hồi vốn nên ngày 04/02/1999 đã có cuộc họp giữa SNT, VCB NT và TV để bàn về trả nợ. Tại cuộc họp, Công ty TV đồng ý nhận nợ kèm theo một số điều kiện mà VCB NT không thể chấp nhận được. Việc Công ty TV đồng ý nhận nợ là sự tự nguyện chứ không thể buộc được vì quá trình mở L/C cũng như trả lại hàng hóa cho SY chỉ một mình SNT quyết định và thực hiện. Đến nay, Công ty TV không nhận trách nhiệm thanh toán nên không có cơ sở buộc Công ty TV phải chịu trách nhiệm thanh toán tiền cho VCB NT. Tại phiên tòa, đại diện VCB NT đã nhận thức được các lỗi của mình trong quá trình mở L/C cho SNT nên chỉ yêu cầu Tòa án buộc SNT phải thanh toán lại cho VCB NT tiền gốc mà VCB NT đã trả cho nước ngoài là 875.000 USD, các loại phí và lãi VCB NT không yêu cầu. Đây là sự tự nguyện của nguyên đơn, đúng pháp luật nên Tòa chấp nhận. Đối với số tiền 62.500 USD mà SNT đã ký quỹ, khi Tòa án TP có quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 767/BPTT–KT ngày 03/6/1997 buộc VCB NT đã chấp hành quyết định của Tòa án TP và số tiền ký quỹ 62.500 USD. VCB NT đã trả lại cho SNT để Seaprodex NT thanh toán L/C 0602. Như vậy, số tiền ký quỹ 62.500 USD đã không còn nên SNT phải trả cho VCB NT toàn bộ số tiền 875.000 USD là có căn cứ. Sau lần loại bỏ 1, nội vụ còn lại như sau: Công ty SNT có yêu cầu mở thư tín dụng (L/C) vào các ngày 17/7/1995 do ông Phạm Ngọc M., giám đốc công ty, để thực hiện hợp đồng kinh tế số 04–95 ngày 12/7/1995 về việc nhập dây chuyền và công nghệ sản xuất thiết bị vệ sinh giữa SNT với Công ty SY trị giá 1.250.000 USD. VCB NT chấp thuận ngày 25/7/1995 bảo lãnh số tiền mua bán của hợp đồng 04–95, mở L/C số 015060 029 ULC 0575. Khi ngân hàng mở L/C thì SNT chưa đủ điều kiện để được bảo lãnh, cụ thể: SNT chưa có giấy phép nhập khẩu lô hàng (đến ngày 23/11/1995; chưa có tiền ký quỹ 5% như quy định).
Một số vụ khác để mở rộng 229 Như vậy, theo Pháp lệnh hợp đồng kinh tế thì giao dịch bảo lãnh của đương sự nói trên bị vô hiệu từ khi ký kết. Thư tín dụng (L/C) được mở là L/C không hủy ngang. Theo quy định quốc tế về thực hiện thư tín dụng tại điểm d Điều 9 UCP 500 thì L/C không hủy ngang chỉ được sửa đổi hoặc hủy bỏ khi có sự đồng ý của cả bốn bên: ngân hàng phát hành hối phiếu, ngân hàng bảo lãnh, người trả tiền và người hưởng tiền. Ngày 03/8/1995, ngân hàng phát hành là Ngân hàng KEB tại Manila đã phát hành hối phiếu trị giá 1.250.000 USD gửi cho VCB NT kèm theo bộ chứng từ theo quy định. VCB NT đã chuyển hối phiếu và toàn bộ chứng từ cho bên mua hàng là Công ty SNT xem xét, đối chiếu. Ngày 14/8/1995, Giám đốc SNT đã ký nhận vào sau hối phiếu. Việc ký xác nhận vào hối phiếu trên có nghĩa là Công ty SNT chấp nhận thanh toán số tiền 1.250.000 USD cho KEB. Sau khi Giám đốc Công ty SNT ký nhận hối phiếu, VCB NT đã báo cho KEB là Công ty SNT nhận nợ. Ông Phạm Ngọc M. phải nhận thức được ý nghĩa của việc ký vào hậu hối phiếu và phải biết rằng đây là loại L/C không hủy ngang, nhưng ngày 16/4/1996 Công ty SNT lại tự ý thỏa thuận hủy L/C với Công ty SY mà không hề xin ý kiến hoặc báo cho VCB NT biết. Như vậy, việc trả lại hàng cho bên bán, hủy L/C là do Công ty SNT tự thực hiện, nên Công ty phải gánh chịu trách nhiệm về khoản tiền mà đối tác nước ngoài đã chiếm dụng. Công ty SNT cho rằng, ngày 24/4/1996 công ty có báo cho VCB NT biết việc Công ty SNT đã hủy L/C và ông Phó giám đốc VCB NT đã đồng ý cho hủy nên Công ty SNT không có trách nhiệm thanh toán tiền lại cho VCB NT. Theo UCP 500, mặc dù VCB NT có đồng ý hủy L/C đi chăng nữa thì L/C không hủy ngang cũng không được hủy ngang khi chưa có sự đồng ý của ngân hàng phát hành (KEB). Do đó không thể cho rằng việc VCB NT đồng ý cho hủy L/C đồng nghĩa với việc chấm dứt nghĩa vụ thanh toán của Công Ty SNT. Sau khi mọi việc đổ bể, VCB NT đã nỗ lực tìm mọi cách để thu