hồi vốn nên ngày 04/02/1999 đã có cuộc họp giữa SNT, VCB NT và TV để bàn về trả nợ. Tại cuộc họp, Công ty TV đồng ý nhận nợ kèm theo một số điều kiện mà VCB NT không thể chấp nhận được. Việc Công ty TV đồng ý nhận nợ là
232 TƯ DUY PHÁP LÝ CỦA LUẬT SƯ sự tự nguyện chứ không thể buộc được vì quá trình mở L/C cũng như trả lại hàng hóa cho SY chỉ một mình SNT quyết định và thực hiện. Đến nay, Công ty TV không nhận trách nhiệm thanh toán nên không có cơ sở buộc Công ty TV phải chịu trách nhiệm thanh toán tiền cho VCB NT. (Giải thích: chỉ cần nhớ các bên đã họp để tìm cách giải quyết) Tại phiên tòa, đại diện VCB NT đã nhận thức được các lỗi của mình trong quá trình mở L/C cho SNT nên chỉ yêu cầu Tòa án buộc SNT phải thanh toán lại cho VCB NT tiền gốc mà VCB NT đã trả cho nước ngoài là 875.000 USD, các loại phí và lãi VCB NT không yêu cầu. Đối với số tiền 62.500 USD mà SNT đã ký quỹ, khi Tòa án TP có quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 767/BPTT–KT ngày 03/6/1997 buộc VCB NT đã chấp hành quyết định của Tòa án TP và số tiền ký quỹ 62.500 USD. VCB NT đã trả lại cho SNT. Như vậy, số tiền ký quỹ 62.500 USD đã không còn nên SNT phải trả cho VCB NT toàn bộ số tiền 875.000 USD là có căn cứ.” - Loại bỏ lần 3: Các sự kiện chính còn lại là như sau: Công ty SNT yêu cầu mở thư tín dụng (L/C) do ông Phạm Ngọc M., giám đốc công ty ký trị giá 1.250.000 USD. VCB NT chấp thuận mở L/C. Thư tín dụng (L/C) được mở là L/C không hủy ngang, chỉ được sửa đổi hoặc hủy bỏ khi có sự đồng ý của cả bốn bên: ngân hàng phát hành hối phiếu, ngân hàng bảo lãnh, người trả tiền và người hưởng tiền. Ngân hàng phát hành là Ngân hàng KEB tại Manila đã phát hành hối phiếu trị giá 1.250.000 USD gửi cho VCB NT kèm theo bộ chứng từ theo quy định. Ngày 14/8/1995, Giám đốc SNT đã ký nhận vào sau hối phiếu. Sau khi Giám đốc Công ty SNT ký nhận hối phiếu, VCB NT đã báo cho KEB là Công ty SNT nhận nợ. Ngày 16/4/1996 Công ty SNT lại tự ý thỏa thuận hủy L/C với Công ty SY mà không hề xin ý kiến hoặc báo cho VCB NT biết.
Một số vụ khác để mở rộng 233 Công ty SNT cho rằng, ngày 24/4/1996 công ty có báo cho VCB NT biết việc Công ty SNT đã hủy L/C và ông Phó giám đốc VCB NT đã đồng ý cho hủy nên Công ty SNT không có trách nhiệm thanh toán tiền lại cho VCB NT. Theo UCP 500, L/C không hủy ngang cũng không được hủy ngang khi chưa có sự đồng ý của ngân hàng phát hành (KEB). Do đó không thể cho rằng việc VCB NT đồng ý cho hủy L/C đồng nghĩa với việc chấm dứt nghĩa vụ thanh toán của Công ty SNT. Ngày 04/02/1999 đã có cuộc họp giữa SNT, VCB NT và TV để bàn về trả nợ. Tại cuộc họp, Công ty TV đồng ý nhận nợ kèm theo một số điều kiện mà VCB NT không thể chấp nhận được. Việc Công ty TV đồng ý nhận nợ là sự tự nguyện chứ không thể buộc được vì quá trình mở L/C cũng như trả lại hàng hóa cho SY chỉ một mình SNT quyết định và thực hiện. Đến nay, Công ty TV không nhận trách nhiệm thanh toán nên không có cơ sở buộc Công ty TV phải chịu trách nhiệm thanh toán tiền cho VCB NT. Tại phiên tòa, đại diện VCB NT chỉ yêu cầu Tòa án buộc SNT phải thanh toán lại cho VCB NT tiền gốc mà VCB NT đã trả cho nước ngoài là 875.000 USD. VCB NT nhận mình có lỗi trong việc mở L/C (Tòa không nói lỗi gì, có thể là hợp đồng bảo lãnh vô hiệu vì SNT chưa hội đủ điều kiện để ký hợp đồng. Điều quan trọng ở đây là VCB NT chỉ đòi SNT trả 875.000 USD). Đối với số tiền 62.500 USD mà SNT đã ký quỹ, VCB NT đã chấp hành quyết định của Tòa án TP và đã trả lại cho SNT. Như vậy, số tiền ký quỹ 62.500 USD đã không còn nên SNT phải trả cho VCB NT toàn bộ số tiền 875.000 USD là có căn cứ. (B5) Khái quát hóa: • SNT xin VCB NT mở tín dụng thư không hủy ngang để mua hàng của SY. Ngân hàng của SY là KEB. • VCB NT đã mở. KEB gửi chứng từ. SNT đã ký xác nhận. • SNT liên lạc với SY và hai bên hủy tín dụng thư. • VCB NT không biết tín dụng thư đã bị hủy và đã trả tiền cho KEB. • Theo UCP 500 về tín dụng thư thì L/C không hủy ngang chỉ được hủy khi hai bên mua bán và hai ngân hàng của cả bốn đều chấp nhận. Trong vụ này không có sự kiện nào cho thấy ngân hàng KEB đã chấp nhận.
234 TƯ DUY PHÁP LÝ CỦA LUẬT SƯ SKMC là: SNT đã hủy L/C với sự thỏa thuận của SY. Các SKQT là: KEB không biết gì – VCB NT không được thông báo dù SNT nói là đã thông báo, vì nếu đã được thông báo VCB NT rồi thì tại sao đơn khởi kiện của VCB NT được tòa chấp nhận? Do đó, tòa đã xác nhận là VCB NT chưa được thông báo. B6: CHMC: Muốn hủy một L/C không hủy ngang thì phải có bốn bên đồng ý. Nếu chỉ có hai bên là SNT và SY đồng ý hủy thì L/C kia có bị hủy không? Hỏi như thế rồi dựa vào quy định về L/C thì bạn sẽ có câu trả lời. Bạn thấy tòa buộc SNT phải trả nợ cho VCB NT cho số tiền mà ngân hàng đã trả cho KEB. CHMC của vụ này là như thế. Nó xuất phát từ SKMC. Ta tìm được SKMC nhờ đã phân tích các việc khác nhau trong vụ kiện, loại bỏ những gì không cần thiết, chưa cần đến; loại cái phụ, nắm cái chính. Tùy kiến thức và khả năng phân tích của bạn mà các chi tiết của nội vụ sẽ có nhiều hay ít. Chi tiết càng ít bạn đặt các câu hỏi chính xác. Đưa ra câu hỏi nhanh và chính xác thì đó là tài nghệ hơn nhau giữa các luật sư. Vụ 25 Đi lượm thẻ xe – Khi không có câu hỏi mấu chốt Trong vụ án dưới đây, bạn thấy khi không nêu ra được CHMC thì sự kết luận về một tội trạng cũng khác nhau. A. Trình bày Mùa tuyển sinh năm 1999 vừa qua, dù chẳng phải là thí sinh dự thi, Chiến cũng diện áo trắng, quần xanh thêm cặp mắt kiếng trắng… không độ và ôm vài cuốn tập đến trước Trường Đại học Khoa học Tự nhiên. Cùng hòa vào dòng người đi thi, Chiến tranh thủ “nhặt” thẻ xe để kiếm tiền xài. Sau một