Tư Duy Pháp Lý Của Luật Sư

Phần 4 sách này.

Phần 4 sách này.

Phần 4 sách này. 2 Arthur L. Corbin, một giáo sư luật của Mỹ, vào năm 1913 đã phân tích “sự kiện” (facts) ra như thế này: Đây là một thế giới của sự kiện. Sự tồn tại của vật chất, những mối liên quan vật chất là những sự kiện. Những diễn biến trong tinh thần chúng ta là sự kiện. Sự tồn tại của bất kỳ mối tương quan pháp lý nào là sự kiện. Tất cả những sự thay đổi hay biến dạng là các sự kiện. Sự kiện gồm có những việc làm, không được làm và biến cố. Biến cố là bất kỳ một sự thay đổi nào trong tất cả các sự kiện đang tồn tại, kể cả những việc làm hay không được làm của con người. Sự kiện được phân chia thành: – Sự kiện có tính tác động (operative fact) là sự kiện nào mà sự tồn tại hay xuất hiện của nó sẽ tạo nên những quan hệ pháp lý mới giữa người ta với nhau. – Sự kiện mang tính chứng tích (evidential fact) là một sự kiện mà sự tồn tại hay xuất hiện của nó có thể chứng minh cho sự tồn tại của một sự kiện khác. Thí dụ dấu chân trên bãi biển cho biết có người đã đi qua. – Sự kiện quan trọng (material fact) là sự kiện có tính tác động hay sự kiện mang tính chứng tích. Từ “material” thường được dịch là “vật chất”, nhưng trong ngôn từ pháp lý nó là “quan trọng” vì như bạn thấy “fact” đã là vật chất rồi. Trích lại trong quyển Legal method của William T. Fryer và những tác giả khác (St. Paul Minnesota: West Publishing Co., 1949), t. 614– 615.

20 TƯ DUY PHÁP LÝ CỦA LUẬT SƯ luật hay không (cách đi) là sự kiện quan trọng và được gọi là SKMC, các sự kiện khác là sự kiện phụ thuộc (SKPT). Về chiếc xe, cũng có vài sự kiện, có giấy đăng ký không, thắng có tốt không, vận tốc bao nhiêu… Tùy theo việc cãi nhau là về điểm nào mà điểm đó trở thành SKMC, những cái còn lại là sự kiện phụ thuộc. Sự kiện mấu chốt tạo nên CHMC; sự kiện phụ thuộc tạo nên CHPT. Gọi như thế là để phân biệt thôi chứ mỗi cái có thể bị hoán đổi cho nhau khi ta suy nghĩ. Đụng xe vào người khác mà bạn có phải đền hay không thì câu hỏi đó được gọi là câu hỏi kết luận (CHKL). Từ CHKL ta mới đi tìm SKMC và CHMC. Tất cả các cụm từ được in nghiêng là những cụm từ sẽ được dùng nhiều khi TDPL và chúng ta cần thống nhất cách hiểu. II. Nội dung của TDPL TDPL là một dụng cụ lý trí của luật sư. Nó là cách thức mà luật sư suy nghĩ trong đầu mình (tư duy) để phân tích các sự kiện, hầu kết nối với, hay áp chúng vào, các điều khoản của luật pháp tương ứng để đưa ra các câu hỏi pháp lý. Vậy khi trả lời được các câu hỏi đó thì tìm ra được giải pháp theo luật để giải quyết một vụ việc nhất định. Nói gọn lại thì đó là cách phân tích các sự kiện để áp chúng vào luật pháp hầu tìm ra giải pháp. Cốt lõi của TDPL là tìm ra các câu hỏi pháp lý, trong đó có CHMC và các CHPT; nhưng để có các câu hỏi đó thì phải tìm ra các sự kiện đã xảy ra và ấn định cái nào là chính, cái nào là phụ. Nó là một chuỗi công việc được gọi là các giai đoạn. Mỗi giai đoạn có các bước đi. Thứ nữa, TDPL là sự suy nghĩ trong đầu mình, chứ không phải là trình bày, nói hay viết ra, cho người ngoài xem hay nghe. Kết quả sau cùng của nó là sự trình bày bằng cách viết hay nói. Các nội dung bạn đọc trong sách này đều là “cách suy nghĩ”. Nếu viết thành văn bản ta sẽ phải trình bày khác đi cho phù hợp với thói quen của người đọc. Do vậy, có khi đọc quyển này nhiều lúc bạn thấy… tức anh ách. Để các bạn hiểu TDPL là sẽ làm gì, tôi lấy một vụ có thật như sau: “Vụ bà Hoành” 545m2 đất được cha cho con và đã được làm sổ đỏ. Thế nhưng sau đó do có đơn khởi kiện, yêu cầu chia thừa kế của một người con khác,

Các vấn đề cơ bản 21 TAND huyện Hưng Nguyên, TAND tỉnh Nghệ An đưa ra xét xử sáu lần vẫn chưa xong. Chị Nguyễn Thị Hoành, người bị kiện trong vụ án trên, cho biết: cha mẹ chồng của chị là ông bà Lê Sĩ Trọng có 10 người con. Do gia đình đông con nên năm 1978, hợp tác xã Hưng Thông cấp cho ông bà thửa đất 545m2 để tách hộ cho con ra ở riêng. Năm 1993, xã Hưng Thông thực hiện thí điểm nghị định 64/CP của Chính phủ, ông Trọng đến gặp Ban thực hiện nghị định đề nghị kê khai và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng 545m2 đất cho con là vợ chồng chị Hoành. Năm 1995, vợ chồng chị Hoành được cấp sổ đỏ. Năm 2001, ông Trọng qua đời (vợ ông đã mất năm 1992), từ năm 2002–2005 vợ chồng chị Hoành liên tục bị kiện đòi lại đất. Người kiện là anh chồng chị. Theo bản sơ thẩm ngày 20/11/2007 về “tranh chấp tài sản thừa kế” của TAND huyện Hưng Nguyên, nguyên đơn là ông Lê Sĩ Nam cho rằng cha mẹ ông để lại khối tài sản gồm hai ngôi nhà gỗ trên thửa đất đã sử dụng lâu đời và thửa đất 545m2 được hợp tác xã Hưng Thông cấp năm 1978. Do cha mẹ không để lại di chúc nên ông Nam yêu cầu tòa án chia thừa kế theo pháp luật. Mặc dù trong phiên tòa, đại diện Viện KSND huyện Hưng Nguyên đề nghị hội đồng xét xử bác yêu cầu của nguyên đơn nhưng hội đồng xét xử vẫn quyết định chia tài sản thừa kế. Ngày 30/11/2007, Viện KSND huyện Hưng Nguyên ra kháng nghị bản án dân sự sơ thẩm của TAND huyện. Lý do tòa xác định thửa đất 545m2 đã được cấp sổ đỏ cho vợ chồng chị Hoành là di sản thừa kế do ông Trọng để lại và đem chia thừa kế là không đúng với quy định tại điều 634, 169 Bộ luật dân sự. Phúc thẩm lần 1 ngày 22/5/2008, TAND tỉnh Nghệ An tuyên hủy án. Phiên tòa sơ thẩm lần 2 ngày 15/9/2009, TAND huyện Hưng Nguyên vẫn tuyên “chia thừa kế theo pháp luật với di sản thừa kế của ông Lê Sĩ Trọng”. Viện KSND huyện Hưng Nguyên lại ra kháng nghị. Phiên tòa phúc thẩm lần 2 ngày 14/6/2010, TAND tỉnh Nghệ An xét xử phúc thẩm lại tuyên hủy toàn bộ bản án. Lý do: “Sau khi thụ lý lại vụ án để giải quyết, cấp sơ thẩm vẫn tiếp tục có những thiếu sót về tố tụng như xác định tư cách tố tụng chưa chuẩn xác làm ảnh hưởng đến quá trình giải quyết nội dung vụ kiện”.

22 TƯ DUY PHÁP LÝ CỦA LUẬT SƯ Phiên sơ thẩm lần 3, TAND tỉnh Nghệ An xử ngày 22/9/2011. Trước phiên tòa, vợ chồng chị Hoành đã gửi đơn đề nghị thay đổi thẩm phán chủ tọa phiên tòa. Thời điểm này do vợ chồng chị Hoành phải chạy lũ nên xin hoãn phiên tòa nhưng phiên tòa vẫn không thay đổi thẩm phán và vẫn xét xử vắng mặt hai bị đơn. Phiên tòa tuyên: “Xử phân chia tài sản”. Lý do: “Theo quy định của pháp luật về thừa kế và đất đai thì việc chuyển quyền sử dụng đất cho người khác bằng hình thức di chúc, tặng, cho... phải bằng văn bản, bút tích của người chuyển quyền, có xác nhận của chính quyền địa phương”. Hội đồng xét xử cho rằng việc chuyển quyền sử dụng thửa đất 545m2 giữa ông Trọng, bà Xuân cho vợ chồng chị Hoành không có văn bản, bút tích gì nên việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng chị Hoành là không hợp pháp. Phúc thẩm lần 3 ngày 20/4/2012, TAND tối cao tuyên hủy án. Lý do: “Việc xét xử vắng mặt bị đơn trong khi hai đương sự này chưa biết yêu cầu xin thay đổi thẩm phán chủ tọa của mình có được chấp nhận hay không là không đảm bảo quyền lợi tại phiên tòa của đương sự và đặc biệt là quyền bảo vệ của đương sự được quy định tại điều 9, điều 10 Bộ luật tố tụng dân sự. Đây là vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng”. Theo hội đồng xét xử, khi xác định thửa đất 545m2 là di sản của ông Trọng, bà Xuân, tòa án cấp sơ thẩm không tiến hành thu thập chứng cứ, xác minh xem người mất có để lại di sản gồm các loại giấy tờ, tài sản trên đất hay không. Tại phiên tòa, các đương sự khác đều không có mặt, tòa án không thể kiểm tra, xác minh những chứng cứ mới. Phiên tòa sơ thẩm lần 4 dự kiến mở ngày 30/10/2012 đã bị hoãn theo yêu cầu của chị Hoành vì chồng chị bị bệnh Giả sử bây giờ bạn được bà Hoành (bị đơn) thuê làm luật sư cho bà ấy. Vậy bạn sẽ làm gì? Thưa, đầu tiên bạn sẽ TDPL để đưa ra CHMC. Làm việc ấy bạn sẽ suy nghĩ trong đầu mình theo bảy bước mà bạn sẽ học ở Phần hai quyển sách này. Ở đây ta chỉ phân tích ngắn thôi. Trở lại vụ án trên. Trong vụ đó đã có bốn việc xảy ra là: (i) ông bố chồng được cấp đất; (ii) ông ấy đi khai và xin cấp sổ đỏ cho vợ chồng bà Hoành; (iii) ông ấy chết; (iv) ông anh chồng kiện… Chúng là bốn sự kiện.

Các vấn đề cơ bản 23 Xem xét các sự kiện, ta thấy ông bố chồng chết năm 2001, ông xin cấp sổ đỏ cho vợ chồng bà Hoành năm 1995; bà Hoành đã có sổ đỏ lúc ông ấy còn sống. Vậy khi còn sống ông cụ không phải là chủ của khu đất và căn nhà kia. Ông anh bà Hoành đòi chia nhà theo thừa kế. Ta nhớ đến luật thừa kế. Như vậy là ta kết hợp sự kiện với luật pháp và đã TDPL! Luật về thừa kế quy định rằng người chết mà lúc sống có một tài sản nào đó thì khi chết người ấy để lại di sản. Di sản phải được chia cho người còn sống theo di chúc viết, hay theo pháp luật. Ta biết luật nên nghĩ ra điều này. Nhìn vào các sự kiện ta thấy, ông bố cho con đất năm 1995; năm 2001 ông mất; vậy lúc sống ông không là chủ khu đất đã cho vợ chồng bà Hoành. Vậy ông bố không để lại di sản. Thế thì sao mà ông anh chồng bà Hoành đòi chia di sản được? Trong vụ này, có một sự kiện quan trọng là “chủ của căn nhà và khu đất” và nó chính là cái mà ông anh chồng bà Hoành đòi chia. Vậy sự kiện đó là SKMC. Nhìn ra điểm mấu chốt này là tài của bạn. Mình đã bỏ qua các chi tiết khác (đất hợp tác xã, người con đã lấy sổ đỏ…) Đặt ra một câu hỏi đối với SKMC là ta nêu lên được vấn đề pháp lý của vụ án; tức là tìm ra CHMC. Khi xem xét các sự kiện của vụ án như thế là bạn đang TDPL. Bây giờ muốn giải quyết vụ tranh chấp, bạn phải nêu CHMC. Và nó là một sự thật khách quan. Câu đó là: “Ông bố chồng bà Hoành có là chủ của căn nhà và khu đất lúc còn sống không?”. Hỏi thế ta có câu trả lời trong đầu là “Ông bố không còn là chủ”. Ta không dùng câu trả lời này mà sẽ hỏi tiếp. Đây là đặc điểm của TDPL. Câu hỏi tiếp sẽ là “Vợ chồng bà Hoành có bằng chứng mình là chủ sở hữu của khu đất không?”. Ta cũng sẽ không trả lời mà hỏi tiếp “Bằng chứng đâu?”; rồi lại tiếp “Bằng chứng có xác thực không?”. Đặt các câu hỏi liên tiếp như vậy là để củng cố hay phá hủy CHMC và chúng được gọi là CHPT. Đưa ra các câu hỏi như thế là ta TDPL, mà sẽ học sau này. Qua các CHPT ta sẽ có câu trả lời cho CHMC và nó trở thành giải pháp. Bạn sẽ đề nghị lên tòa giải pháp để thỉnh cầu tòa bác đơn của ông anh chồng bà Hoành. TDPL như trên, bạn sẽ thấy tuyên bố của tòa ở phiên sơ thẩm lần thứ ba là sai luật hoàn toàn, hay là… tào lao xét theo khía cạnh luật pháp! Sự lúng túng của tòa các cấp nêu ở trên sở dĩ xảy ra là vì không ai tìm ra CHMC của vụ án. Như ta thấy trong vụ bà Hoành, CHPL của một vụ án rất quan trọng. Tôi xin nêu một vụ gần đây để nhấn mạnh điều ấy.

24 TƯ DUY PHÁP LÝ CỦA LUẬT SƯ Trong vụ xử Huyền Như tháng 1/2014 tại Tòa án TPHCM. Huyền Như, một cán bộ của ngân hàng Vietinbank, đã lừa nhiều người để lấy tiền, số tiền lên đến khoảng 4.000 tỷ đồng. Vì cô ta làm ở ngân hàng nên các luật sư biện hộ cho thân chủ là nạn nhân bị mất tiền đã nêu CHPL, đại ý là “Ai quản lý tài khoản?”. Đại diện ngân hàng Vietinbank bèn trả lời, luật ngân hàng không buộc ngân hàng phải quản lý tài khoản! Đáng lẽ câu hỏi ấy nên nhắm vào “đồng tiền” chứ không nên nhắm vào “vật giữ tiền”; nhất là khi vật ấy chỉ là một sự ghi nhận trên giấy. Thực sự tài khoản là một con số mà ngân hàng đặt ra để theo dõi tiền gửi của một khách hàng. Đến tháng 6/2014, trong vụ xử ông Nguyễn Đức Kiên, ở Tòa án TP Hà Nội, một luật sư (LS) đã nêu lại vấn đề đó với ngân hàng Vietinbank, ông hỏi: “Người dân gửi tiền vào ngân hàng nói chung, Vietinbank nói riêng, có nghĩa vụ quản lý tài khoản cũng như số tiền đã gửi hay không? Người đại diện theo ủy quyền của Vietinbank trả lời: “Chủ tài sản có nghĩa vụ và trách nhiệm quản lý”. LS: “Tôi hỏi là tiền đã chuyển vào Vietinbank”. Đại diện Vietinbank phản ứng: “Câu hỏi của LS không rõ bởi lẽ phải xác định tiền đó thuộc quyền quản lý sử dụng của ai thì mới biết chủ sở hữu”. LS giải thích: “Tôi hỏi thế này, khi tiền chuyển vào tài khoản Vietinbank thì người dân có quyền quản lý tài khoản của mình. Còn số tiền mà Vietinbank giữ, thì có nghĩa vụ quản lý số tiền đó không?1 Hai thí dụ trên cho bạn thấy làm luật sư thì phải có các khả năng gì. Bạn thấy ngay là trong một vụ kiện luôn luôn có hai vấn đề: sự kiện và luật pháp. Thí dụ vụ bà Hoành ta có luật là luật thừa kế, luật đất đai; còn sự kiện là bốn việc đã diễn ra. Khi cãi nhau về sự kiện (với luật sư đối phương) thì sẽ nảy sinh các “vấn đề về sự kiện” (question of fact). Luật pháp được một bên đưa ra thì có thể bị bên kia bác bỏ. Vậy là có các “vấn đề về pháp lý” (question of law). Thứ nữa, khách hàng đến luật sư thì họ kể cho luật sư nghe về một vụ 1 Báo Thanh Niên, ngày 25/5/2014.

Các vấn đề cơ bản 25 việc hay hỏi về một vấn đề nào đó chứ không đưa luật cho luật sư. Vì thế bạn phải biết nêu CHPL. Hơn nữa, với các câu hỏi pháp lý được nêu ra mà sẽ dẫn đến một kết quả là bản án, trong đó có hình phạt (thí dụ bị đền tiền) thì bên phải đền sẽ tìm cách thay đổi hình phạt này. Muốn thế họ phải bác bỏ điều luật được áp dụng. Mà muốn bác bỏ điều luật, thì họ chỉ có cách bác bỏ sự kiện. Điều luật thì rành rành ra đấy; có gì mà cãi nhau (có chăng chỉ là giải thích nó rộng hay hẹp)! Do đó, hai bên phải cãi nhau về sự kiện. TDPL giúp bạn phân tích các sự kiện sẽ dẫn chiếu đến điều luật tương ứng trong đó có ấn định chế tài, tức là đưa ra giải pháp. Như bạn sẽ thấy trong Chương hai, từ những gì bạn đang có hiện nay, nếu muốn làm luật sư thì bạn phải có vài sự thay đổi lớn trong cách suy nghĩ của mình. Tôi gọi đó là tiếp cận và vận dụng luật. Chỉ khi ấy bạn mới TDPL một cách nhanh chóng và chính xác. III. Đặc điểm của TDPL TDPL có hai đặc điểm là (i) tìm câu trả lời bằng cách đặt câu hỏi và (ii) đầu óc nắm luật, nhưng việc cần làm là đi tìm và phân tích sự kiện (facts). A. Tìm câu trả lời bằng cách đặt câu hỏi Thân chủ tìm đến luật sư thì thường nhờ bạn làm một trong hai việc chính: - Thứ nhất là bào chữa ở tòa hay một cơ quan tài phán nào đó vì họ bị khiếu tố, bị triệu tập, hoặc họ làm ngược lại đối với ai. Loại việc này ta gọi là giải quyết tranh chấp tại pháp đình. Công việc của bạn thường là bảo vệ, bào chữa, hiểu theo nghĩa rộng. - Thứ hai là cho ý kiến về một việc họ định làm, hay định làm mà muốn tránh các rắc rối về sau, hoặc tìm một giải pháp cho một cuộc tranh chấp nào đó mà không muốn đưa tới pháp đình, cái này gọi là tranh chấp ngoại tư pháp, hay tư vấn. Chia theo địa điểm thì chỉ có hai nhưng theo nội dung công việc thì có nhiều. Việc ở pháp đình được chia ra những vụ như hình sự, phi hình sự, dân sự, hành chính… Công việc ngoại tư pháp có nội dung rộng lắm, có thể bao gồm cả hình sự, phi hình sự, tư vấn, thậm chí giải đáp pháp luật, tuyên truyền pháp luật.

26 TƯ DUY PHÁP LÝ CỦA LUẬT SƯ Khi một vụ việc đến tay bạn thì luôn luôn là một tình huống khó khăn: bà vợ muốn ly dị; người mua không trả tiền; người chủ nhà không chịu trả tiền đặt cọc, đòi nợ… Tình huống ấy được trình bày cho bạn nhiều khi rõ ràng, nhiều khi rối mù và tất cả kết tinh lại giống như một cái xoong nhôm méo mó đặt ngay trước mặt bạn. Bị giao “cái xoong méo mó”, bạn phải dùng TDPL gõ nó phẳng ra để có thể lấy cái nắp đậy lại. Cái xoong là vụ việc, cái nắp là luật điều chỉnh, TDPL giống như một cái búa nho nhỏ bạn dùng để gõ cái xoong. Khi nắp úp vào xoong được là bạn giải quyết được vụ án. Tuy nhiên, giải pháp đề nghị của bạn lại phải không bị đối phương bác bỏ (tức là người tranh chấp với thân chủ của bạn cùng luật sư của họ), và thuyết phục được những người khác như thẩm phán, viện kiểm sát… Trong khuôn khổ nêu trên, TDPL có một đặc điểm là khi thân chủ đến hỏi bạn, nhưng để trả lời họ thì trong đầu mình, bạn lại phải đặt ra các câu hỏi. Hỏi mình được, bạn mới có câu trả lời cho thân chủ! Xin nhớ nằm lòng điều này: TDPL là luôn luôn đặt câu hỏi. Bạn sẽ hỏi tôi: “Tại sao thân chủ đến hỏi, nhưng để trả lời thì trong đầu mình lại phải đặt câu hỏi?”. Thưa, vì vài lý do sau: - Một là hỏi để kiểm tra, để vặn vẹo một điều nào đó vừa được đưa ra hầu biết chắc nó đúng hay không. Thí dụ bạn nói với cô bạn: “Này, anh mày còn nợ tiền tao đấy nhé”. Đấy là một điều bạn vừa đưa ra. Cô bạn sẽ hỏi tiếp:” Có bằng chứng không?”. Bạn đưa tờ giấy ra. Cô ta sẽ hỏi tiếp: “Có thiệt giấy đó là của anh tao không?”. Bạn thấy đấy, các câu hỏi được đưa ra

Các vấn đề cơ bản 27 liên tiếp là để xác định món nợ có thật hay không. Do vậy, trong TDPL khi tìm ra CHMC thì câu đó sẽ bị vặn vẹo bằng các câu hỏi khác để đứng vững hay bị bác bỏ. - Hai, hỏi để nắm rõ. Nếu bạn nói: “Anh Ba và cô Lan là vợ chồng” – tức là bạn dùng một câu ở thể xác định – thì khi ấy, bạn chỉ nhìn nhận một sự thật, một sự kiện, và bạn không phải suy nghĩ gì thêm sau đó. Thế nhưng nếu bạn hỏi: “Anh Ba và cô Lan có là một đôi vợ chồng không?” thì bạn vừa nêu một câu hỏi, và bạn sẽ phải đi tìm câu trả lời. Bạn phải tìm xem họ có lập hôn thú không, ngày nào, ở đâu… Lúc nào thì bạn nêu câu hỏi kia? Thưa, không phải vì đôi vợ chồng kia đang sống hòa thuận với nhau, mà vì bà vợ đến nhờ bạn giúp ly dị; bởi ông chồng lăng nhăng. Là luật sư, bạn thường tiếp nhận… nghịch cảnh của người khác. Thí dụ này giúp bạn phân biệt “nghe để biết và hỏi để nắm rõ, hầu đưa ra giải pháp”. Trong công việc, luật sư phải thiên về việc sau. - Ba, một câu hỏi đưa ra sẽ buộc bạn phải suy nghĩ, phải tìm tòi để trả lời. Quá trình suy nghĩ là quá trình đi tìm sự thật. Và khi có một vụ tranh chấp, người ta phải đi tìm sự thật. Đó là lý do tại sao khi TDPL người ta đưa ra câu trả lời sau khi đã đặt nhiều câu hỏi. Thí dụ sau sẽ làm sáng tỏ điều đó. Cô em gái xinh xinh của bạn có một ông bồ, cô phân vân trong quyết định của mình là chấp nhận lời cầu hôn hay không và bèn đi hỏi ý kiến người khác. Khi cô hỏi mẹ, bà cụ có thể trả lời ngay là nên lấy hay không, theo kinh nghiệm và lòng thương con của bà. Câu trả lời của bà có thể là “lấy nó con sẽ khổ”. Cô bé hỏi, bà cụ trả lời ngay. Ấy nhưng, nếu cô ấy đi hỏi anh của đứa bạn mình là một luật sư thì ông ta không trả lời ngay mà sẽ hỏi: Anh ta đã cư xử với em như thế nào, anh ta thật hay dối với em; có hay đến trễ hẹn không. Đại khái là ông “điều tra” anh kia để đưa ra kết luận cho cô em là có nên lấy anh kia không. Bạn thấy đấy, ông luật sư không trả lời một cái bộp như bà mẹ! Họ bị “méo mó nghề nghiệp”. Cách TDPL không chỉ dành cho luật sư mà còn cho tất cả những ai phải vận dụng luật pháp để giải quyết một tình huống bị tranh chấp đang xảy ra, sao cho phù hợp với luật pháp. Họ đều bị người khác đưa cho một “cái xoong méo mó”; và để giải quyết, họ phải có “cái búa nho nhỏ”. Cái búa giúp gõ dần từng chỗ của cái xoong cho nó phẳng phiu. Chọn cách gõ nào để cuối cùng nó ăn khớp với cái nắp là tùy chức năng của mỗi người.

28 TƯ DUY PHÁP LÝ CỦA LUẬT SƯ Lấy thí dụ. Ông A và B là hàng xóm của nhau. Một hôm hai người cãi nhau. B bèn đập phá đồ đạc, cây kiểng của A ở trước cửa nhà. B làm hung hăng quá khiến A phải tìm cách cản lại. Con trai của A phụ với bố một tay. Sau khi đã ôm lại được một ít đồ, và vì tiếc của, họ đấm đá B cho đến khi chảy máu đầu. B bèn đi thưa cha con ông A về tội cố ý gây thương tích. Khi nội vụ ra tòa, A nhờ luật sư An trong tư cách bị cáo. B nhờ luật sư Ba với tư cách người bị hại. Kiểm sát viên K khởi tố. Thẩm phán T xét xử. Cả bốn người đều có “cái xoong méo mó”; tất cả đều có thể dùng “cái búa nhỏ”. Họ xem nội vụ trong những giai đoạn khác nhau và trả lời những câu hỏi như: A có gây thương tích cho B không hay vì ông ta ngã vào thềm hè? Mức thương tật là bao nhiêu? Mức chống cự thế nào và có thể tạo nên một sự phòng vệ chính đáng ở đây không?… Đó là các câu hỏi pháp lý và tiêu biểu cho cách gõ cái xoong. TDPL chỉ cách nêu lên các câu hỏi này. Khi có các câu trả lời thì mỗi người sẽ dùng chúng theo một cách khác nhau. Kiểm sát viên K lấy cơ sở để truy tố; luật sư An để bào chữa; luật sư Ba để buộc tội; thẩm phán T để kiểm nghiệm các lý lẽ các bên đưa ra hầu tuyên án. TDPL chỉ là một phương pháp, mà phương pháp thì có nhiều, người này dùng cái này, người kia dùng cái khác; nhưng TDPL giúp bạn tìm ra giải pháp khó bị đối phương tấn công nhất vì nó được làm theo phương pháp của luận lý học (logique). Đó là phương pháp giúp con người hiểu biết sự vật. Thế nhưng, như đã đề cập, dù là hay nhất nhưng chưa chắc giải pháp tìm ra luôn luôn được chấp nhận; vì con người có nhiều cách lựa chọn khác nhau cho một điều họ phải đương đầu. Thí dụ khi tranh chấp mà họ quyết định bỏ qua thì phương pháp có hay, giải pháp có hợp lý cũng chẳng có ý nghĩa gì với họ. B. Đầu óc nắm luật nhưng việc cần làm là đi tìm và phân tích các sự kiện Như tôi dã nêu, ở Học viện Tư pháp, bạn đã biết quá trình nghiên cứu của luật sư trong một vụ dân sự như sau: (i) Nghiên cứu toàn bộ hồ sơ vụ án; (ii) Đọc lướt qua toàn bộ hồ sơ; (iii) Ghi chép các sự kiện chính theo ngày tháng, theo nội dung sự việc, theo sự kiện;

Các vấn đề cơ bản 29 (iv) Sắp xếp và nghiên cứu các chứng cứ; (v) Suy nghĩ về phương hướng để tìm ra giải pháp giải quyết vụ án có lợi cho khách hàng của mình. (iv) Nghiên cứu hồ sơ do nguyên đơn cung cấp... (vii) Nghiên cứu hồ sơ do bị đơn cung cấp.”1 Việc (i), (ii) và (iii) đều quy về một mục đích là tìm hiểu đầy đủ vụ việc. Việc (iv) là sắp xếp và nghiên cứu các chứng cứ; việc (v) là suy nghĩ phương hướng. TDPL bao trùm tất cả các bước này, có chỗ nhiều, có chỗ ít, nhưng điều quan trọng là nó dẫn bạn đi một bước xa hơn và sâu hơn là đi tìm SKMC và đặt CHMC – tức là đi tìm vấn đề pháp lý của vụ việc để giải quyết nó. Đi tìm vấn đề pháp lý của vụ việc là đi tìm các sự kiện, rồi phân tích nó để xem có thể áp nó vào luật nào nằm trong ngành luật điều chỉnh vụ việc được xem xét. Sự kiện trong một vụ việc thì có nhiều, cho nên khi TDPL là đi tìm sự kiện quan trọng nhất nằm trong vụ việc. Vì phải đi tìm sự kiện bằng cách phân tích nên TDPL coi chứng cứ là công cụ hỗ trợ các sự kiện. Chứng cứ và sự kiện khác nhau. A không trả tiền mua hàng cho B là vi phạm hợp đồng. Nó là một sự kiện: việc không trả tiền. Việc ấy được chứng minh bằng thư thúc nợ của B gửi cho A mà A đã không trả lời. Đấy là chứng cứ. Một sự kiện có thể được thể hiện bằng một hay nhiều chứng cứ và ngược lại. Trong TDPL, người ta phân tích sự kiện trước để có SKMC và CHMC; sau đó rồi mới kiểm tra chứng cứ sau; dẫu cho chứng cứ có thể tiêu hủy sự kiện. Để làm rõ hơn điểm này xin nêu một thí dụ. Một thủ phạm đâm nạn nhân chết bằng 10 nhát dao. Khi xem xét vụ này người ta sẽ bàn về 10 nhát dao để bảo rằng vụ ấy dã man. Đó là bàn về việc “đâm người” và “kết tội”. Làm xong xuôi rồi người ta mới hỏi chứng cứ đâu và con dao được đem ra. Con dao là chứng cứ. Nó không cho biết nó đã đâm nạn nhân 10 lần! Bạn cũng đã biết yêu cầu “sự thật khách quan, đầy đủ và toàn diện” trong một vụ án. Đạt được yêu cầu này thì chỉ có các vị chánh án mới làm được vì trước mặt họ là hai bên tranh chấp; mỗi bên trình bày nội vụ theo cái nhìn của họ; thường là trái ngược nhau. Nhiệm vụ của luật sư khi bảo 1 Trong các bước nêu trên, khi bạn đã tìm hiểu đầy đủ rồi thì không cần phải nghiên cứu lại hồ sơ do ai đó cung cấp; bạn phải làm việc ấy trước khi “sắp xếp và nghiên cứu các chứng cứ”.

30 TƯ DUY PHÁP LÝ CỦA LUẬT SƯ vệ thân chủ là đưa ra lý lẽ của mình để bác bỏ sự phản đối của bên kia nên họ chỉ “toàn diện và đầy đủ” về

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 12

T
Trần Thế VIP 12· 10 phút trước

Truyện này đọc cuốn dã man! Đoạn cao trào xử lý quá mượt, đề cử ae đọc mạnh nhé.

L
Lâm Phong VIP 3· 1 giờ trước
⚠️ Bình luận có chứa Spoil (Bấm để xem)

Ai đọc rồi cho hỏi đoạn sau nhân vật chính có gặp lại sư phụ không vậy?

B
Bạch Tiểu Thuần· 3 giờ trước

Web đọc mượt thật sự, không có quảng cáo nhảy lung tung như mấy web khác. 10 sao!