phần của ông Hiếu, Đạo và còn bỏ ra thêm 30 triệu tiền giá trị tài sản vô hình. Nhưng sau đó các bên không thực hiện. Ngày 02/02/2004, ông Khánh có thông báo tới các cổ đông đề nghị giải thể Công ty. Ngày 07/02/2004, Đại hội cổ đông Công ty họp bàn về vấn đề rút vốn và thống nhất định giá lại toàn bộ tài sản của Công ty theo giá thị trường. Ngày 08/02/2004, ba cổ đông đã tiến hành tự định giá và xác nhận giá trị tài sản cố định của Công ty tính đến ngày 08/02/2004 là 236.720.000 đồng. Ngày 15/02/2004 Đại hội cổ đông họp lần 3. Tại cuộc họp này, các bên đồng ý để ông Khánh rút vốn khỏi Công ty. Việc rút vốn được thực hiện theo bảng phân chia tài sản đã lập. Cụ thể ông Khánh được nhận 8 mục trị giá 146.470.000 đồng, ông Hiếu và ông Đạo được nhận 16 mục trị giá 86.350.000 đồng. Thời gian di chuyển tài sản của ông Khánh trong 2 ngày 16 và 17/02/2004. Đồng thời khi hoàn tất việc di chuyển, ông Khánh phải làm các thủ tục thay đổi người đại diện theo pháp luật của Công ty. Ngày 17/02/2004, ông Khánh ra quyết định cách chức và buộc thôi việc kế toán trưởng Công ty, không thông qua Đại hội cổ đông. Ngày 05/5/2004, ông Khánh ký biên bản thanh lý hợp đồng thuê nhà tại 28 đường Khương Đình, Thanh Xuân, Hà Nội. Ngày 31/5/2004 ông Khánh đã di chuyển toàn bộ tài sản của Công ty ra khỏi địa điểm thuê và trả lại nhà cho bên thuê. Phần tài sản chia cho ông Hiếu cũng được ông Khánh mang đi. Ngày 04/8/2004 ông Hiếu và ông Đạo có đơn khởi kiện đề nghị Tòa án buộc ông Khánh phải trả Công ty EDM gồm các khoản: Toàn bộ giá trị tài sản ông Khánh đã lấy của Công ty là 232.820.000 đồng được kê trong bảng phân chia tài sản lập ngày 15/02/2004.
Một số vụ 347 Trả số tiền để trong két sắt của Công ty là 9.300.000 đồng. Bồi thường thiệt hại cho Công ty do việc tự ý lấy đi máy móc, tự ý ngừng sản xuất và tự ý cắt hợp đồng thuê nhà và số tiền bồi thường được tính từ ngày 18/02/2004 là ngày Công ty bị ngừng sản xuất đến 30/9/2004 là 87.254.208 đồng. Ông Khánh phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ của khách hàng đối với Công ty là 16.070.039 đồng. Ông Khánh phải khôi phục lại chức kế toán trưởng để giải quyết những công việc liên quan đến kế toán công ty. Ông Khánh phải làm các thủ tục thay đổi thành viên và thay đổi người đại diện theo pháp luật như đã cam kết trong các cuộc họp Đại hội cổ đông. Chịu trách nhiệm về khoản tiền phạt (nếu có) của cơ quan thuế trong việc chậm nộp báo cáo năm 2004. Nguyên đơn trình bày: Việc ông Khánh đã tự ý cắt hợp đồng thuê nhà từ ngày 05/5/2004 không bàn bạc với cổ đông mặc dù hợp đồng vẫn còn giá trị đến 20/8/2004 dẫn đến việc Công ty không hoạt động được nữa. Ngày 14/5/2004, Công ty tổ chức họp để kiểm kê toàn bộ giấy tờ, sổ sách, con dấu của Công ty sau đó được cho vào két bạc để niêm phong cùng với số tiền mặt là 9.300.000 đồng. Ngày 16/5/2004 ông Khánh tự ý phá dỡ niêm phong lấy đi toàn bộ số tiền cũng như tài liệu để trong két, đồng thời mang toàn bộ tài sản của Công ty ra khỏi trụ sở. Riêng chiếc máy cắt dây 2 (cũng được niêm phong) do không thể mang đi được, ông Khánh đã tháo toàn bộ linh kiện của máy đem đi chỉ để lại vỏ. Nếu như ông Khánh thực hiện đúng cam kết đã thỏa thuận thì ngoài việc nhận lại tài sản (8 mục), ông Khánh còn nhận được một số tiền từ ông Hiếu và ông Đạo thanh toán là 17.126.000 đồng (cùng với khoản tiền 9.300.000 đồng ông đang quản lý). Bị đơn trình bày: Trước khi di chuyển tài sản của Công ty để bàn giao nhà, ông Khánh đã có thông báo gửi 2 cổ đông Hiếu, Đạo là sẽ di chuyển tài sản của mình ra khỏi số nhà 28 đường Khương Đình trước ngày 29/5/2004. Song do việc ông Hiếu, Đạo không đến để di chuyển, ông Khánh đã phải mang toàn bộ tài
348 TƯ DUY PHÁP LÝ CỦA LUẬT SƯ sản đi gửi tại Công ty trách nhiệm hữu hạn Minh Hùng. Nay ông đồng ý trả lại số tài sản đã chia gồm 14 mục (vì mục 5 và mục 6 trong bảng kê không đem đi được) cho ông Hiếu, Đạo sau khi được nhận lại số tiền như các bên đã thỏa thuận trả cho ông là 17.126.000 đồng. Ngoài ra ông còn yêu cầu ông Hiếu, Đạo phải trả chi phí gửi giữ máy móc tính từ ngày 30/5/2004 đến ngày 30/9/2004 là 2.600.000 đồng còn lại các yêu cầu khác của nguyên đơn, ông không chấp nhận. Tại bản án kinh tế sơ thẩm số 49/KTST ngày 21/9/2004, Tòa án Nhân dân thành phố Hà Nội đã áp dụng điều 51, điều 54 Luật Doanh nghiệp; Nghị định 125/2004/NĐ–CP của Chính phủ; Căn cứ điều 12, 31 Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế, tuyên xử: Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của các cổ đông Phan Đình Hiếu và Phan Đình Đạo, cụ thể như sau: Buộc ông Nguyễn Quốc Khánh phải trả lại Công ty EDM các tài sản ông đang quản lý bao gồm 22 hạng mục, có tổng trị giá 226.720.000 đồng (có danh sách đính kèm). Buộc ông Nguyễn Quốc Khánh phải bồi thường cho Công ty cổ phần EDM số tiền 6.100.000 đồng là trị giá hệ thống điện và điện thoại đặt tại trụ sở Công ty. Buộc ông Nguyễn Quốc Khánh phải trả lại Công ty EDM số tiền tồn quỹ mà ông đang quản lý là 9.300.000 đồng. Không chấp nhận yêu cầu của các cổ đông Phan Đình Hiếu, Phan Đình Đạo về những vấn đề sau: Không chấp nhận yêu cầu của các nguyên đơn đòi ông Nguyễn Quốc Khánh phải bồi thường thiệt hại do Công ty bị dừng hoạt động với số tiền yêu cầu là 87.254.208 đồng. Không chấp nhận yêu cầu của các nguyên đơn đòi ông Nguyễn Quốc Khánh phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ mà khách hàng chưa trả Công ty là 16.070.039 đồng. Không chấp nhận yêu cầu của các nguyên đơn đòi ông Nguyễn Quốc Khánh phải chịu trách nhiệm về khoản tiền phạt thuế. Công ty EDM phải chịu trách nhiệm nộp thuế và phạt thuế nếu cơ quan thuế có quyết định phải nộp.
Một số vụ 349 Bác các yêu cầu khác của các đương sự. Kiến nghị cơ quan cấp đăng ký kinh doanh và cơ quan quản lý doanh nghiệp có biện pháp xử lý đối với Công ty EDM về việc các cổ đông góp vốn ban đầu và chia tách Công ty để hoạt động riêng, không đúng quy định tại điều lệ Công ty và Luật Doanh nghiệp. Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo. Ngày 29/9/2004, ông Phan Đình Hiếu và ông Phan Đình Đạo có đơn kháng cáo đề nghị xem xét lại toàn bộ bản án sơ thẩm. Xét thấy: Về việc góp vốn điều lệ: Công ty EDM được thành lập tháng 11/2001, là một công ty cổ phần, một loại hình doanh nghiệp được điều chỉnh bởi Luật doanh nghiệp có hiệu lực ngày 01/01/2000. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm vận dụng Nghị định 125/2004/NĐ–CP ngày 19/5/2004 của Chính phủ, để cho rằng các cổ đông chưa góp đủ vốn điều lệ là vi phạm như vậy là chưa thỏa đáng. Vì theo quy định tại khoản 1 điều 51; điều 54 Luật doanh Nghiệp nói trên thì tuy các cổ đông chưa góp đủ vốn điều lệ đã thỏa thuận nhưng các cổ đông được phép thanh toán đủ số cổ