Tư Duy Pháp Lý Của Luật Sư

phần còn lại do Bị đơn trả.

phần còn lại do Bị đơn trả.

phần còn lại do Bị đơn trả. Bác khiếu kiện của Nguyên đơn đòi Bị đơn thanh toán về phí pháp lý. Phán quyết này có giá trị chung thẩm.

Một số vụ 331 Vụ 48 Thanh toán tiền trong hợp đồng mua bán Nguyên đơn Công ty Thiết bị và Phụ tùng TP. Hồ Chí Minh có đơn và lời khai trình bày: Công ty Thiết bị và Phụ tùng TP. Hồ Chí Minh và Công ty TNHH Hoài Nam là bạn hàng nhiều năm. Trong hai năm 1994 – 1996 Công ty Thiết bị và Phụ tùng TP. Hồ Chí Minh đã bán cho Công ty TNHH Hoài Nam 292 xe ô tô tại 11 hợp đồng kinh tế. Trong số các hợp đồng đã được thanh lý, có hai hợp đồng xảy ra tranh chấp khi thanh toán, đó là hợp đồng mua bán 50 xe ô tô Kraz và hợp đồng mua bán 114 xe ô tô tải Mercedes. Cụ thể: Ngày 15/5/1996 Công ty Thiết bị và Phụ tùng TP. Hồ Chí Minh đã ký hợp đồng (nội) bán cho Công ty TNHH Hoài Nam 50 xe Kraz với 2 loại giá: 144.000.000đ/1 xe đầu kéo và 96.000.000đ/1 xe tải. Các điều kiện: hàng đã qua sử dụng với chất lượng từ 90% trở lên, chi phí vận chuyển tiếp nhận do bên B (Công ty TNHH Hoài Nam) tự lo, bên A (Công ty Thiết bị và Phụ tùng TP. Hồ Chí Minh) ủy quyền cho bên B đóng thuế nhập khẩu; ngay sau khi ký hợp đồng bên B chuyển cho bên A 20% tổng giá trị hợp đồng, số tiền còn lại thanh toán hết sau khi nhận hàng. Ngày 27/02/1997 hai bên đã ký biên bản thanh lý hợp đồng có nội dung chính là Công ty TNHH Hoài Nam xác nhận còn nợ: 3.459.860.000đ và hẹn đến hết ngày 30/3/1997 trả 2 tỷ, đến 30/4/1997 sẽ trả hết toàn bộ; nếu không, Công ty TNHH Hoài Nam chịu lãi suất 1,5% trên số tiền chậm trả. Trước đó ngày 16/6/1995, ngày 21/7/1995 Công ty Thiết bị và Phụ tùng TP. Hồ Chí Minh đã ký 2 hợp đồng 90/MB và 91/MB bán 114 xe Mercedes tải nhẹ cho Công ty TNHH Hoài Nam. Các điều kiện trong hợp đồng là: - Chất lượng xe còn 80 % trở lên; - Hàng giao tại kho Đà Nẵng từ ngày 25–30/7/1995; - Chi phí vận chuyển do bên B (Công ty TNHH Hoài Nam) chịu; - Tiền trả hết trước ngày 21/01/1996. Giao tiền đến đâu chuyển hải quan đến đó. Ngày 23/02/1997 Công ty Thiết bị và Phụ tùng TP. Hồ Chí Minh và Công ty TNHH Hoài Nam đã ký biên bản thanh lý hợp đồng mua bán xe Mercedes

332 TƯ DUY PHÁP LÝ CỦA LUẬT SƯ tải, xác nhận Công ty TNHH Hoài Nam đã bán được 42 xe và đã thanh toán tiền còn nợ là 660.086.000đ. Công ty TNHH Hoài Nam tiếp tục tiêu thụ 29 xe, số còn lại sẽ trả lại cho Công ty Thiết bị và Phụ tùng TP. Hồ Chí Minh. Cho đến ngày 22/3/1999 Công ty TNHH Hoài Nam có văn bản xác nhận đã bán được tất cả 66 xe, trả lại 48 xe, sau khi thanh toán cho Công ty Thiết bị và Phụ tùng TP. Hồ Chí Minh còn nợ 1.421.346.000đ. Công ty Thiết bị và Phụ tùng TP. Hồ Chí Minh đã có nhiều văn bản đòi nợ nhưng Công ty TNHH Hoài Nam có nhiều văn bản xác nhận nợ, cam kết trả nợ kể cả cam kết thế chấp tài sản của công ty nhưng vẫn không thực hiện trả nợ. Công ty thiết bị phụ tùng đã phải làm đơn ra Công an TP. Hồ Chí Minh nhưng cũng không giải quyết được. Sau đó Công ty Thiết bị và Phụ tùng TP. Hồ Chí Minh đã có đơn gửi Tòa án đòi toàn bộ số hàng còn thiếu. Bị đơn Công ty TNHH Hoài Nam có đơn trình bày: Đúng là ngày 15/5/1996 Công ty TNHH Hoài Nam có ký hợp đồng mua 50 xe Kraz của Công ty Thiết bị và Phụ tùng TP. Hồ Chí Minh với các điều kiện ghi trong hợp đồng đúng như Công ty Thiết bị và Phụ tùng TP. Hồ Chí Minh trình bày. Thế nhưng khi xe về đến cảng thì bị các cơ quan chức năng bắt giữ vì bị nghi là hàng buôn lậu. Phía Công ty Thiết bị và Phụ tùng TP. Hồ Chí Minh đã có công văn số 125 ngày 30/7/1996 đề nghị Công ty TNHH Hoài Nam hỗ trợ nhận hàng giúp nên Công ty TNHH Hoài Nam tìm mọi cách lấy lô hàng 50 xe Kraz này ra và tiêu thụ. Chi phí phát sinh tất cả hết 800.000.000đ. Sau khi sự việc xảy ra, Công ty TNHH Hoài Nam đã báo cho Công ty Thiết bị và Phụ tùng TP. Hồ Chí Minh biết. Mặt khác, theo Công ty TNHH Hoài Nam do chất lượng lô xe này kém, nên công ty Nguyen World Wide Trading (ở Úc), là công ty đã bán lô xe này (Kraz) cho Công ty Thiết bị và Phụ tùng, đã đồng ý bồi thường chất lượng xe là 15% theo LC cho Công ty Thiết bị và Phụ tùng TP. Hồ Chí Minh (93.675 USD). Khoản tiền này Công ty TNHH Hoài Nam phải được hưởng, nhưng Công ty Thiết bị và Phụ tùng đã từ chối thanh toán cho Công ty TNHH Hoài Nam. Chính vì những lý do này, mà Công ty TNHH Hoài Nam chưa thanh toán số tiền còn thiếu trong Hợp đồng mua 114 xe ô tô tải Mercedes. Theo Công ty TNHH Hoài Nam sau khi đối trừ hai khoản trên, nếu thiếu thì Công ty TNHH Hoài Nam trả, còn thừa thì Công ty Thiết bị và Phụ tùng TP. Hồ Chí Minh phải thanh toán lại cho Công ty TNHH Hoài Nam.

Một số vụ 333 Ngoài ra Công ty TNHH Hoài Nam còn phải đi vay tiền để kinh doanh và cải tạo lô 50 xe Kraz nên thực tế lô xe này lỗ khoảng 3 tỷ đồng. Công ty TNHH Hoài Nam yêu cầu Tòa án buộc Công ty Thiết bị và Phụ tùng TP. Hồ Chí Minh phải chịu trách nhiệm đối với khoản tiền này của Công ty TNHH Hoài Nam. Các tài liệu trong hồ sơ vụ án cho thấy, sau khi lô 50 xe Kraz nhập cảng, Công ty Thiết bị và Phụ tùng TP. Hồ Chí Minh phát hiện có một số xe sản xuất trước năm 1991 và chất lượng xe không cao, Công ty Thiết bị và Phụ tùng TP. Hồ Chí Minh đã có công văn gửi cho khách hàng tiêu thụ của mình là Công ty TNHH Hoài Nam thông báo và đề nghị nếu thấy kinh doanh được thì nhận xe. Công ty TNHH Hoài Nam đã có văn bản gửi Công ty Thiết bị và Phụ tùng TP. Hồ Chí Minh nói rõ không quan tâm đến đời xe và đồng ý nhận xe với chất lượng 80% trở lên. Trong thực tế thì khi lô xe này cập cảng bị bắt giữ cũng như khi được xử lý trao trả thì nhân viên của Công ty TNHH Hoài Nam cũng như chính giám đốc của Công ty TNHH Hoài Nam đã có mặt từ đầu đến cuối và biết rõ đời xe và chất lượng của từng xe, nhưng vẫn nhận lô xe này và không hề có văn bản phản hồi gì về chất lượng hay đời xe thấp cả. Sau khi nhận xe xong đã mang về trụ sở công ty ở Hà Nội để tiêu thụ. Trong suốt quá trình từ khi hàng cập cảng cho đến khi nhận hàng xong giữa Công ty Thiết bị và Phụ tùng và Công ty TNHH Hoài Nam không hề có thỏa thuận gì về việc giải quyết về chất lượng của lô 50 xe Kraz này. Ngay khi phát hiện lô xe 50 Kraz không đúng đời xe, Công ty Thiết bị và Phụ tùng TP. Hồ Chí Minh đã có văn bản gửi Công ty Nguyen World Wide Trading (ở Úc) yêu cầu giảm giá. Ngày 19/11/1996 tại Văn phòng Công ty Thiết bị và Phụ tùng TP. Hồ Chí Minh có cuộc họp, thành phần gồm: - Ông Thưởng – giám đốc Công ty Thiết bị và Phụ tùng TP. Hồ Chí Minh - Ông Trung – giám đốc Công ty Nguyen World Wide Trading. Sau khi thảo luận, Công ty Nguyen World Wide Trading đồng ý giảm giá cho Công ty Thiết bị và Phụ tùng TP. Hồ Chí Minh 15% giá trị lô hàng theo L/C (93.675 USD)

334 TƯ DUY PHÁP LÝ CỦA LUẬT SƯ Xác minh của tòa được biết, khoản bồi thường chất lượng lô xe 50 Kraz, Công ty Thiết bị và Phụ tùng TP. Hồ Chí Minh chưa từng nhận được. Công ty TNHH Hoài Nam cũng không có bất cứ tài liệu gì để chứng minh là Công ty Thiết bị và Phụ tùng TP. Hồ Chí Minh đã nhận được 15% giá trị L/C (93.675 USD) do khách hàng ngoại là công ty Nguyen World Wide Trading thanh toán. Theo bạn, khoản 15% giá trị lô 50 xe Kraz mà Công ty Nguyen World Wide Trading đồng ý giảm giá theo biên bản ngày 19/11/1996 sẽ thuộc về Công ty Thiết bị và Phụ tùng TP. Hồ Chí Minh hay Công ty TNHH Hoài Nam? Đối với số tiền chi phí tiếp nhận phát sinh do lô xe 50 Kraz bị bắt giữ và xử lý nhận thấy: Phía Công ty TNHH Hoài Nam khai đã chi hết tất cả: 809.096.000đ. Tuy nhiên, xác minh của tòa án cho thấy chỉ có 113.196.000đ là chi phí hợp lý và có chứng từ. Công ty Thiết bị và Phụ tùng TP. Hồ Chí Minh tự nguyện thanh toán thêm 37.000.000đ vào chi phí nhập lô 50 xe Kraz, cộng với khoản chi phí hợp thành là 150.000.000đ. Công ty Thiết bị và Phụ tùng TP. Hồ Chí Minh mời bạn bảo vệ quyền lợi cho công ty. Hãy chuẩn bị bản luận cứ để bảo vệ quyền lợi cho Công ty Thiết bị và Phụ tùng TP. Hồ Chí Minh. Vụ 49 Tranh chấp trong hợp đồng mua bán bột Nguyên đơn: Người bán Thụy Sỹ Bị đơn: Người mua Hà Lan Tóm tắt vụ việc Nguyên đơn và Bị đơn đã đồng ý ký ba hợp đồng bán cùng một loại hàng hóa với các quy cách phẩm chất đã được quy định chi tiết. Hàng được gửi đi từ một công ty Canada và được giao theo điều kiện C.I.F cảng Rotterdam. Cả ba hợp đồng được lập bằng tiếng Pháp với những điều kiện giống hệt nhau, ngoại trừ điều khoản về số lượng. Điều khoản trọng

Một số vụ 335 tài quy định rằng tranh chấp sẽ được giải quyết theo Quy tắc Trọng tài của Phòng Thương mại Quốc tế. Tuy nhiên, chỉ có hai hợp đồng đầu tiên được ký và thực hiện, hợp đồng thứ ba vẫn chưa được ký và trước khi hàng được gửi đi từ Canada, Bị đơn đã hủy hợp đồng thứ ba với lý do hàng được giao theo hai hợp đồng trước không đúng với quy cách và phẩm chất trong hợp đồng. Nhà máy ở Canada đã gửi một kỹ sư sang Hà Lan để kiểm tra mẫu hàng trong một phòng thí nghiệm độc lập. Kết quả kiểm tra gây nhiều tranh cãi: Khi tiến hành phân tích theo phương pháp của Bắc Mỹ thì hàng được kiểm tra hoàn toàn phù hợp với những quy cách phẩm chất quy định trong hợp đồng, nhưng khi tiến hành theo phương pháp của châu Âu thì lại không phù hợp. Các bên đã kiện ra Trọng tài, theo đó: Nguyên đơn yêu cầu được bồi thường 55.000 USD (bao gồm cả 37.000 USD trả cho nhà máy ở Canada) đối với việc hủy hợp đồng thứ ba. Bị đơn khiếu nại đòi 181.645 florins Hà Lan cho những thiệt hại liên quan tới hai hợp đồng ban đầu. Phán quyết của trọng tài: Trong vụ kiện này có rất nhiều tranh chấp được nêu ra như về thẩm quyền của trọng tài, luật áp dụng đối với hợp đồng, vai trò của người kỹ sư được nhà máy ở Canada cử sang tiến hành phân tích hàng hóa… Tuy nhiên, ở đây có ba vấn đề chính cần xem xét là: Thứ nhất, liệu người mua có mặc nhiên được quyền hủy một hợp đồng khi suy đoán rằng hàng được giao theo hợp đồng thứ ba có thể sẽ không phù hợp với các quy cách phẩm chất quy định trong hợp đồng hay không? Thứ hai, quyền được thông tin và nghĩa vụ phải tìm hiểu thông tin (về phương pháp kiểm tra chất lượng hàng hóa) một cách đầy đủ của các bên trước khi tiến hành ký hợp đồng được hiểu và áp dụng như thế nào? Thứ ba, việc hiểu không rõ về tiêu chuẩn đánh giá phẩm chất của hàng hóa dẫn tới hậu quả là hàng giao không đúng như người mua nghĩ và trông đợi có cho phép người mua được quyền đòi bồi thường về lô hàng đó không? 1. Về quyền đơn phương hủy hợp đồng của Bị đơn Theo quan điểm của Ủy ban trọng tài, đây là một trường hợp liên quan đến một nhóm hợp đồng thương mại và do đó, nếu kết luận cuối cùng là

336 TƯ DUY PHÁP LÝ CỦA LUẬT SƯ hàng hóa được giao theo hai hợp đồng đầu không phù hợp với quy cách phẩm chất quy định trong hợp đồng, và nếu Bị đơn tin chắc rằng hàng hóa theo hợp đồng thứ ba sẽ có phẩm chất y như số hàng đã được giao theo hai hợp đồng trước đó, thì Bị đơn sẽ có quyền từ chối hợp đồng thứ ba. Theo Điều 48 của Luật thống nhất về Mua bán Hàng động sản Quốc tế, người mua có thể áp dụng quyền được hủy hợp đồng thậm chí trước cả thời gian được ấn định cho việc giao hàng nếu có bằng chứng rõ ràng hàng hóa sẽ không phù hợp với các quy cách phẩm chất quy định trong hợp đồng. Theo luật Thụy Sỹ, nếu mọi bằng chứng đều cho thấy là hàng hóa sẽ bị hư hỏng tại thời điểm giao hàng, người mua không phải đợi cho tới lúc đó mới tiến hành các thủ tục pháp lý để từ chối nhận hàng. Trong trường hợp cụ thể này, Bị đơn đã tuyên bố rằng họ sẽ không tiếp tục nhận hàng trừ khi số hàng có quy cách phẩm chất phù hợp với phương pháp đánh giá do Bị đơn đưa ra. Tuy nhiên Nguyên đơn và nhà cung cấp (nhà máy ở Canada) hiện đang sử dụng phương pháp của Bắc Mỹ, đã không chấp nhận điều này. Như vậy, nếu giả thiết về sự không phù hợp của hàng hóa được chứng minh, Bị đơn có quyền từ chối hợp đồng thứ ba. 2. Về việc hiểu lầm Thực chất, cả hai bên đều đã hết sức thiện chí trong việc giải quyết tranh chấp giữa họ. Về

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 128

Đang tải bình luận...