Tư Duy Pháp Lý Của Luật Sư

phần do luật pháp ấn định. Thí dụ cho thuê nhà mà

phần do luật pháp ấn định. Thí dụ cho thuê nhà mà

phần do luật pháp ấn định. Thí dụ cho thuê nhà mà

64 TƯ DUY PHÁP LÝ CỦA LUẬT SƯ luật gọi là hợp đồng cho thuê tài sản. Trong việc thuê nhà, thể nhân kia có thể là chủ nhà hay người thuê nhà. Nếu việc thuê diễn ra tốt đẹp, bên ở trả tiền thuê đều đều, không có chuyện gì xảy ra thì không chủ thể nào nại đến quyền (tức là đòi trả tiền vì là chủ nhà; đòi sửa cống rãnh vì là người thuê nhà) và không có tranh chấp. Vậy thì khi ai nại đến “dân quyền” của mình thì khi ấy có tranh chấp; “dân quyền” kia do luật pháp ban hành bằng việc quy định các mối quan hệ pháp luật. Sự phân tích ở trên dẫn chúng ta đến điểm chung này: quyền của một chủ thể đã được luật ấn định, khi quy định mối quan hệ pháp luật, hay tương quan pháp lý và ở trong một văn bản quy phạm pháp luật. Nói đơn giản, quyền của mỗi người xuất phát từ tư cách mà họ nắm trong mỗi giao dịch và giao dịch đó do luật lệ quy định. Để khái quát hóa “mỗi người” người ta dùng từ “chủ thể”. B. Pháp nhân Pháp nhân là một chủ thể do luật pháp tạo ra. Nó là một cái gì chỉ tồn tại trong con mắt của luật pháp. Nếu thể nhân phải có năng lực của chủ thể (gồm năng lực pháp luật và năng lực hành vi) để tham gia các quan hệ pháp luật thì pháp nhân phải được thành lập hợp pháp; có cơ cấu tổ chức chặt chẽ; có tài sản độc lập và chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình. Pháp nhân không có hình thù và không nhìn thấy được nên nó được đại diện bởi một người nhất định. Trong công việc của mình, khi bạn tiếp xúc với một thể nhân hay một pháp nhân thì cả hai đều là người có da có thịt, có tên tuổi. Bạn cần phân biệt họ theo công việc họ đã làm, hay giao dịch đã thực hiện. Nếu là thể nhân thì chính người gặp bạn đã thực hiện giao dịch; nếu là pháp nhân thì tổ chức của họ, chứ không phải họ, đã thực hiện giao dịch. Do vậy phải nắm vững tư cách của mỗi người trước khi đi sâu hơn vào giao dịch mà họ trình bày. II. Có tư cách Trong Chương ba ta đã nói về tư cách. Ở đây xin mở rộng thêm vì nhắc tới luật. Tư cách là địa vị mà một người nắm khi ở trong một hoàn cảnh nào đó (giao dịch, vụ việc) và nó hàm ý là họ có liên can với một ai đó. Về câu hỏi “ai được sử dụng quyền”, bạn cần nhớ các điều sau:

Luật pháp dạy cho luật sư 65 1. Chỉ những ai đó ở trong một tư cách nào đó mới có những quyền lợi và bổn phận nhất định; họ phải đứng trên một khối đá vuông nào đó tùy từng lúc; 2. Quyền lợi và bổn phận ấy nằm trong một tương quan pháp lý do luật ấn định hay do họ đồng ý (nghĩa vụ dân sự, nghĩa vụ hợp đồng); 3. Muốn tìm quyền lợi và bổn phận của một người nào đó (thể nhân hay pháp nhân) thì – qua câu chuyện thân chủ kể – phải xác định được tư cách của họ sau khi biết tương quan pháp lý do thân chủ nói. Mới vào nghề, bạn dễ gặp khó khăn vì chưa quen xác định tư cách. Tôi đi vào thực tế một chút. Thí dụ, bạn nhận một cú điện thoại hỏi rằng: “Công ty nổi tiếng ABC bán hàng ở Việt Nam có nhiều người mua là con nợ, có cách nào đòi tiền nhanh nhất?” Để trả lời, bạn phải nghĩ ngay đến những tư cách khác nhau có thể có của công ty nổi tiếng kia: nó là một công ty có vốn nước ngoài, một công ty cổ phần, hay là người xuất hàng vào bán ở Việt Nam. Xác định được tư cách của nó trước rồi bạn mới trả lời câu hỏi được; vì ở trong mỗi tư cách khác nhau, quyền đòi nợ của nó khác nhau. Thường người hỏi muốn bạn trả lời ngay, nhưng nếu bạn nghĩ không ra tư cách thì khó làm. Hơn nữa, khi thân chủ đến với bạn, họ thường kể khổ ngay chứ ít nói đầu đuôi và cho biết tư cách của họ trong vụ đó. Khi ấy bạn phải suy nghĩ một số việc và tôi xin lấy một thí dụ: Một ông ăn mặc chỉnh tề đến gặp bạn, ông ta nói về sự bực bội vì bị giựt tiền. Nhìn theo bình thường, ông ta là một người bị hại. Trước kia, bạn có thể nhìn như vậy và tìm cách giúp; nay bạn phải phân tích các tư cách của ông ta. - Là thân chủ của bạn; ông ta có tư cách là thân chủ của bạn, được hỏi bạn, nhưng phải trả tiền. - Trong việc bị giựt tiền, ông ta có tư cách là gì? Để trả lời câu hỏi này bạn phải hỏi ông ta về nội vụ (tức là hỏi tương quan pháp lý) rồi định ra tư cách của ông ta. Nếu là một vụ mua bán, là “người bị hại” như ông ta nói, ông ta là người mua hay người bán; vì trong một vụ có hai người thì ai cũng có thể bị hại chứ không phải chỉ một bên. Là bên bán mà “bị hại” thì ông ta không nhận được tiền hàng; là bên mua thì ông ta không được trả lại tiền sau khi hai bên đã đồng ý là hàng hư. Thành ra, bạn không thể nhìn ông ta như “người bị hại” rồi cặm cụi tìm cách giúp! Bạn phải xác định ông ta là người

66 TƯ DUY PHÁP LÝ CỦA LUẬT SƯ mua hay người bán; rồi dựa trên giao dịch mà ông ta đã thỏa thuận tìm xem trong tư cách ấy ông ta có bị thiệt hại không. Nếu ông ta có một quyền lợi thì mới bị hại; không có thì không thể “bực bội vì bị hại” được! Mục 4: Lúc nào sử dụng được quyền? Bạn còn nhớ hình ảnh khối đá trên đó có cái dù khi chúng ta diễn giải tư cách. Quyền của mỗi người giống như cây dù; nhưng họ phải ở trên từng khối đá nhất định. Trong xã hội, ai trên 18 tuổi cũng đều có một khối đá để đứng (tư cách) và có cây dù trong tay (quyền hạn). Luật cho phép một người đứng trên khối đá có thể bung hay cụp cây dù trong các trường hợp nhất định. Ngoài ra, họ có thể tự làm lấy hay nhờ người khác làm. Vậy ở đây ta sẽ xem lúc nào một người được sử dụng quyền để bảo vệ mình và khi đã có quyền rồi thì ta có thể chuyển nó đi được không? Bạn đã học rằng muốn có quan hệ phát sinh thì phải có một việc diễn ra: Mít đụng xe vào Xoài. Việc xe đụng là một sự kiện pháp lý. Xoài trong tư cách là nạn nhân có quyền đòi Mít bồi thường trong tư cách người gây hại. Và bạn cũng biết “việc ấy tạo ra, làm thay đổi, chấm dứt quan hệ pháp luật.” “Quan hệ phát sinh” mà bạn đã học thì ở đây được chia thành hai trường hợp: sự kiện pháp lý và hành vi pháp lý. Vậy một người muốn sử dụng quyền thì phải ở vào một trong hai trường hợp này; hay khi có một trong hai trường hợp ấy xảy ra cho họ. Nếu không có mà người ấy sử dụng “cây dù” là phạm pháp. Sự kiện pháp lý mà các bạn học ở trường luật thì rất ngắn. Ấy là sự kiện pháp lý bao gồm hai yếu tố là sự biến cùng hành vi. Cái trước xảy ra ngoài ý chí của chủ thể, cái sau là do ý chí của chủ thể. Đó chỉ là một định nghĩa, khó áp dụng vào thực tế. Luật dạy cho luật sư triển khai khái niệm này ra rộng lắm; nhằm giúp bạn “về phe” với thân chủ mình. I. Sự nảy sinh của quyền lợi Quyền của một người sẽ phát sinh, tức là người ta có thể sử dụng nó chống lại người khác hầu bảo vệ mình khi có một trong hai việc dưới đây xảy ra: sự kiện pháp lý và hành vi pháp lý.

Luật pháp dạy cho luật sư 67 A. Sự kiện pháp lý Sự kiện pháp lý là những điều kiện, hoàn cảnh, tình huống xảy ra trong cuộc sống, hay trong một giao dịch do con người hoặc thiên nhiên tạo ra được quy định trong luật pháp (phải quy định để bảo vệ trật tự xã hội); khi nó xảy ra thì tạo nên một quyền lợi hay một bổn phận cho ai đó. Nó tương tự như điều ngày trước bạn đã học “sự xuất hiện, thay đổi và chấm dứt của quan hệ pháp luật với sự tồn tại của nó”.1 Có rất nhiều sự kiện pháp lý nhưng chúng được phân ra thành một số như sau: 1. Sự kiện tự nhiên Sự kiện này gắn liền với sự sinh ra, lớn lên và chết đi của một người. Con người là chủ thể của luật pháp, vì họ mà có luật pháp. Đối với những người sinh sau đẻ muộn như chúng ta thì khi sinh ra đã có luật pháp chung quanh rồi nên mình phải tuân thủ. Nhưng những người đầu tiên nghĩ ra luật pháp thì họ đưa ra luật để bảo đảm một cuộc sống an toàn và hạnh phúc cho mình lẫn người khác. Sự kiện tự nhiên xuất hiện khi: - Một người khi được sinh ra thì có những quyền nhân thân, quyền được nuôi dưỡng; - Lúc thành niên thì họ có năng lực hành vi dân sự, do đó phải chịu trách nhiệm hình sự (có biệt lệ); - Khi chết đi, họ không còn quyền nhân thân nữa nhưng lại có những quyền khác như để lại tài sản cho con cháu, mồ mả không bị xâm phạm; - Nếu bị điên loạn thì sự kiện này có thể làm cho họ mất năng lực hành vi dân sự và phải có người giám hộ. 2. Sự kiện vật chất Sự kiện này cũng là một biến cố xảy ra trong cuộc sống nhưng con người không thể tiên liệu được và cũng không thể chống lại được dù biết nó xảy ra. Thí dụ, giông bão, lụt lội, chiến tranh. 1 Giáo trình Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật, Khoa luật, Trường đại học Tổng hợp Hà Nội, 11/1993, t.405.

68 TƯ DUY PHÁP LÝ CỦA LUẬT SƯ Những sự kiện vật chất này còn được gọi là những trường hợp bất khả kháng. Khi trường hợp bất khả kháng xảy ra thì trong những giao dịch khác nhau nó làm cho một người được miễn trách nhiệm (hàng giao không đúng hẹn vì giông bão xảy ra trên đường đi), nhưng lại làm một bên phát sinh nghĩa vụ (hỏa hoạn xảy ra làm hãng bảo hiểm phải bồi thường cho khách hàng). 3. Sự kiện cố ý Là sự việc xảy ra do ý định của một người – gọi là do ý chí của họ – nhưng khi làm, người ấy không định tạo ra một quyền lợi gì cho mình hay một nghĩa vụ cho ai, gọi là hậu quả pháp lý. Thí dụ, một đôi vợ chồng dọn nhà từ tỉnh A sang tỉnh B. Họ chỉ muốn đổi chỗ ở nhưng nay chủ nợ của họ muốn thưa họ đòi nợ thì không thể thưa họ ở tòa án tỉnh A nữa mà phải sang tỉnh B. Việc dọn nhà của họ tạo ra một hậu quả pháp lý cho chủ nợ. Các sự kiện cố ý được phân ra thành bốn loại: a. Lỗi Gồm có: i. Lỗi trong trách nhiệm dân sự vì cố ý hay vô ý gây thiệt hại cho người khác, theo điều 308 LDS; nói cách khác là gây thiệt hại vì có lỗi trong nghĩa vụ dân sự; ii. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, theo các điều từ 604 – 630 LDS; được coi là sự kiện gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật.1 b. Chiếm hữu, sử dụng tài sản, được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật, theo các điều 599 – 603 LDS. c. Thực hiện công việc không có ủy quyền, theo điều 594 – 598 LDS. d. Sự chiếm hữu. Theo điều 183 LDS, một người không phải là chủ sở hữu cũng có quyền chiếm hữu tài sản trong trường hợp do luật pháp quy định. Và điều 247 quy định: “Người chiếm hữu, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp 1 Bình luận khoa học Bộ luật Dân sự năm 2005, Hoàng Thế Liên, Viện Khoa học Pháp lý – (Hà Nội: NXB Chính trị quốc gia, 2009), t.701.

Luật pháp dạy cho luật sư 69 luật nhưng ngay tình, liên tục, công khai trong thời hạn 10 năm đối với động sản và 30 năm đối với bất động sản thì trở thành chủ sở hữu của tài sản đó, kể từ thời điểm bắt đầu chiếm hữu…” Khi một người rơi vào một trong những trường hợp trên thì hoặc là phải thi hành một nghĩa vụ cho ai có liên quan hay được một người khác thực hiện một nghĩa vụ gì đó cho mình. Cái trước là bổn phận, cái sau là quyền lợi. Thí dụ, tôi đang đi, con chó nhà bạn nhảy ra cắn tôi; việc con chó cắn tôi là một sự kiện gây nên trách nhiệm – hay sự kiện pháp lý – bạn không hề xúi nó cắn tôi, nhưng bạn vẫn phải đền cho tôi. Hoặc là, một cửa hàng giao nhầm một món hàng cho bạn, bạn phải trả lại khi người ta đòi vì bạn được hưởng lợi mà không có căn cứ pháp luật.1 B. Hành vi pháp lý Hành vi là việc làm của một người, pháp lý là việc ấy được làm theo những điều kiện nào đó và khi đã hội đủ thì việc làm ấy sẽ được mọi người nhìn nhận và được cưỡng chế thực hiện. Để có tính ràng buộc như thế, luật pháp chia hành vi pháp lý ra từng loại và đặt ra những điều kiện phải có khi làm việc đó. 1. Phân loại hành vi pháp lý Khi một người làm một việc gì đó thì họ có thể làm một mình hay với người khác và việc làm của họ có tính chất bình thường, tức là “có đi có lại” hay chỉ có đi mà không có lại. Dù là tính chất nào thì nó cũng đều mang tính ràng buộc. a. Hành vi đơn phương Là một việc do một người làm một mình; họ muốn làm thế này, thế nọ, gọi là biểu lộ ý muốn của một mình mình. Thí dụ, lập di chúc chia tài sản cho con cái. Một hành vi đơn phương của một người có thể làm cho một người khác bị ảnh hưởng. Thí dụ, ông A đang ở trong căn nhà này của ông bố đẻ; nay ông bố làm di chúc để lại căn nhà cho bà B, là em ông A; mai sau ông A không bao giờ trở thành chủ sở hữu căn nhà. 1 Điều 281 LDS nêu sáu trường hợp được coi là căn cứ phát sinh nghĩa vụ dân sự, nhưng xếp hành vi và sự kiện chung với nhau. Ở đây tôi tách chúng ra.

70 TƯ DUY PHÁP LÝ CỦA LUẬT SƯ LDS không có sự phân loại này (hành vi đơn phương/hành vi song phương) mà chỉ có hợp đồng đơn vụ hay song vụ. b. Hành vi song phương Hai người đồng ý với nhau làm một điều gì đó. Thí dụ, ký kết hợp đồng mua bán. Nếu nhiều người cùng ký kết thì việc đó sẽ gọi là hành vi đa phương, như lập công ty. c. Hành vi hữu thường Là hành vi mang ý nghĩa có đi có lại, trao đổi. Gọi là hữu thường vì trao đổi là một hoạt động thường tình, người ta làm để sinh sống. d. Hành vi vô thường Hành vi này ngược với hành vi trên, người làm không cần có sự đáp lại. Thí dụ, ngày tết bạn cho tôi một món quà. 2. Các điều kiện để hành vi pháp lý có hiệu lực Có hiệu lực tức là được mọi người liên quan công nhận và bị cưỡng chế thực hiện. Những điều kiện về nội dung và về hình thức gồm: a. Điều kiện nội dung Hành vi phải hội đủ những yếu tố sau: i. Phải có ý chí – Người tham gia hoàn toàn tự nguyện. ii. Người ta được coi là đã bày tỏ ý chí thật sự khi việc làm của họ không bị lừa dối, sai sót, đe dọa hay cưỡng bức, đủ 18 tuổi, nhận thức được hành vi. Quy định về việc “phải có ý chí” trong LDS nằm tại điều 122 về giao dịch dân sự và điều 389 về hợp đồng.1 iii. Phải có năng lực hành vi dân sự; iv. Không trái pháp luật và đạo đức xã hội; và v. Mục đích của giao dịch là lợi ích hợp pháp mà các bên mong muốn đạt được khi xác lập giao dịch đó. 1 Xem thêm Bộ Tư pháp “Những nội dung cơ bản của Bộ luật dân sự: (TP. Hồ Chí Minh: NXB TP. Hồ Chí Minh, 1997), t.51 – 53 và 104 – 112.

Luật pháp dạy cho luật sư 71 b. Điều kiện hình thức Các hành vi pháp lý đều có sự bằng lòng và hợp lý nên sự biểu lộ ý chí có thể diễn ra dưới bất cứ hình thức nào; tuy nhiên có một số hành vi pháp lý phải làm theo đúng hình thức luật định và gồm có: i. Hình thức trọng thể Thí dụ: việc khai sinh, khai tử, giá thú phải làm trước viên chức hộ tịch. ii. Hình thức công bố Hành vi pháp lý phải được công bố mới có giá trị đối kháng với những người thứ ba không liên can (đệ tam nhân). Thí dụ, hợp đồng thế chấp tài sản phải đăng ký giao dịch bảo đảm. iii. Hình thức văn bản Những sự thỏa thuận phải viết ra văn bản để sau này còn có chứng cứ, lý lẽ. Để tránh gây thiệt thòi cho một bên hay tạo ra hiểu nhầm sau này, luật buộc những văn kiện nào đó (hợp đồng, di chúc) phải có những điều khoản nhất định. c. Chế tài Hành vi không được lập theo những điều kiện trên sẽ bị vô hiệu. Xin lưu ý: LDS của ta không quy định về hợp đồng vô hiệu, tức là hành vi pháp lý hay văn bản vô hiệu, nhưng vì hợp đồng là một cách thực hiện các giao dịch dân sự nên nó đi theo những quy định về vô hiệu trong giao dịch dân sự. Do vậy, ở đây thay vì nói hành vi pháp lý hay văn bản, ta sẽ nói là giao dịch. i. Vô hiệu toàn phần Khi nội dung của giao dịch vi phạm điều cấm của pháp luật và đạo đức xã hội, đó là: giao dịch giả tạo, vi phạm hình thức, người tham gia không có năng lực hành vi, do nhầm lẫn, do bị lừa dối, đe dọa, do người không có năng lực nhận thức hành vi. ii. Vô hiệu từng phần Khi một

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 21

T
Trần Thế VIP 12· 10 phút trước

Truyện này đọc cuốn dã man! Đoạn cao trào xử lý quá mượt, đề cử ae đọc mạnh nhé.

L
Lâm Phong VIP 3· 1 giờ trước
⚠️ Bình luận có chứa Spoil (Bấm để xem)

Ai đọc rồi cho hỏi đoạn sau nhân vật chính có gặp lại sư phụ không vậy?

B
Bạch Tiểu Thuần· 3 giờ trước

Web đọc mượt thật sự, không có quảng cáo nhảy lung tung như mấy web khác. 10 sao!