phần lý trí - vì toàn bộ bản thân ta đang hòa hợp với nhau. Những mục tiêu mà chúng ta “muốn làm” phản ánh sự hứng thú và các giá trị đích thực của chúng ta (lý tưởng). Chúng ta theo đuổi các mục tiêu này vì niềm vui của bản thân (lợi ích nội tại), vì tầm quan trọng vốn có của mục tiêu (lợi ích xác định), hoặc vì mục tiêu đã được đồng hóa với bản sắc của chúng ta (lợi ích
113 tích hợp). Nhưng quan trọng nhất, các mục tiêu này là do chúng ta tự do lựa chọn. Trái lại, những mục tiêu mà chúng ta “phải làm” là thứ bị áp đặt, thường là bởi một người bạn hoặc một thành viên ưa càu nhàu nào đó trong nhà (“Anh phải bỏ cái tật đó đi!”), hoặc bởi cảm giác tự trói buộc mà chúng ta có với một đoạn độc thoại nội tâm nào đó hay một mục tiêu bên ngoài (“Ôi mình trông thật quê mùa! Mình không thể đi dự đám cưới trong bộ dạng thế này được!”). Bạn có thể chọn ăn uống theo một chế độ tốt cho sức khỏe hơn vì cảm giác sợ hãi, xấu hổ hoặc lo lắng về ngoại hình của mình. Hoặc bạn có thể quyết định ăn uống lành mạnh vì bạn nhận thấy sức khỏe tốt là điều kiện quan trọng để có thể vui vẻ tận hưởng cuộc sống. Điểm khác biệt then chốt giữa hai loại lý do này là những động lực mang tính bắt buộc sẽ giúp bạn thực hiện những thay đổi tích cực trong một khoảng thời gian ngắn, nhưng cuối cùng thì quyết tâm đó cũng sẽ bị phá vỡ. Lúc nào cũng vậy, sẽ tới lúc xung động cảm xúc lấn áp chủ ý - và chuyện đó chỉ cần 0,195 giây để diễn ra. Ví dụ, các nghiên cứu cho thấy hai người có cùng mục tiêu giảm cân năm ký sẽ nhìn cùng một miếng bánh kem theo cách rất khác nhau tùy vào động cơ giảm cân của họ. Người có động cơ “muốn giảm cân” sẽ thật sự thấy miếng bánh ít hấp dẫn hơn (“Miếng bánh trông ngon đấy nhưng tôi không thèm muốn nó đến vậy”) và ít gặp trở ngại hơn trong quá trình giữ vững quyết tâm đạt được mục tiêu đề ra (“Trong thực đơn còn rất nhiều món ngon khác tốt cho sức khỏe hơn”). Một khi đã điều chỉnh động cơ của mình, người này không còn cảm thấy như đang phải đấu tranh chống lại các thế lực khó chống đỡ. Động cơ “muốn-làm” giúp bạn ít tự động bị cám dỗ bởi tác nhân kích thích có nguy cơ khiến bạn “sụp hố” - chẳng hạn như người yêu cũ hoặc ly rượu vang sóng sánh ánh đỏ trên khay rượu mà người bồi bàn vừa bưng qua - và thay vào đó, nó đẩy bạn về phía các hành vi có thể giúp bạn đạt được mục tiêu của mình. Ngược lại, động cơ “phải-làm” thật ra lại làm tăng sự cám dỗ vì nó khiến bạn cảm thấy bị gò bó hoặc bị tước quyền. Chính vì vậy, việc theo đuổi một mục tiêu vì những lý do “phải-làm” có thể làm suy yếu sự tự chủ của bạn và khiến bạn dễ có khuynh hướng làm những việc mình không thật sự mong muốn. Bất cứ ai đã từng ở bên một đứa trẻ sáu tuổi đều biết các bé có thể bướng bỉnh ra sao mỗi khi người lớn nhấn mạnh rằng bé “phải làm” việc gì đó, dù là đi ngủ, đánh răng hay chào hỏi ai đó. Một buổi tối, con trai Noah của tôi đã than thở rằng bé “phải làm” bài tập toán, dù thật ra bé rất thích môn toán. Điều này đã cho tôi cơ hội hoàn hảo để nắm bắt “thời khắc vàng để dạy con” - theo cách nói của các bậc cha mẹ. Tôi hỏi Noah: “Con phải làm hay muốn làm bài tập?”. “Con muốn!”, thằng bé cười toe toét trả lời và hớn hở về phòng để làm bài.
114 Nếu cuộc sống là một chuỗi những khoảnh khắc ngắn, mỗi khoảnh khắc đều được điều chỉnh một chút và tất cả những khoảnh khắc đó gộp lại có thể tạo ra sự thay đổi đáng kể, vậy thì hãy tưởng tượng bạn có thể tiến được bao xa nhờ những điều chỉnh nho nhỏ này và tìm kiếm động lực “muốn làm” ẩn trong những việc “phải làm”. Đây chính là lúc chúng ta thấy giá trị thiết yếu của việc biết mình thật sự coi trọng điều gì. Khi hiểu mình muốn đạt được điều gì trong bức tranh toàn cảnh, chúng ta nhận ra những việc mình thật sự muốn làm trong các tình huống mà nếu không có nhận thức này thì chúng ta chỉ có thể thấy nghĩa vụ và sự ép buộc. Ví dụ, tôi có thể dễ dàng nói tôi lại “phải” làm việc vào một ngày Chủ nhật đẹp trời để hoàn thành quyển sách này. Và nếu đi đến thư viện để tập trung viết sách, có thể tôi sẽ oán giận vì không được dành thời gian bên con hoặc không được hưởng ánh nắng mặt trời ấm áp. Rất rõ ràng, tuy có thể hoàn thành công việc nhưng tôi sẽ không toàn tâm toàn ý với nó. Trái lại, nếu tôi nhận định làm việc vào Chủ nhật là chuyện mình “muốn” bằng cách tự nhắc nhở mình rằng không ai buộc tôi phải viết một cuốn sách cả và tôi đang viết sách để truyền đi thông điệp quan trọng về sự linh hoạt trong cách ứng phó với cảm xúc, cảm giác vui thích và nguồn năng lượng dồi dào của tôi sẽ được kích hoạt. Tôi sẽ cởi mở với những ý tưởng mới và diễn giải các lưu ý của biên tập viên theo tinh thần xây dựng chứ không phải là những lời chỉ trích hoặc mệnh lệnh. Và như vậy thì đến cuối ngày, tôi sẽ vẫn còn năng lượng để tận hưởng một khoảng thời gian vui vầy bên chồng con trước khi bước vào giấc ngủ yên bình. Tất cả chúng ta đều dễ sa vào cái bẫy tinh vi của ngôn từ và lối suy nghĩ “Hôm nay tôi phải thực hiện nhiệm vụ của một người cha tốt” hoặc “Tôi lại phải dự một cuộc họp chán ngắt nữa”. Khi làm điều này, chúng ta quên rằng hoàn cảnh hiện tại thường là kết quả của các lựa chọn mà trước đó chúng ta đã đưa ra để phục vụ cho các giá trị của mình: “Tôi muốn trở thành một người cha tốt” hoặc “Tôi yêu công việc mình làm và tôi muốn mình thật xuất sắc trong công việc”. Cần nói rõ là tôi không có ý cho rằng chúng ta chỉ cần “suy nghĩ tích cực” và bỏ qua những mối bận tâm có thật đang ẩn sâu trong tâm trí mình. Nếu bạn không thể tìm thấy một động lực “muốn-làm” nào trong một khía cạnh nào đó của cuộc đời mình, đó có thể là dấu hiệu cho thấy bạn cần thay đổi. Nếu bạn dấn thân vào công việc vì muốn tạo ra sự khác biệt nhưng công ty của bạn tập trung nhiều hơn vào doanh thu, có vẻ đã đến lúc bạn cần đổi việc. Hoặc nếu bạn nhận ra rằng người yêu của mình không phải là người như bạn nghĩ, có thể bạn sẽ muốn tìm một mối quan hệ mới. Tìm ra việc mình muốn làm không đồng nghĩa với việc bạn phải có một lựa chọn cụ thể nào đó, mà là giúp bạn dễ chọn lựa những thứ có thể mang lại cho bạn một cuộc đời như ý.
115 Xây dựng để trường tồn: Thay đổi thói quen Ngay cả khi chúng ta có tư duy cầu tiến và kết nối được với những động lực chân thành nhất bên trong mình, những nỗ lực của chúng ta vẫn có thể rơi vào cảnh bị xếp xó trên căn gác mái của rất nhiều ý định tốt đẹp nhưng không được thực hiện, và nằm ngay bên cạnh chiếc xe đạp thể thao mới toanh hoặc chiếc máy ép trái cây đắt tiền mới được sử dụng có hai lần. Cách duy nhất để chúng ta đảm bảo những thay đổi mà mình tạo ra có thể được duy trì lâu dài là biến hành động mà mình đã cố ý chọn thực hiện thành một thói quen. Trong phần đầu của quyển sách này, chúng ta đã được cảnh báo về điểm yếu của các phản ứng tự động theo Hệ thống 1, các hành vi mà chúng ta cứ tự động thực hiện khi không chú tâm vào cuộc sống. Nhưng chúng ta cũng công nhận sức mạnh của những thói quen, thứ sức mạnh được chứng minh qua những lần chúng ta vất vả phá vỡ một thói quen nào đó. Như vậy, nếu muốn hướng những hành động của mình về phía các giá trị cá nhân - nếu muốn làm chủ khả năng linh hoạt trong cảm xúc - chúng ta cần biến những hành vi có chủ ý của mình thành thói quen, tức là làm cho những hành vi đó khắc sâu đến mức chúng ta không còn cần phải “cố ý” thực hiện chúng nữa. Những thói quen được chúng ta tự rèn luyện và phù hợp với những giá trị cũng như động lực “muốn-làm” của bản thân có lợi điểm là chúng có thể được duy trì lâu bền trong khi chúng ta gần như không cần nỗ lực gì thêm, vào những lúc khó khăn cũng như thuận lợi, khi chúng ta thật sự để tâm cũng như khi ta hoàn toàn không nhớ tới. Ví dụ, cho dù có rã rời đến mức nào, chúng ta vẫn luôn nhớ đánh răng sau khi thức dậy và thắt dây an toàn ngay khi ngồi vào xe ô-tô. Khả năng hình thành những thói quen gắn liền với giá trị bản thân không chỉ giúp những ý định tích cực của chúng ta được duy trì lâu dài, mà còn giúp chúng ta “dọn trống” tâm trí mình để tiếp nhận các nhiệm vụ khác. May mắn thay, các nhà khoa học đã khám phá được một vài bí quyết giúp quá trình tạo dựng thói quen trở nên dễ dàng hơn. Trong quyển sách bán chạy Nudge1 , nhà kinh tế học Richard Thaler và giáo sư luật Cass Sunstein đã cho chúng ta thấy cách làm thế nào để tác động lên hành vi của người khác thông qua những lựa chọn được thiết kế kỹ càng mà hai tác giả này gọi là “kiến trúc lựa chọn”. Ví dụ, bạn không thể và cũng không cần buộc mọi người phải trở thành người hiến tạng. Tất cả những gì bạn cần làm là thiết lập sự lựa chọn sao cho người ta dễ tình nguyện trở thành người hiến tạng hơn là quyết định không hiến tạng. Ở Đức, bạn phải thể hiện rõ ràng sự đồng ý bằng cách đánh dấu chọn vào bản đăng ký hiến tạng, và kết quả là tỷ lệ hiến tạng ở Đức đạt mức 12%. Mặt khác, ở nước Áo láng giềng, bạn được mặc định là đồng ý hiến tạng, trừ khi bạn đánh dấu chọn không tham gia chương trình. Tỷ lệ hiến tạng ở Áo là gần 100%. 1 Đã được First News xuất bản với tựa Cú hích.
116 Mặc dù không thể thay đổi hành vi của mình chỉ đơn giản bằng cách đánh dấu chọn vào một biểu mẫu nào đó, chúng ta vẫn có thể áp dụng khái niệm kiến trúc lựa chọn vào cuộc sống cá nhân. Khi làm như vậy, chúng ta tạo điều kiện cho bản thân tạo dựng những thói quen tốt để đưa chúng ta đến gần hơn với mục đích của mình. Thói quen được định nghĩa là một phản ứng tự động được kích hoạt bởi yếu tố khách quan trong một tình huống thường gặp. Chúng ta gặp hàng chục, thậm chí là hàng trăm tình huống quen thuộc mỗi ngày và thường tự động phản ứng với chúng trong vô thức. Nhưng khi cố ý tiếp cận các tình huống này và tìm cơ hội để có những hành động phù hợp với các giá trị của bản thân, ta có thể sử dụng chúng để kích hoạt các thói quen hữu ích hơn. Hãy xem xét một vài ý định được xây dựng dựa trên các giá trị cá nhân, các bối cảnh mà ở đó bạn có thể chọn tuân thủ các giá trị đó hay không, cùng với những sự thay đổi nhỏ mà bạn có thể áp dụng. Ý định: Bạn muốn sử dụng thời gian của mình hiệu quả hơn khi đang đi công tác. Bối cảnh: Phòng khách sạn. Điểm lựa chọn: Mở ti-vi ngay khi bạn vào phòng, hay là cứ để nó tắt? Ý định: Bạn muốn giữ sự lãng mạn trong đời sống hôn nhân. Bối cảnh: Buổi tối ở nhà. Điểm lựa chọn: Chào hỏi qua loa khi người bạn đời bước vào và tiếp tục công việc bạn đang làm dở, hay là đứng lên chào đón họ nồng nhiệt? Ý định: Bạn muốn tận hưởng khoảng thời gian ít ỏi bên con cái. Bối cảnh: Buổi sáng ở nhà. Điểm lựa chọn: Việc đầu tiên bạn làm sau khi thức dậy là kiểm tra email, hay là dành thời gian vui đùa với con? Nếu bạn thường chọn bật ti-vi, chào hỏi qua loa hoặc kiểm tra email trong các tình huống trên, việc thay đổi những hành vi này có thể sẽ đòi hỏi bạn phải nỗ lực một chút trong giai đoạn đầu. Nhưng bạn càng thường xuyên thực hiện hành vi mới thì nó càng khắc sâu vào tâm trí, nhờ đó phần não vô thức của bạn có thể hướng bạn vào mục tiêu mà bạn cần hoàn thành. Trong một chuỗi nghiên cứu được thực hiện trên hơn 9.000 hành khách, các nhà nghiên cứu đã đặt hai bảng chỉ dẫn khác nhau tại một nhà ga. Một bảng được thể hiện theo ngôn ngữ “muốn-làm” để thu hút những hành khách có mong muốn tự chủ, nội dung của bảng này ghi: “Bạn sẽ đi thang bộ chứ?”. Bảng còn lại được viết theo kiểu mệnh lệnh: “Hãy đi thang bộ”. Các bảng hướng dẫn này được đặt cách giao điểm của lối vào thang bộ và thang cuốn một khoảng nhất định để hành khách có đủ thời gian lựa chọn. Sau khi quan sát, các nhà nghiên cứu nhận thấy bảng “Bạn sẽ đi thang bộ chứ?” có
117 tác động lớn nhất đối với phản ứng của hành khách. Những người đã đọc chỉ dẫn này thậm chí còn chọn đi thang bộ tại điểm lựa chọn tiếp theo, dù nơi đó không có chỉ dẫn gì cả. Như vậy, bảng chỉ dẫn đề cao tinh thần tự chủ - tức là cho người ta cảm giác được chọn việc mình muốn làm thay vì bị ép buộc phải làm - đã dẫn đến hành vi có khả năng được duy trì bền vững hơn. Tuy nhiên, khi các nhà nghiên cứu đưa ra một điều chỉnh thú vị cho thí nghiệm này bằng cách đặt các bảng chỉ dẫn ngay tại điểm lựa chọn thang-bộ-haythang-cuốn, hành khách lại có xu hướng thực hiện yêu cầu “Hãy đi thang bộ” nhiều hơn. Quả thật, việc kết nối với những động lực “muốn-làm” là điểm mấu chốt để tạo ra sự thay đổi hiệu quả; nhưng khi bạn đang gấp (hoặc mệt mỏi, đói bụng…) thì việc biết chính xác mình cần làm gì sẽ cực kỳ có ích. Qua thí nghiệm này chúng ta lại được thấy sức mạnh của các phản ứng tự động - hay nói cách khác là sức mạnh của các thói quen. Hình ảnh chụp cộng hưởng từ chức năng (fMRI) cho thấy việc tiếp xúc với các tín hiệu mà chúng ta liên kết với sự tưởng thưởng - chẳng hạn như thức ăn ngon, tiền bạc, tình dục, thuốc lá đối với người nghiện hút thuốc... - sẽ kích hoạt “vùng tưởng thưởng” của não,