phần của công ty nhưng bắt các cổ đông cũng ký kết là để cho chắc chắn. Nghĩa là các cổ đông biết việc mua bán này và sau này có họp hành sẽ không khiếu nại gì; hơn nữa họ còn phải trông coi để công ty thực hiện những điều họ đã ký kết. BNN là một quỹ đầu tư, ở nước của mình họ được gọi là private equity, họ huy động tiền của các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán rồi bỏ tiền vào các công ty cần vốn, có triển vọng, sau này công ty làm ăn lời lãi, giá cổ phiếu lên họ bán cổ phiếu của mình kiếm lời (chính bán đi, hay công ty niêm yết). Thường thường một quỹ như vậy tồn tại không quá 10 năm, và họ kinh doanh tiền trong vòng 6, 7 năm. Trong hợp đồng này, họ bỏ vốn trong 4 năm sau đó chuyển nhượng cho người khác, hay khi công ty niêm yết thì họ bán cổ phần đi; nếu hai việc ấy không xảy ra, họ bắt công ty và các cổ đông mua lại. Nếu các cổ đông không mua thì công ty bị buộc phải mua lại. Hai là, hợp đồng giữa các cổ đông (“HĐCĐ”). Là Văn kiện thứ hai các bên sẽ ký – trong tư cách là cổ đông với nhau. Bình thường hợp đồng này được ký giữa các cổ đông trước khi lập công ty. Ở đây, công ty đã được lập và đã hoạt động. Thực ra HĐCĐ không cần vì các bên khi là cổ đông với nhau thì bị ràng buộc theo bản điều lệ công ty. Chúng tôi không biết tại sao họ lại đưa ra hợp đồng này? Càng nhiều văn kiện càng dễ có nhiều khác biệt khiến tạo ra mâu thuẫn.
202 TƯ DUY PHÁP LÝ CỦA LUẬT SƯ Ba là, cổ phiếu mà BVN sẽ cấp cho cổ đông để chứng nhận họ có góp vốn trong công ty. Ở đây BNN là Bằng chứng cổ