh sáng khác bắt đầu xuất hiện
trên mặt đất bằng bên dưới vách núi: những chấm vàng nhỏ cách quãng nổi bật trong bóng tối xanh nước biển. Rồi một ánh sáng ở bên trái họ trở nên sáng hơn, bắt đầu nhấp nháy đáp lại ánh sáng trên vách núi - rất nhanh: lóe bừng lên, le lói, nhấp nháy! Rồi tắt. Ngôi sao giả trên vách núi cũng tắt ngay lập tức. Những tín hiệu... và chúng khiến nàng đầy ắp linh cảm. Tại sao họ lại dùng ánh sáng để truyền
tín hiệu qua vùng lòng chảo? nàng tự hỏi. Tại sao họ không thể dùng mạng truyền thông? Câu trả lời rất hiển nhiên: Nhất định là lúc này các đặc vụ của Công tước Leto đã khóa mạng truyền thông lại. Tín hiệu ánh sáng chỉ có thể mang một ý nghĩa duy nhất: kẻ thù của họ - những mật vụ của Harkonnen - đang gửi tin tức cho nhau. Có tiếng gõ ở cánh cửa bên cạnh họ và giọng nhân viên của Hawat vang lên: “Mọi thứ đã sẵn sàng, thưa cậu chủ... và Lệnh bà. Đã đến lúc đưa cậu chủ đi gặp cha rồi.”
Người ta nói Công tước Leto đã tự che mắt mình trước những hiểm họa của Arrakis, rằng ông đã lơ đễnh mà đi xuống hố sâu. Liệu có hợp lý hơn chăng nếu cho rằng ông đã sống quá lâu trong sự cùng nguy cực khốn nên đã phán đoán sai lầm một thay đổi trong cường độ của nó? Hay liệu có thể nào ông đã cố tình hy sinh bản thân để con trai ông có thể tìm được một cuộc sống tốt đẹp hơn? Mọi bằng chứng đều cho thấy Công tước là người không dễ bị lừa bịp. - trích “Muad’Dib: Ghi chú gia đình”
của Công chúa Irulan Công tước Leto Atreides tựa vào lan can của tháp chỉ huy hạ cánh bên ngoài Arrakeen. Mặt trăng thứ nhất của đêm, một đồng xu bạc dẹt, treo lơ lửng trên đường chân trời phía Nam. Bên dưới nó, những vách núi Tường Chắn lởm chởm sáng lên như dải băng khô xuyên qua màn bụi. Phía trái ông, những ánh đèn của Arrakeen rực sáng trong sương mù - vàng... trắng... xanh. Ông nghĩ đến bản cáo thị có chữ ký của ông đang được niêm yết khắp từ đầu đến cuối những nơi dân cư đông đúc của hành tinh này: “Hoàng đế Padishah uy
nghiêm đã giao cho ta nhiệm vụ cai quản hành tinh này và chấm dứt mọi tranh cãi.” Cái nghi thức mang tính lễ nghi này gợi lên trong ông cảm giác cô đơn. Ai là kẻ bị lừa phỉnh bởi sự tuân thủ luật pháp ngu ngốc đó chứ? Tất nhiên không phải người Fremen rồi. Cũng không phải các Tiểu Gia tộc vốn đang kiểm soát nền thương mại nội địa của Arrakis... và hầu như tất cả đều là tay sai của Harkonnen. Bọn chúng vừa toan lấy mạng con ta! Thật khó mà kìm nén được cơn giận này.
Ông nhìn thấy ánh đèn của một chiếc xe đang từ hướng Arrakeen chạy tới sân đáp tàu. Ông hy vọng chính là đội bảo vệ và đoàn hộ tống đang đưa Paul đến. Sự chậm trễ này thật khó chịu mặc dù ông biết đó là do sự cẩn trọng của người phụ tá của Hawat. Bọn chúng vừa toan lấy mạng con ta! Ông lắc đầu để tống khứ những ý nghĩ giận dữ này đi, nhìn trở lại phía sân đáp tàu nơi năm chiếc trong số các tàu chiến của ông được bố trí quanh mép sân giống như những người lính bảo vệ làm bằng đá nguyên khối.
Chậm trễ vì cẩn trọng thì vẫn tốt hơn là... Viên phụ tá đó là một người giỏi, ông tự nhắc mình. Một nhân vật nổi bật vì sự tiến bộ, lòng trung thành tuyệt đối. “Hoàng đế Padishah uy nghiêm...” Giá như cư dân cái thành phố đồn trú điêu tàn này có thể nhìn thấy bức thư riêng mà Hoàng đế gửi cho “Công tước Cao quý” của ngài - những ám chỉ đầy khinh thị về những người đàn ông đàn bà che mạng: “... nhưng người ta còn có thể chờ đợi gì khác ở cái lũ người man rợ
mà giấc mơ tha thiết nhất của chúng là được sống bên ngoài vòng an ninh có trật tự kỷ cương của chế độ faufreluches?” Trong khoảnh khắc này, Công tước cảm thấy giấc mơ tha thiết nhất của ông là chấm dứt mọi phân biệt giai cấp và không bao giờ nghĩ đến cái trật tự chết giẫm đó nữa. Ông ngước mắt qua màn bụi nhìn những ngôi sao không nhấp nháy, thầm nghĩ: Quay xung quanh một trong những ánh sáng nhỏ đó chính là Caladan... nhưng mình sẽ không bao giờ thấy lại quê hương nữa. Niềm khao khát được về Caladan biến thành cơn đau bất ngờ trong ngực ông. Ông cảm thấy cơn đau không xuất phát từ bên
trong con người ông, mà nó đã từ Caladan vươn đến bên ông. Ông không thể thuyết phục mình gọi cái mảnh đất hoang khô cằn Arrakis này là quê hương được, và ông không tin có khi nào đó mình lại làm được điều này. Ta phải che giấu cảm xúc của mình, ông nghĩ. Vì lợi ích của thằng bé. Nếu nó cần một mái nhà thì đây chính là nhà của nó. Ta có thể nghĩ đến Arrakis như một địa ngục mà ta đã tới trước khi chết, nhưng thằng bé phải tìm thấy ở nơi đây thứ sẽ truyền cho nó nhiệt huyết và khát vọng. Ắt phải có thứ gì đó.
Một làn sóng tự thương cảm - mà ông lập tức xem thường và bác bỏ - lướt qua ông, và bởi lý do nào đó ông chợt nhớ lại hai câu trong bài thơ Gurney Halleck thường ngâm: “Phổi ta nếm bầu không khí của Thời gian Thổi qua cát đổ...” Thế đấy, Gurney sẽ tìm thấy cả đống cát đổ ở nơi này, Công tước nghĩ. Phía bên kia những vách đá trông như phủ băng dưới ánh trăng đó là sa mạc trung tâm - đá trơ trụi, cồn cát, bụi bay tứ phía, một vùng hoang vu khô cằn không có tên trên
bản đồ, với những nhúm người Fremen sống đây đó dọc theo rìa hay có thể rải rác trong sa mạc. Nếu có bất kỳ thứ gì có thể mua một tương lai cho dòng họ Atreides thì duy chỉ người Fremen là làm được điều đó. Với điều kiện là bọn Harkonnen chưa tìm ra cách tiêm nhiễm được ngay cả người Fremen bằng những mưu đồ hiểm độc của chúng. Bọn chúng vừa toan lấy mạng con ta! Tiếng kim loại rin rít nạo xuống sân đáp truyền đến tận tháp chỉ huy, làm rung lan can dưới cánh tay ông. Những cửa chớp
dùng hơi rơi xuống trước mặt ông, chắn mất tầm nhìn. Tàu con thoi đang hạ cánh, ông nghĩ. Đã đến lúc đi xuống bắt tay vào việc. Ông quay ra cầu thang sau lưng, đi xuống phòng họp lớn, cố gắng giữ bình tĩnh trong khi xuống cầu thang, chuẩn bị nét mặt cho cuộc chạm trán sắp tới. Bọn chúng vừa toan lấy mạng con ta! Khi ông tới căn phòng có mái vòm màu vàng thì đám người từ ngoài sân đáp tàu đang sùng sục đi vào. Họ đeo túi không gian trên vai, hò hét ầm ĩ giống như đám sinh viên vừa nghỉ lễ trở về.
“Nè! Cảm thấy cái đó dưới cẳng chứ hả? Lực hấp dẫn đó chú mày ạ.” “Cái hành tinh này lực hấp dẫn là bao nhiêuG ấy nhỉ? Nghe nặng gớm.” “Theo sách thì chín