phần lý lẽ của vụ việc (đúng, sai, phải, trái) chứ nó không đưa ra biện pháp áp dụng (phạt tiền, tịch thu, bỏ tù…). Các biện pháp sẽ do chánh án quyết định và họ cũng đưa ra lý lẽ của mình để giải thích cho biện pháp đã chọn (tức là tuyên án). Khi tranh chấp thì mỗi người thường có nhiều thỉnh cầu xin tòa giải quyết; do vậy khi TDPL cũng sẽ có nhiều CHKL. Bạn phải hỏi khách hàng là điều nào họ muốn nhiều nhất, quan trọng nhất và muốn giải quyết đầu tiên. Khi đã xác định được rồi thì sẽ ấn định các điều mong muốn kế tiếp. Và như vậy, bạn phải xếp thứ tự các CHKL, cái trước, cái sau. Đấy là ở trong thực tế. Trong sách này ta bắt đầu học, nên trong mỗi vụ ta sẽ chỉ đề cập một CHKL mà thôi, coi đó như là câu quan trọng nhất. Giải được cái chính rồi thì sẽ gỡ được các cái khác. Ta học cách giải một câu, một vấn đề để cho dễ hiểu, dễ nắm chắc phương pháp. TDPL có ba giai đoạn: (i) suy nghĩ trong đầu; (ii) củng cố bằng chứng cứ và luật liên quan và (iii) trả lời cho khách hàng. Ta đi vào Giai đoạn I. A. Giai đoạn 1: Suy nghĩ trong đầu Giai đoạn này có bảy bước – Bảy bước tư duy • Bước 1: Nghe kể lể vụ việc, nghĩ đến ngành luật điều chỉnh Là luật sư của một bên nhất định, bạn nghe thân chủ kể sự việc, trong đó có các sự kiện khác nhau đã xảy ra. Trong đầu mình, bạn sẽ:
Cách tư duy pháp lý 153 i. Hình dung ra nội vụ, các bên liên quan; hoặc nói theo cách bạn quen thuộc là xem xét quan hệ pháp luật; ii. Dựa trên đó bạn lường ra luật pháp điều chỉnh vụ việc. Nghĩ đến thôi; thí dụ “vụ này là về vận chuyển”; không đi sâu. Biết luật điều chỉnh để giới hạn phạm vi mình phải quan tâm hay nghiên cứu và – điều quan trọng – không nhầm lẫn ngành luật. Luật điều chỉnh cũng có thể là một bản hợp đồng mà các bên đã ký kết, nay cãi nhau. Lường ra bản hợp đồng nhưng cần phải biết nó nằm trong ngành luật nào. Sự nhầm lẫn ngành luật điều chỉnh rất dễ xảy ra. Thí dụ vào cuối tháng 8/2014, ca sĩ Khánh Ly có đưa ra một tờ giấy của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn ký năm 2000 “đồng ý cho Khánh Ly sử dụng những bài hát của tôi. Tiền tác quyền là 5.000 USD”. Một luật sư nhận xét đây là một thỏa thuận dân sự, ông Sơn đã mất, nên tờ kia hết hiệu lực. Tuy nhiên, đây có phải là một sự cho phép theo luật về tác quyền không? Nếu là, thì tác quyền của một người kéo dài 70 năm sau khi mất. iii. Nghĩ trong đầu về tư cách của họ. Thí dụ, thân chủ kể cho bạn một vụ mua bán (quan hệ pháp luật là mua bán). Khi tranh chấp thì có hai bên. Nếu thân chủ của bạn là nguyên đơn, thì đối phương của họ là bị đơn. Ở bên nguyên đơn, bạn nghĩ đến quyền lợi của thân chủ bạn; sau đó, nhờ liên tưởng, bạn nghĩ đến nghĩa vụ của bên đối phương họ. Hình dung được như thế, bạn sẽ biết thân chủ đã kể hết nội vụ ra chưa. Thí dụ, bạn nghĩ ra năm vấn đề, mà họ mới kể ba thì bạn hỏi họ để biết đầy đủ. Hỏi để biết đã. Bạn thường nghe khuyên bảo là phải hỏi thân chủ cho rõ; nhưng dựa vào đâu thì không được bảo. Ở đây tôi đề nghị cho bạn một khuôn khổ để hỏi: xem quyền lợi và nghĩa vụ của hai bên. Một bên ngồi trước mặt bạn, một bên không. Để biết rõ, đỡ mất công sau này, bạn có thể hỏi họ các văn kiện chứng minh. • Bước 2: Nêu câu hỏi pháp lý của vụ việc mang tính kết luận (CHKL) Kể xong khách sẽ nói điều họ muốn, hay cần, hay điều bạn phải giải quyết. Cái đó sẽ là CHKL vì trả lời được nó là xong việc (thí dụ ai đúng ai sai, tôi đòi đền được không). Câu hỏi này là một câu hỏi nổi; hiểu theo nghĩa nó nổi lên sau khi thân chủ trình bày và nói điều họ muốn.
154 TƯ DUY PHÁP LÝ CỦA LUẬT SƯ Vì bạn đã biết tư cách của thân chủ nên bạn biết nếu là nguyên đơn họ có đòi được không (thí dụ đòi bồi thường); là bị đơn họ có vi phạm hay không, có bị đền không. Điều họ muốn sẽ biến họ thành nguyên đơn hay bị đơn. Bạn có thể hỏi lại khách hàng “có phải anh/chị muốn cái này không?” Và có khi bạn phải giải thích cho khách hàng là đòi như thế không đúng luật, vô lý, có thể thua… Dựa trên tư cách để cho ý kiến mới chỉ là tư vấn. Nếu là một vụ tranh chấp, thân chủ muốn ra tòa (là nguyên đơn), hay sợ bị ra tòa (là bị đơn), bạn sẽ xem đến thời hiệu khởi kiện, tòa án có thẩm quyền và việc gửi giấy triệu tập cho bị đơn… Khi đã chắc chắn về điều thân chủ muốn và về các điều kiện tố tụng (tùy trường hợp) thì bạn có CHKL. Nó cũng là yêu cầu mà tòa án phải xem xét để ra quyết định. Yêu cầu này thường do luật sư đệ trình lên tòa thay mặt thân chủ. Và nó cũng là kết quả của việc xét xử một vụ án. Tòa án ra bản án dựa theo yêu cầu của nguyên đơn. Vì thế bạn phải nắm rõ CHKL để ghi trong đơn khởi kiện. Nếu bạn không rõ về yêu cầu của mình (làm thay cho thân chủ) thì tòa có thể ra một bản án không rõ, khiến cho Thi hành án không cưỡng chế thi hành bản án được. Phải có CHKL đã bạn mới đi tiếp. Nếu không nêu được câu hỏi đó thì thôi không làm nữa vì không biết phải làm gì. Bình thường người ta nói “không có cơ sở pháp lý”. Về mặt TDPL, khi đã có CHKL thì bạn sẽ không bao giờ đưa ra câu trả lời cho nó mà phải đi tìm CHMC. Vậy ta đi tiếp sang các bước khác. • Bước 3: Phân tích nội vụ đã nghe/đọc Mục đích của bước này là nhìn vụ việc thân chủ đã kể trong tổng thể của nó nhưng theo cái nhìn của một luật sư. Ở đây bạn phải là người vô cảm, tức là không bận tâm với việc thân chủ mình đúng hay sai, tội nghiệp cho họ hay cho bên kia. Như thế mới khách quan được. Ở bước 1, ta đã định hướng luật điều chỉnh. Sang bước 2, ta thấy cơ sở pháp lý của điều mà thân chủ mình quan tâm. Ở đây ta liệt kê các tình tiết của nội vụ. Hãy làm giống như ta cầm máy video quay cảnh vậy. Đó là điều kiện kỹ thuật để cho bạn “khách quan”. Cách làm là liệt kê (viết ra) các sự kiện đã nghe/đọc/ và xếp chúng theo bản chất (các sự kiện có cùng bản chất xếp chung với nhau – thí dụ thời
Cách tư duy pháp lý 155 gian/không gian/loại văn kiện/hành động – tư cách của các bên tham gia…). Đây là sự phân tích đầu tiên các sự kiện. Liệt kê đầy đủ, không bỏ sót một chi tiết nào. Làm vậy để có một cái nhìn toàn cảnh về vụ việc. Nếu bỏ sót chi tiết thì sau này có thể đặt câu hỏi pháp lý sai. Vậy là “toàn diện và đầy đủ.” Cách làm dễ nhất là xếp các sự việc đã xảy ra theo ngày tháng, dựa trên tư cách của từng bên một. Nhớ hay ghi ra việc họ làm theo thứ tự (thí dụ bên mua: đặt hàng, xác nhận, lập hợp đồng, trả tiền…; tiếp theo là bên bán làm gì; rồi những người khác xác định theo tư cách). Khi đã sắp xếp như thế rồi thì giống như là có một bảng liệt kê các sự kiện; bây giờ có thể chuyển dịch các sự kiện kia để xếp chúng chung vào với nhau theo một tiêu chí nào đó mà sẽ giúp mình dễ nhận định để phân tích sau này. Việc làm này cũng giống như khi bạn phải đáp ứng đòi hỏi của một đám đông. Bạn không thể đưa ra một đề nghị chung cho đám đông đó (trừ khi xả súng bắn!). Ta gọi nó là cách xử lý. Muốn xử lý dễ thì đầu tiên bạn phải chia đám đông thành hai phái. Vậy là có nhóm nam, nhóm nữ. Trong mỗi nhóm bạn lại phân tiếp ra; thí dụ, nữ dưới 20, dưới 40, dưới 60. Tương tự như vậy, bạn làm với nhóm nam. Như thế bạn sẽ tìm ra cách đối xử với từng nhóm một. Sự phân nhóm kia gợi cho bạn hình ảnh về sự phân tích các sự kiện trong nội vụ đề cập ở đây. Khi đã liệt kê các sự kiện rồi thì sau này bạn không bao giờ bàn về hay nêu lên bất cứ sự kiện nào, hay chi tiết nào không nằm ở bảng liệt kê này. Tôi xin gọi nó là “sự kiện ngoài rìa” và nó tạo nên các “câu hỏi ngoài rìa”; chúng có thể làm bạn đi sai, đi lạc khi suy nghĩ. Khi đối phương có nêu ra các câu loại này, bạn phải gạt phăng nó đi; hay là họ sẽ hạ bạn. Trong những năm hành nghề đầu tiên thì bạn làm bảng liệt kê các chi tiết như nói ở trên. Sau này – tùy khả năng – bạn chỉ cần ghi tắt. Tùy bạn, miễn làm sao nhớ các tình tiết quan trọng. • Bước 4: Loại bỏ các chi tiết không liên quan (irrelevant) Việc làm này giúp bạn nhìn ra các sự kiện chính/đáng lưu ý/quan trọng của vụ việc. Giống như khi đi rừng bạn vạt bớt các cây con để dễ đến các cây lớn. Dựa trên CHKL, ta loại bỏ các chi tiết/sự kiện đã liệt kê ở bước 3 không
156 TƯ DUY PHÁP LÝ CỦA LUẬT SƯ cần thiết, hay không liên quan đến CHKL. Nếu phân biệt giỏi bản chất vụ việc thì bạn sẽ làm nhanh. Mục đích của việc này là để mình bám sát vào các vấn đề phải giải quyết; chỉ xem xét những vấn đề nào, sự kiện gì có liên quan trong phạm vi của CHKL. Bước 3 và 4 là sự phân tích để liệt kê và chọn giữ những sự kiện nào giúp trả lời CHKL. Bạn loại bỏ các chi tiết không liên quan dựa vào CHKL. • Bước 5: Khái quát hóa nội vụ Dựa trên kiến thức cuộc sống, luật lệ có liên quan trong nội vụ, kết hợp các sự kiện còn giữ lại ở bước 4, bạn xếp chúng trên dưới theo sự hợp lý, cái chính cái phụ, mức độ quan trọng đối với việc trả lời cho CHKL. Khái quát hóa nội vụ là bước quan trọng nhất của TDPL. Khi trình bày một vụ tranh chấp mà bạn khái quát hóa nó được thì sẽ giúp người nghe hiểu nhanh. Nhờ khái quát hóa bạn tìm thấy các sự kiện quan trọng hay đáng lưu ý. Cách khái quát hóa và tác dụng của nó giống như thế này: Khi nói về vẻ đẹp của phụ nữ người ta dùng ba vòng của họ để mô tả. Vòng 1 bao nhiêu, vòng 2 bao nhiêu… Ba vòng kia là sự khái quát hóa một người phụ nữ. Nghĩ đến ba vòng, người ta hình dung ra được người phụ nữ. Thí dụ nếu ai có vòng một là 1,2m thì thế nào cũng có người trầm trồ “ngực cô ấy đồ sộ!”. Đó là tác dụng của khái quát hóa. Ta phải khái quát hóa nội vụ để nhìn ra các sự kiện quan trọng mà đưa chúng vào đầu óc mình, vì khả năng của đầu óc ta có giới hạn (nhiều quá, nó tẩu hỏa nhập ma). Đã khái quát hóa được rồi, bạn sẽ thấy – hay chỉ còn – các sự kiện đáng lưu ý hay quan trọng trong nội vụ. Chúng có thể là vài sự kiện. Bạn dùng tài phân tích của mình xem xét và so sánh chúng để tìm ra trong số chúng cái nào quan trọng nhất. Tài nghệ phân tích của luật sư nằm ở đây. Sự kiện nào quan trọng nhất sẽ là SKMC. Ngoài nó ra thì có lần lượt các sự kiện khác ít quan trọng hơn (trong phạm vi các sự kiện đã được khái quát hóa). Và những cái sau có thể dùng cho các CHPT sau này. Để nói cho rõ về bước 5 này, tôi dùng lưu đồ (flow chart) sau: Cho ra Chọn cái quan trọng nhất Khái quát hóa Vài SKQT (đáng lưu ý) Đó là SKMC
Cách tư duy pháp lý 157 • Bước 6: Đi tìm CHMC Đi tìm CHMC là để trả lời CHKL. Trả lời như thế nào thì bạn sẽ thấy trong vụ số 8. Ở đó CHKL đại ý là “đòi được nợ không” thì CHMC là “đã có giao tiền không”. Nó sẽ dẫn đến các câu hỏi khác (vặn vẹo nó, gọi là CHPT) mà tất cả nhằm giải đáp CHKL. Để tìm CHMC này, bạn lấy SKMC đã thấy ở bước 5. Bạn diễn tả (hay phát biểu) SKMC bằng một câu ở thể xác định (affỉrmative); sau đó đổi câu đó chuyển đổi sang thể nghi vấn (interrogative) thì – trong đa số trường hợp – ta sẽ có CHMC. Đây là cũng một bước khó mà lúc đầu phải giảng giải, thảo luận rồi từ từ trở nên thành thạo. Tôi gọi việc này là “chuyển đảo” và có thí dụ sau. SKMC: Ông Ba (con nợ) đã thế chấp căn nhà. Nay nợ chưa trả. Vậy sẽ bị mất nhà. Đây là một câu phát biểu theo thể xác định. Bạn tìm thấy sự kiện này trong bước 4 và 5. Câu “sẽ bị mất nhà” là kết luận của bạn đưa vào nội vụ, dựa trên luật mà bạn đã biết. Chuyển đảo câu trên thì bạn có CHMC và nó là: “Ông Ba đã thế chấp nhà, mà nợ chưa trả, vậy có sẽ mất nhà không?” Vụ số 9 sẽ giúp bạn biết thêm. CHMC cần được củng cố hay phải thay thế nhằm thuyết phục người nghe. Để làm như thế bạn sẽ nêu các CHPT, bằng cách đặt các câu hỏi liên tục. Suy nghĩ dựa trên CHMC và các sự kiện đáng lưu ý còn lại trong bước 5 hay các sự hiểu biết trong cuộc sống sẽ giúp bạn có các CHPT. • Bước 7: Nêu các câu hỏi phụ thuộc 1,2,3… (CHPT) Dựa trên kiến thức cuộc sống, kinh nghiệm cuộc đời, sự hiểu biết về luật lệ, các sự kiện trong nội vụ và luật lệ có liên quan, đôi khi các sự kiện đáng lưu ý còn lại trong bước 5 mà chúng sẽ vặn vẹo CHMC để có các CHPT này. Chúng sẽ củng cố hay bác bỏ sự kiện/vấn đề là nền tảng của CHMC. Xin lấy một thí dụ. Ông A một người chủ xe, giao xe để sửa cho một bảo vệ của một ga–ra quen thuộc, vào giờ nghỉ trưa. Người bảo vệ nhận xe của khách sau đó lái xe đi và trốn luôn. Đến chiều ông A lại lấy thì xe đã mất. Ông A đòi chủ ga–ra đền. CHKL là ông A có bắt đền được không? Xem xét các sự kiện, sau Bước 5, ta thấy “người bảo vệ là người làm công của ông chủ ga–ra”. Đó là SKMC. Chuyển đảo nó ta có CHMC là “người bảo vệ có phải là người làm công của chủ ga–ra không?”
158 TƯ DUY PHÁP LÝ CỦA LUẬT SƯ Cho CHMC ấy, bạn sẽ không trả lời mà sẽ hỏi tiếp. Đấy là cách đưa ra các CHPT. Các câu này sẽ làm CHMC chắc chắn thêm hay sẽ đập bỏ CHMC. Bạn làm như sau: - (Suy nghĩ: đã làm công thì phải có hợp đồng. Đó là một sự hiểu biết của bạn về luật. Bạn không lấy nó để trả lời CHMC mà hỏi tiếp. Đó là CHPT). Vậy CHPT1 là: Người làm công có ký hợp đồng lao động với chủ ga–ra không? - (Suy nghĩ tiếp: vì bạn biết Luật lao động, nên câu hỏi này tự nhiên bật ra) Loại hợp đồng gì? Đó là CHPT2.Và tiếp theo là; - Còn hiệu lực hay không? CHPT3. Đó là một cách nêu các CHPT. Tôi xin trình bày thêm để bạn rõ hơn. (Bạn bị thiệt vì xem sách thì không bằng nghe giảng!) TDPL là đặt câu hỏi liên tiếp. Các CHPT nêu ở trên xuất phát trong suy nghĩ của ta như thế này: - CHMC là “người bảo vệ có phải là người làm công của chủ ga–ra không”. Bạn thấy: (i) người bảo vệ là sự kiện; (ii) làm công là LDS điều 622. - Là người làm công thì phải có ký hợp đồng. Đây là sự kiện và là một câu ở thể xác định. Chuyển đảo nó sang thể nghi vấn ta có CHPT1“Người làm công có ký hợp đồng lao động với chủ ga–ra không?” - Hợp đồng lao động có ba loại: thời vụ, có thời hạn và vô thời hạn. Vậy ta có CHPT2 là “Loại hợp đồng gì?” - Hợp đồng này có thể còn hay hết hiệu lực. Nếu hết thì người bảo vệ không còn là người làm công của chủ ga–ra nữa. Vậy có CHPT3 là “Còn hiệu lực hay không?” Hỏi các câu trên xong (và trả lời chúng trong đầu mình) bạn có kết luận rằng: Người bảo vệ là người làm công của chủ ga–ra, có ký hợp đồng có thời hạn, và hợp đồng hãy còn hiệu lực. Vậy chủ ga–ra phải chịu trách nhiệm theo điều 622 LDS (đây là câu trả lời cho CHMC). Như thế nghĩa là chủ ga– ra phải đền cho ông A (đây là câu trả lời cho CHKL). Qua hai thí dụ trên, bạn biết muốn đưa ra được các CHPT bạn phải có những điều kiện gì. Tùy bạn, các CHPT có thể là 1, 2,3,4. Nếu coi CHMC là chính thì các CHPT có thể là câu chính, rồi phụ. Bạn hãy nhớ: các CHMC hay CHPT đều là các các câu hỏi pháp lý cả. Khi phân tích ta sắp xếp theo
Cách tư duy pháp lý 159 thứ tự. Nhưng lúc lập luận, ta có thể thay đổi các thứ tự của chúng vì vai trò của chúng là trả lời cho CHKL. Thứ nữa, sau khi đã có các CHPT thì một trong số chúng có thể làm CHMC bị suy yếu. Khi ấy CHPT kia trở thành CHMC và CHMC cũ bị bỏ. Sau này khi xem các vụ án bạn sẽ biết. Tuy nhiên, đừng lo ngại vì tất cả các CHPT và CHMC đều nhằm trả lời cho CHKL. Câu hỏi này cho ta câu trả lời mà ta cần cho nội vụ. Sự hoán đổi giữa CHPT và CHMC không quan trọng khi TDPL vì câu nào trả lời được cho CHKL thì mới được chọn để nói ra; thứ nữa câu nào cũng là câu hỏi pháp lý; cũng đều tìm cách giải quyết nội vụ. Trong quá trình bảy bước, việc tìm ra sự kiện mấu chốt có thể thay đổi; lúc đầu thấy thế này, đào sâu hơn thì thấy thế kia. Không câu nào sai cả miễn là nó trả lời được CHKL. Nguyên tắc phải nhớ là không bao giờ trả lời CHMC bằng cách đáp lại nó mà phải đặt ra một câu hỏi khác để trả lời nó. Một câu hỏi pháp lý sẽ dẫn đến một câu hỏi khác. Làm vậy, tức là hỏi tới hỏi lui, là vặn vẹo, là đi tìm những yếu tố khác, các sự kiện khác hỗ trợ hay thay thế CHMC để làm cho câu giải đáp cuối cùng là CHKL thuyết phục được nhiều người nhất. Các bạn đã học về “sự thật khách quan, toàn diện và đầy đủ”, thế nhưng làm sao để đạt được thì ít được dạy, cho nên bạn thường đứng ở cả hai phía. Không phải vậy, là luật sư, bạn chỉ đứng về một phía rồi dựa trên tư cách mà hỏi. Hỏi vặn vẹo là đi tìm những sự thật về phía mình. Sự thật là một cái gì đó khách quan vì nó không do mình tạo ra mà là nhờ “hỏi tới hỏi lui”. Tuy nhiên, đó cũng chỉ là sự thật từ một phía, không thể toàn diện được! Vậy phải có luật sư bên đối phương; người này cũng “vặn vẹo”; như thế sẽ có sự thật của phía bên kia. Cả hai nhập lại thì thành toàn diện. Thẩm phán sẽ xem xét và nhận định tất cả rồi cũng “hỏi tới hỏi lui” để rồi thẩm phán và chỉ người này có “sự thật khách quan, toàn diện và đầy đủ”. Luật sư là các phụ tá công lý, đóng góp một