Tư Duy Pháp Lý Của Luật Sư

Chương 3, Mục

Chương 3, Mục

Chương 3, Mục 1.3. Ở đây ta sẽ phân tích chi tiết hơn để hiểu rõ tầm quan trọng của tư cách. A. Trình bày Sáu giờ ngày 10/9/1996, chị Phượng (con một chủ đại lý vé số cấp II ở Đồng Tháp tên là Phát) đưa một cọc vé số 100 tờ bán không hết của Công ty Xổ số kiến thiết tỉnh Minh Hải (sẽ xổ chiều cùng ngày) và 5.000 đồng cho chị Ý để chị này đến bến xe nhờ người nào đó theo xe đò về Cao Lãnh đem trả cho ông thầu Thi – chủ đại lý vé số cấp I.

250 TƯ DUY PHÁP LÝ CỦA LUẬT SƯ Sĩ Phúc là lơ xe 66S–0289 đang ngồi uống nước gần đó nên được nhờ làm việc này. Khoảng 12 giờ, xe về đến Cao Lãnh. Vì lo phụ tài xế sửa thắng xe nên Phúc quên mang cọc vé số trả thầu Thi. Đến 14 giờ 30 phút, Phúc tiếp tục theo xe chở khách về Hồng Ngự. Khoảng 16 giờ 30 phút, xe Phúc gặp xe khách 66T–0114 đang trên đường về Cao Lãnh nên Phúc đưa cọc vé cùng 5.000 đồng cho lơ xe Nguyễn Hữu Nghị nhờ giao trả cho thầu Thi. 17 giờ 30 phút, xe 66T–0114 đến Cao Lãnh. Do xe phải hợp đồng đưa đám tang nên Hữu Nghị nhờ Hồ Văn Minh (lơ xe 66T–0765) đem trả cọc vé cho thầu Thi. Minh nhận cọc vé và mượn xe đạp chạy đến thầu Thi. Vì quá giờ xổ số nên thầu Thi không nhận mà lấy băng keo niêm phong và nhờ Minh chuyển trả lại cho chủ (Phát). Đường đi của 100 tờ vé số tóm lược như sau: Phát (đại lý cấp II) ––– Ý ––– Phúc ––– Nghị ––– Minh ––– Thi (đại lý cấp I) ––– trả lại cho Minh vì trễ giờ. Sau khi bỏ cọc vé vào túi quần, Minh đạp xe về bến xe Cao Lãnh. Minh rủ hai người bạn là Nhân và Hoàng đi uống rượu. Uống hết một xị, Nhân về trước. Còn Minh và Hoàng tiếp tục ngồi uống. Được vài ly, Hoàng đi tiểu. Lúc này, có một bé gái đến mời Minh mua vé số. Minh không mua nhưng mượn sổ ghi kết quả và xé niêm phong cọc vé số để dò. Khi phát hiện trúng độc đắc số 87963, Minh cất ngay cọc vé vào túi quần. Khi Hoàng trở lại, hai người uống hết chai rượu rồi về nghỉ. Về tới bến xe, dò lại thấy trúng năm tờ độc đắc, Minh cất riêng, số vé còn lại Minh dán niêm phong như cũ. Khoảng 21 giờ cùng ngày, Minh đến đại lý vé số của ông Thanh ở thị xã Cao Lãnh đổi vé trúng. Do không có CMND, Minh nhờ anh Thủy, cán bộ điều hành bến xe bảo lãnh cho mình đổi số trúng. Sau một lúc bàn bạc, Minh đồng ý nhận 220 triệu đồng (tương đương 42 lượng vàng 24K) và 1.940.000 đồng. Ông Thanh chở Minh đến tiệm vàng gần đó lấy 20 lượng và một chỉ vàng nhẫn 24K. Số còn lại, ông Thanh làm giấy hẹn 8 giờ sáng 11/9/1996 sẽ chung đủ. Đúng hẹn, ông Thanh tiếp tục giao cho Minh số vàng còn thiếu. Sau khi trừ một ít tiền bồi dưỡng cho ông Thanh, anh Thủy…, tổng số vàng Minh nhận được và đem cất giấu chỗ kẹt bình đựng dầu (dưới gầm xe 66T–0765) là 41,9 lượng vàng 24K.

Một số vụ khác để mở rộng 251 Thầu Phát, sau khi đài Minh Hải mở số, biết trong cọc vé đem trả có năm tờ mang số 87963 trúng độc đắc, ông nhờ chị Phượng đến hỏi thầu Thi. Thầu Thi cho biết có người đến trả cọc vé nhưng vì quá giờ xổ nên không nhận và yêu cầu mang trả lại cho chủ. 24 giờ ngày 10/9/1996, Phượng tìm gặp Minh (đang ngủ trên xe 66T–0765) và lấy lại cọc vé. Về nhà kiểm tra, Phượng phát hiện mất năm tờ số 87963. Sáng hôm sau, thầu Phát đi báo công an là Minh đã ăn cắp năm tấm vé số. Ngày 15/9/1996, theo lời khai của Minh, cơ quan điều tra khám xe 66T– 0765 để thu hồi tiền trúng số nhưng không tìm thấy. Qua điều tra, Minh khai lại: giao 41,9 lượng vàng cho dì ruột tên Hoa cất giữ. Thế nhưng khi đối chất với chị Hoa, Minh khai giấu dưới gầm xe và đã bị mất. Còn chị Hoa khẳng định không biết gì về việc này. B. Cách làm (B2) CHKL: Minh có ăn cắp 5 tờ vé số không? Đây là điều mà ông Phát thưa Minh. (B4) Loại bỏ các chi tiết không cần thiết Sáu giờ ngày 10/9/1996, chị Phượng (con một chủ đại lý vé số cấp II ở Đồng Tháp tên là Phát) đưa một cọc vé số 100 tờ bán không hết của Công ty Xổ số kiến thiết tỉnh Minh Hải (sẽ xổ chiều cùng ngày) và 5000 đồng cho chị Ý đến bến xe nhờ người theo xe đò về Cao Lãnh trả cho ông thầu Thi – chủ đại lý vé số cấp I. Sĩ Phúc là lơ xe 66S–0289 đang ngồi uống nước gần đó nên được nhờ làm việc này. Khoảng 12 giờ, xe về đến Cao Lãnh. Vì lo phụ tài xế sửa thắng xe nên Phúc quên mang cọc vé số trả thầu Thi. Đến 14 giờ 30 phút, Phúc tiếp tục theo xe chở khách về Hồng Ngự. Khoảng 16 giờ 30 phút, xe Phúc gặp xe khách 66T–0114 đang trên đường về Cao Lãnh nên Phúc đưa cọc vé cùng 5000 đồng cho lơ xe Nguyễn Hữu Nghị nhờ giao trả cho thầu Thi. 17 giờ 30 phút, xe 66T–0114 đến Cao Lãnh. Do xe phải hợp đồng đưa đám tang nên Hữu Nghị nhờ Hồ Văn Minh (lơ xe 66T–0765) đem trả cọc vé cho thầu Thi. Minh nhận cọc vé và mượn xe đạp chạy đến thầu Thi. Vì quá giờ xổ số nên thầu Thi không nhận mà lấy băng keo niêm phong và nhờ Minh chuyển trả lại cho chủ (Phát).

252 TƯ DUY PHÁP LÝ CỦA LUẬT SƯ Đường đi của 100 tờ vé số tóm lược như sau: Phát/Phượng (đại lý cấp II) ––– Ý ––– Phúc ––– Nghị ––– Minh ––– Thi (đại lý cấp I). Người sau cùng trả lại cho Minh vì trễ giờ. Sau khi bỏ cọc vé vào túi quần, Minh đạp xe về bến xe Cao Lãnh. Minh rủ hai người bạn là Nhân và Hoàng đi uống rượu. Uống hết một xị, Nhân về trước. Còn Minh và Hoàng tiếp tục ngồi uống. Được vài ly, Hoàng đi tiểu. Lúc này, có một bé gái đến mời Minh mua vé số. Minh không mua nhưng mượn sổ ghi kết quả và xé niêm phong cọc vé số để dò. Khi phát hiện trúng độc đắc số 87963, Minh cất ngay cọc vé vào túi quần. Khi Hoàng trở lại, hai người uống hết chai rượu rồi về nghỉ. Về tới bến xe, dò lại thấy trúng năm tờ độc đắc, Minh cất riêng, số vé còn lại Minh dán niêm phong như cũ. Khoảng 21 giờ cùng ngày, Minh đến đại lý vé số của ông Thanh ở thị xã Cao Lãnh đổi vé trúng. Do không có CMND, Minh nhờ anh Thủy, cán bộ điều hành bến xe bảo lãnh cho mình đổi số trúng. Sau một lúc bàn bạc, Minh đồng ý nhận 220 triệu đồng (tương đương 42 lượng vàng 24K) và 1.940.000 đồng. Ông Thanh chở Minh đến tiệm vàng gần đó lấy 20 lượng và một chỉ vàng nhẫn 24K. Số còn lại, ông Thanh làm giấy hẹn 8 giờ sáng 11.09.1996 sẽ chung đủ. Đúng hẹn, ông Thanh tiếp tục giao cho Minh số vàng còn thiếu. Sau khi trừ một ít tiền bồi dưỡng cho ông Thanh, anh Thủy …, tổng số vàng Minh nhận được và đem cất giấu chỗ kẹt bình đựng dầu (dưới gầm xe 66T–0765) là 41,9 lượng vàng 24K. Thầu Phát, sau khi đài Minh Hải mở số, biết trong cọc vé đem trả có năm tờ mang số 87963 trúng độc đắc, ông nhờ chị Phượng đến hỏi thầu Thi. Thầu Thi cho biết có người đến trả cọc vé nhưng vì quá giờ xổ nên không nhận và yêu cầu mang trả lại cho chủ. 24 giờ ngày 10/9/1996, Phượng tìm gặp Minh (đang ngủ trên xe 66T– 0765) và lấy lại cọc vé. Về nhà kiểm tra, Phượng phát hiện mất năm tờ số 87963. Sáng hôm sau, thầu Phát đi báo công an là Minh đã ăn cắp năm tấm vé số. Ngày 15/9/1996, theo lời khai của Minh, cơ quan điều tra khám xe 66T– 0765 để thu hồi tiền trúng số nhưng không tìm thấy. Qua điều tra, Minh khai lại: giao 41,9 lượng vàng cho dì ruột tên Hoa cất giữ. Thế nhưng khi

Một số vụ khác để mở rộng 253 đối chất với chị Hoa, Minh khai giấu dưới gầm xe và đã bị mất. Còn chị Hoa khẳng định không biết gì về việc này. (B5) Minh nhận một cọc vé số từ tay Phát/Phượng ––– Ý ––– Phúc ––– Nghị. Đại lý không nhận vì trễ giờ. Minh cầm cọc vé số, sau dò số trúng, biết trong cọc vé có năm tờ Minh rút ra đổi lấy tiền và trả lại cho Phượng số còn lại. Phát giác mất năm tờ trúng đã bị Minh lấy. Ông Phát thưa Minh ra công an. Sự kiện mấu chốt ở đây là Minh đã lấy năm tờ vé số trúng giải được giao cho mình đổi lấy vàng. (B6) CHMC: Minh có phải là chủ của năm tờ vé số hay không? Ta không hỏi: “Minh có ăn cắp không?” Vì đó là CHKL. Ta cũng không hỏi Minh có quyền đổi năm tờ vé số hay không vì nội vụ cho thấy anh ta nhận năm tờ đó từ tay người khác. Anh ta không ăn cắp của ai, năm tờ kia đã nằm trong tay anh ta khi chúng được phát hiện là vé trúng. (B7) Khi CHMC là thế, thì: - CHPT1: Năm tờ vé số đã rơi vào tay anh ta như thế nào? Ta thấy ông Phát là chủ 100 tờ vé số, ông bảo Phượng giao cho Ý đem trả cho ông Thi và có đưa 5.000 đồng. Nhìn theo khía cạnh luật pháp là ông Phát nắm giữ số vé, ông ủy quyền cho Phượng lập một hợp đồng dịch vụ với Ý. Vậy Ý là người thực hiện hợp đồng dịch vụ. Ý chuyển giao công việc thực hiện cho Phúc, rồi Phúc giao cho Nghị. Nội vụ không cho biết là họ có nhận 5.000 đồng tiền công từ Ý hay không. Nếu họ không nhận thì tư cách của họ là được Ý ủy quyền; còn nếu nhận tiền thì là người thực hiện dịch vụ. Ta có Phúc là người có một trong hai tư cách ấy và Nghị cũng vậy. Trong cả hai tư cách đó, họ không trở thành người chủ của năm tờ vé số được. Chuyện họ thân thiện với nhau, chia tiền hay không… không làm thay đổi tư cách của họ đối với ông Phát là người nắm giữ 100 tờ vé số. - CHPT2 là: Cách thức mà năm tờ vé đó rơi vào tay anh ta có cho anh ta quyền sở hữu đối với chúng không? Khi Minh nhận số vé kia thì tư cách của anh ta cũng không khác gì với Nghị và Phúc và cũng không thể trở thành người chủ của các tờ vé số. Người Pháp có một nguyên tắc: Anh không thể chuyển nhượng cho người

254 TƯ DUY PHÁP LÝ CỦA LUẬT SƯ khác cái gì anh không có. Vậy ở đây ta xác định tư cách của những người liên quan từ Ý đến Minh để xác định quyền lợi và nghĩa vụ của mỗi người đối với ông Phát. Ta xác định được rằng đối với ông Phát, Minh là người thực hiện hợp đồng dịch vụ mà người đại diện của ông Phát là Phượng đã giao kết bằng miệng với Ý, hay anh ta là người được Ý ủy quyền để thực hiện công việc. Vậy cho các CHPT ta đã có câu trả lời. Và cho CHMC chúng ta cũng đã có câu trả lời là Minh không phải là chủ của năm tờ vé số. Bài này hướng dẫn các bạn cách thức phân tích theo tư cách để xác định quyền lợi và bổn phận. Chọn cơ sở nào để phân tích là tùy từng vụ việc. Ở đây ta dùng tư cách để tiếp cận vấn đề. Bây giờ bạn cũng hiểu thêm là CHPT củng cố CHMC như thế nào. Vụ 30 Rút vốn A. Trình bày Ông A hùn 50 triệu, bà B vàC, mỗi bà bỏ 25 triệu để thực hiện dự án khai thác nước khoáng tại tỉnh Z. Vùng đất khai thác thuộc về bà B hiện đang là chủ một doanh nghiệp tư nhân tên là XY. Ba người đồng ý là sẽ thuê một kỹ thuật viên phụ trách thực hiện dự án. Bà B sẽ phụ trách liên lạc với chính quyền, ông A và bàC phụ trách tiếp thị. Lợi nhuận sẽ được chia như sau ông A hưởng 28%, bà B vàC thì 28% mỗi người và kỹ thuật viên được hưởng 16%. Họ dự định lập một công ty TNHH với phần đóng góp như đã nêu: ông A chiếm 50% vốn, bà B và bàC mỗi người chiếm 25%. Ông A đã đưa tiền cho kỹ thuật viên (KTV), người sau làm biên nhận đồng thời viết thư cám ơn bà B là đã nhận tiền và sử dụng nó vào một dự án khác được chính quyền thuê nhưng chưa được cấp chi phí. Công việc được tiến hành tốt đẹp. Tiếp tục dự định lập công ty, kỹ thuật viên đưa ra dự án trong đó bà B nắm 44% số vốn, còn bàC và ông A nắm mỗi người 28%. Hai người sau không đồng ý vì cho rằng kỹ thuật viên đang từ không bỏ đồng nào nay có 16% vốn nằm trong số của bà B và họ không ngó ngàng đến dự án nữa, để mọi việc cho bà B và kỹ thuật viên lo. Hai người này nghe nói có bỏ thêm tiền bạc và sức lực vào dự án và đã sản xuất được nước khoáng bán trên thị

Một số vụ khác để mở rộng 255 trường. Ông A thấy chuyện xảy ra không hay, rằng kỹ thuật viên tham lam, đã được chia lời nay lại muốn nắm vốn, và muốn rút về số tiền đã bỏ vào. Bạn là luật sư của ông A và chỉ các cách cho ông ta rút tiền. B. Cách làm (B3, 4 và 5) Ghi ra chi tiết nội vụ không bỏ sót chi tiết nào – Phân loại luôn để khái quát hóa. Cơ sở hiện thời Vốn góp Dự án thực hiện Dự định DNTN XY A hùn 50 triệu Nước khoáng CTTNHH của B B hùn 25 triệu Vốn góp như cũC hùn 25 triệu KTV được thuê – hưởng 16% lời B và KTV chiếm 44% B lo ngoại giao – hưởng 28% lời A chiếm 28% A vàC lo tiếp thị – 28% lời mỗi ngườiC chiếm 28% A giao tiền cho KTV KTV nhận và cám ơn B Bạn thấy ở đây tôi phân loại các sự kiện theo thực tế nội vụ và chi tiết của việc nào đi vào việc ấy. Yêu cầu ông A là muốn rút vốn đã bỏ vào dự án. Tình tiết đã thấy rõ không cần phải đơn giản hóa hơn nữa. Khi nhìn thấy như trên bạn phải nhớ tính chất trách nhiệm của doanh nghiệp tư nhân và công ty. Ở đó DNTN và chủ là một, công ty TNHH mới tách người rút vốn ra khỏi công ty. (B6) CHMC Ông A muốn rút vốn về. Đấy là điều ông muốn. Nhưng là luật sư, bạn không nên nhìn vào các chi tiết đã biết mà chỉ ông ta cách đòi; thí dụ ông ta đã đưa cho KTV thì đến đòi người ấy. Nếu nghĩ như thế thì có ngày bạn sẽ xúi ông A thuê người đánh KTV. TDPL buộc bạn phải nghĩ như thế này, muốn đòi thì phải biết đã giao tiền cho ai; vậy CHMC là: “Ông A đã giao tiền cho ai?”. Xác định ông A đã giao tiền cho ai thì mới đòi từ người ấy được. Từ đó ta có CHPT như sau. (B7) CHPT

256 TƯ DUY PHÁP LÝ CỦA LUẬT SƯ - Khi ông A giao tiền cho KTV là ông góp vốn, thế ông góp vào DNTN hay CTTNHH dự định lập? Ta thấy cả ba người dùng DNTN làm cái cầu để thực hiện dự án và sẽ lập CTTNHH. Nhưng công ty này chưa được lập và nay ông A muốn rút vốn. Vậy là ông ấy chưa góp vốn vào CTTNHH mà giao tiền cho bà B, với tư cách cá nhân hoặc là chủ DNTN. Dù có trả lời nộp cho ai ở trên thì người đã nhận vẫn là bà B. Do đó ta thấy KTV làm biên nhận cho ông A nhưng cám ơn bà B. Vậy dựa vào tính chất của DNTN, vào thư cám ơn của KTV gửi cho bà B, ta xác định là tiền của ông A đã được giao cho bà B. - Tư cách của bà B là gì khi được KTV cám ơn? Vì CTTNHH chưa được lập nên DNTN – tức là bà B – được coi là chủ dự án, vì thế bà B mới phụ trách liên lạc với chính quyền. Tiền góp cho dự án, tức là góp cho DNTN, và theo tính chất trách nhiệm của DNTN, tiền đó được giao cho bà B. Bà B là chủ DNTN, giám đốc dự án. Trả lời cho thân chủ: Bạn đề nghị ông A đi đòi bà B để rút vốn về. Vụ 31 Vụ án chiếc xe Dream Vụ án này được TAND TP HCM đem ra làm đề tài thảo luận trong cuộc hội thảo chuyên ngành với nhiều tình huống pháp lý thú vị được đặt ra như: ai là người bị hại; ai là người có nghĩa vụ, quyền lợi liên quan và áp dụng mức lãi suất nào thì đúng? Nhưng qua nhiều lần thảo luận mà vẫn chưa thống nhất được quan điểm. Trong bài này tôi đề nghị cách giải quyết các câu hỏi đã được thảo luận. A. Trình bày Năm 1997, bà Loan ở phường Bình Trưng Tây, quận 2, đem chiếc xe Dream biển số 53X – 2737 đến Doanh nghiệp tư nhân (DNTN) cầm đồ Phương Nam, do bà Hơn làm chủ, cầm cố vay 17 triệu đồng với lãi suất cầm cố 0,2%/ngày (quy định về lãi suất cầm cố cho phép dao động đến 0,3%/ngày). Hợp đồng

Một số vụ khác để mở rộng 257 thỏa thuận chỉ trong vòng một tháng. Chỗ quen biết, bà Hơn chỉ giữ lại giấy tờ xe, còn chiếc xe cho bà Loan đem về làm phương tiện đi lại. Nhưng hơn nửa năm, bà Loan không chịu thanh lý hợp đồng, chỉ đóng lãi hằng ngày. Năm 1998, bà Loan cớ mất giấy tờ xe, xin cấp phó bản đăng ký xe. Sau khi có phó bản, bà Loan lại mang xe đến tiệm cầm đồ Yến Nhi cầm cố, vay được 20 triệu đồng nữa. Đến ngày thanh lý hợp đồng, bà Loan không có tiền trả nên nhờ chủ tiệm cầm đồ Yến Nhi tìm người bán luôn chiếc xe. Chiếc xe sau đó đã bán cho ông Quân (bằng giấy tay) được 27,3 triệu đồng. Ông Quân bán lại cho người khác, rồi người này lại bán nữa. Cứ như thế, chiếc xe bị sang tay đến người thứ năm là ông Thảo với giá 22 triệu đồng vào cuối năm 1999. Bà Hơn, chủ tiệm cầm đồ Phương Nam, đã làm đơn tố cáo hành vi lừa đảo của bà Loan. Công an quận 2 đã bắt giam bà Loan và VKS quận 2 đã truy tố bà Loan về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Ai là người bị hại? Câu trả lời tưởng rằng đơn giản, không ngờ qua cả mấy phiên xử mà dường như vẫn chưa xác định được cho đúng ai là người bị hại, ai là người có nghĩa vụ, quyền lợi liên quan trong vụ án này… Ngày 09/8/2000, TAND quận 2 đưa vụ án ra xét xử. Ông Quân (người đầu tiên mua chiếc xe) được tòa mời với tư cách người bị hại, còn bà Hơn (chủ tiệm cầm đồ Phương Nam) được mời với tư cách người có nghĩa vụ, quyền lợi liên quan. Trong phần thẩm vấn tại phiên tòa, thẩm phán chủ tọa Lệ hỏi bị cáo Loan: “Bị cáo làm như vậy có biết lừa đảo ai không?”. “Dạ, lừa bà Hơn” – bị cáo trả lời. Vị chủ tọa lớn tiếng: “Không phải, lừa ông Quân mới đúng!”. Án sơ thẩm tuyên phạt bị cáo Loan 30 tháng tù giam và cho rằng quan hệ giữa bà Hơn với bà Loan là giao dịch dân sự, chuyển sang giải quyết theo thủ tục dân sự. Bà Hơn kháng cáo. Ngày 04/12/2000, TAND TP.HCM đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Chủ tọa phiên tòa, thẩm phán Thủy, đưa ra nhận định hoàn toàn khác với phiên sơ thẩm: bà Hơn và ông Thảo (người mua xe cuối cùng) mới là người bị hại. Án phúc thẩm quyết định hủy án sơ thẩm, giao về cho Tòa án Quận 2 xử lại. Ngày 19/6/2001, TAND quận 2 đưa vụ án ra xét xử lại, tuyên phạt bị cáo Loan 18 tháng tù giam về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Về dân

258 TƯ DUY PHÁP LÝ CỦA LUẬT SƯ sự, bà Loan phải bồi thường cho bà Hơn 14 triệu đồng và ông Thảo 22 triệu đồng; giao chiếc xe lại cho bà Loan sau khi bà bồi thường tiền xong. Bà Hơn tiếp tục kháng cáo. Ngày 27/9/2001, TAND TP.HCM đưa vụ án ra xét xử lại lần hai. Lúc này, bà Loan đã chấp hành xong hình phạt tù 18 tháng. Tại phiên tòa này, có thêm một nhận định khác nữa, thẩm phán chủ tọa Huệ xác định: bà Hơn là người bị hại và ông Thảo là có nghĩa vụ, quyền lợi liên quan. Hợp đồng cầm cố hay hợp đồng cho vay? Trong các phiên xử, bà Hơn, chủ tiệm cầm đồ, luôn bảo vệ quan điểm của mình rằng hợp đồng giữa bà với bà Loan là hợp đồng cầm cố, yêu cầu HĐXX thu

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 97

Đang tải bình luận...