phần cuối cùng bình luận về vụ án của luật sư, ông kể lại quá trình tham gia vụ án, ý kiến và nhận xét của mình. (t.331–461). Đoạn này trích ra từ đó.
Thực hành tư duy pháp lý 193 chính là sắt (Fe). Nhận định trên đây của CQĐT Công an tỉnh Bình Thuận và sau này là VKSND và TAND tỉnh Bình Thuận cũng không có sức thuyết phục. Căn cứ vào bản kết luận giám định pháp y, biên bản khám nghiệm tử thi thì nguyên nhân chính dẫn tới cái chết của nạn nhân là do các vết chém gây ra. Như vậy, con dao được dùng tấn công nạn nhân phải có độ cứng, độ sắc tương đối lớn và phải được nhà sản xuất chế tạo từ một loại hợp kim khó có thể biến dạng trong khoảng thời gian ngắn là 05 năm tính từ thời điểm vụ án Vườn điều xảy ra tới khi cơ quan CSĐT Công an tỉnh Bình Thuận thu giữ mẫu vật vào năm 1998. Ai cũng biết huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận là một địa phương nằm ở khu vực miền Nam Trung Bộ, lại nhiều đồi núi, ít mưa, nắng nóng và khô. Vì vậy, nếu thực sự con dao đã từng được các hung thủ dùng để giết nạn nhân vào năm 1993 lại được chôn ở một độ sâu chỉ khoảng 50cm thì nó cũng không thể biến dạng nhanh và trở thành một vật có hình thù như mẫu vật mà CQĐT Công an tỉnh Bình Thuận đã thu giữ được. Điều bất hợp lý này đã được HĐXX phúc thẩm – TANDTC tại Thành phố Hồ Chí Minh thừa nhận và cùng với quyết định hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại, HĐXX phúc thẩm đã đưa ra một nghi vấn: “Tại các bản ghi lời khai của bị cáo Huỳnh Văn Nén đều xác định bỏ dao vào bao xi măng đem chôn. Tại biên bản thu giữ tang vật vụ án lúc 15h ngày 19/11/1998 (Bút lục số 31) có ghi đặc điểm tang vật thu được kim loại hình dao phay đã gỉ sét dài 28cm, lưỡi dao 23cm, lưỡi nơi rộng nhất 9,3cm, lưỡi nơi hẹp nhất 6cm, lưỡi hình cung. Trong quá trình thu giữ con dao bị vỡ thành 4 mảnh to nhỏ không đều, không thu giữ được vỏ bao xi măng, cần thiết phải giám định để xác định mức độ tiêu hủy của vỏ bao xi măng, mức độ tiêu hủy của con dao phay từ năm 1993 đến năm 1998 có tiêu hủy mức độ như vậy hay không?” Ngày 07/6/2002 cơ quan CSĐT Công an tỉnh Bình Thuận có quyết định trưng cầu giám định mức độ gỉ sét, tan rã của con dao phay và mức độ phân hủy của chất liệu giấy vỏ bao xi măng chôn ở độ sâu ẩm 0,56m trong khoảng thời gian từ 19/5/1993 đến 19/11/1998 kèm Công văn số 531 ngày 07/6/2002 gửi Viện Khoa học Hình sự Bộ Công an. Ngày 26/6/2002 tại Công văn số 29, đại tá Phạm Ngọc Hiền – phó viện trưởng Viện Kỹ thuật Hình sự kiêm phân viện trưởng trả lời: Về mức độ gỉ sét tan rã của dao phay và mức độ phân hủy của chất liệu giấy xi măng chôn ở độ sâu ẩm ướt, hiện nay chưa có tài liệu khoa học nào đề cập và chưa có tác giả nào nghiên cứu. Do
194 TƯ DUY PHÁP LÝ CỦA LUẬT SƯ đó, chúng tôi không trả lời được. Do không kết luận được về mặt khoa học nên vấn đề này CQĐT không kết luận được. Sau này, tại phiên tòa sơ thẩm lần 2 của TAND tỉnh Bình Thuận, khi được các luật sư hỏi về vật chứng là con dao dùng để giết người, thẩm phán – chủ tọa phiên tòa Trần Thị Ánh Tuyết đã đưa ra một vỏ bao thuốc lá và giải thích rằng mẫu vật được gọi là con dao là hung khí giết người mà CQĐT thu được chỉ còn là các mạt sắt vụn đựng trong vỏ bao thuốc lá nói trên. Như vậy trong thời gian gần 10 năm, cái gọi là con dao mà cơ quan tiến hành tố tụng tỉnh Bình Thuận quy kết bà Nguyễn Thị Lâm đã sử dụng để giết bà Dương Thị Mỹ đã hành trình một cách phi lý như sau: Tháng 5/1993 là một con dao đúng nghĩa, 05 năm sau đã trở thành một vật cứng dạng kim loại gỉ sét có thành