Tư Duy Chiến Lược

phần chệnh lệch.

phần chệnh lệch.

phần chệnh lệch. Như vậy là trừ khi bạn đưa tổng số đóng góp đến mức T, bạn không thể đóng nhiều hơn sv là giá trị của dự án sau một kỳ nữa. Mặt khác, nếu bạn đóng góp một số tiền là X ngày hôm nay, khi đó bạn sẽ nhận được giá trị V-x, chính là giá trị ngày hôm nay trừ đi số tiền đóng góp của bạn. Sẽ là đáng để nâng tổng số tiền đóng góp lên T ( đô la) nếu như số tiền cần thiết là X < (l-O) V; hay số tiền đóng góp phải ít hơn số tiền lãi bị bỏ qua. Bây giờ thì hai bên có thể nhìn xa hơn và suy luận rằng một khi số tiền đóng góp tăng đến T- (l-O)V thì mục tiêu sẽ đạt được ngay trong kỳ tiếp theo. Nếu tổng số tiền cam kết đủ gần với số tiền trên thì đáng để nâng tiếp nó lên đến tổng đó và nhanh chóng kết thúc cuộc vận động quyên góp. Hãy chú ý rằng ở đây

368 không có động cơ khuyên khích để nâng tổng đóng góp lên nhiều hơn mức đó bởi như vậy chỉ làm giảm phần đóng góp của bên tiếp theo mà không mang lại khoản tiết kiệm nào cho bản thân. Bạn cũng không sẵn lòng đưa ngay tổng đóng góp lên mức T bởi nó cần nhiều tiền hơn là chi phí của việc chậm kết thúc thêm một kỳ nữa. Như vậy nếu bạn đóng góp số tiền y để đưa tổng đóng góp lên mức T-(1-O)V, thu hoạch của bạn sẽ là 5(V- y): sau một kỳ nữa, bạn sẽ nhận được thu hoạch V và trả cam kết của mình là y. Bằng cách khác, bạn có thể chờ thêm một kỳ và hoán đổi vị trí. Khi đó người kia sẽ đưa ra mức đóng góp để nâng tổng đóng góp lên T-(1-O)V cho bạn, trong trường hợp đó sẽ dáng để bạn đưa ra mức đóng góp X=(1-O)V. Thu hoạch của bạn sẽ là: O2[V-(1-O)V] = O3V; Đây là giá trị của sự kết thúc cuộc vận động quyên góp trong hai kỳ trừ đi phần đóng góp của bạn. So sánh giá trị đóng góp với giá trị của sự chờ đợi, chúng ta sẽ thấy đáng để đóng góp hơn là chịu đựng sự chậm trễ thêm một kỳ nữa với điều kiện: y < (1-S2)V Chú ý rằng các tính toán của chúng tôi không quan tâm đến số tiền mà mỗi người đã đóng góp. Lý do ở đây là những người đóng góp luôn hướng về phía trước để xem họ phải đóng góp thêm bao nhiêu nữa; các lần cam kết đóng góp trước không liên quan gì đến tính toán này bởi đằng nào chúng cũng sẽ phải trả rồi và do vậy được trừ khỏi tính toán chi phí - lợi ích. Cho đếm nay chúng ta đã hình dung được bao nhiêu tiền sẽ được quyên góp trong hai kỳ cuối. Áp dụng cùng một kiểu suy luận cho phép chúng ta tiếp tục lùi lại và tính xem cuộc vận động sẽ phải mất bao nhiều thời gian để đạt được mục tiêu của mình và mọi người sẽ sẵn lòng đóng góp bao nhiêu tai mỗi giai đoan để không làm chậm trễ quá trình. Tổng tiềm năng đóng góp là tổng của các số tiền này. Cụ thể nó bằng: (l-Ô)V + (1-62)V +6(1-Ô2)V + Ô2(1-Ô2)V +... = 2V Chú ý rằng hai biểu thức đầu là mức đóng góp trong hai kỳ cuối cùng như đã tính toán ở trên. Điều đáng nói là tổng tiềm năng đóng góp là không phụ thuộc vào tỷ lệ lãi suất ô. số tiền tối đa thu được bằng tổng mức đánh giá của hai người đóng góp. Cũng có thể khiến một cá nhân đóng góp toàn bộ giá trị của họ cho dự án. Điều này gợi ý rằng kết cục của việc quyên góp này phản ánh đúng giá trị mà những người đóng góp gán cho dự án.

369 HẠN CHẾ CỦA SỰ TÁI PHÂN PHỐI Các hệ thống chính trị của nhiều nước coi bình đẳng kinh tế như nguyên lý cho các chính sách của mình. Hầu hết tất cả các chính phủ đều áp đụng một hình thức đánh thuế tái phân phối nào đó. Chẳng hạn ở Mỹ các mức thuế thu nhập cá nhân cao nhất vượt quá 70% trong các thập kỷ 60 và 70 của thế kỷ XX, trong khi ở Thụy Điển mức thuế cận biên có thể vượt trên 100%. Tuy nhiên ý tưởng gần đây được nhiều người đồng tình là mức thuế cao sẽ tiêu diệt các động cơ khuyến khích làm việc. Do vậy, vào thập kỷ 80 các mức thuế cao nhất đã giảm đáng kể cả ở Mỹ lẫn ở quốc gia thiên về chủ nghĩa quân bình Thụy Điển. Động cơ trước hết để giảm thuế chính là tác động triệt tiêu của thuế đối với các động cơ khuyến khích làm việc. Trong khi hiện nay động cơ tích luỹ của cải ngày càng tăng, sự bất bình đẳng về thu nhập cũng tăng theo. Tất nhiên có rất nhiều lý do dẫn đến bất bình đẳng và thuế thu nhập không phải là công cụ sắc bén để tấn công vào triệu chứng, càng không phải vào các can do của nó. Hãy suy nghĩ về các nguyên nhân khác nhau của bất bình đẳng và cách chúng ảnh hưởng đến việc thiết kế một hệ thống thuế lý tưởng như thế nào. Đâu là các vấn đề trong việc vận hành hệ thống lý tưởng này? Nó được so sánh với hệ thông hiện tại như thế nào? THẢO LUẬN Chúng ta bắt đầu bằng việc xem xét một số nguyên nhân dẫn đến bất bình đẳng kinh tế. Trước hết, đó là sự may mắn. Có hai loại may mắn. Một số người được sinh ra với một số tài năng hay ưu thế bẩm sinh nào đó vượt trên những người khác. Ngay cả trong số những người khởi đầu như nhau về các khía cạnh này thì số phận cũng ưu ái nỗ lực của một số người này hơn những người khác. Nhiều người nghĩ rằng có gì đó không công bằng trong sự bất bình đẳng phát sinh từ sự may mắn và việc đánh thuế để làm cân bằng lại các ưu thế được coi là một sự hỗ trợ tương đối tổng quát. Tiếp theo, đó là sự nỗ lực; một số người làm việc năng nổ hơn hoặc chăm chỉ hơn những người khác. Khi mọi người thể hiện sự đồng tình với những lời than phiền rằng đánh thuế sẽ thủ tiêu các động cơ làm việc, họ luôn hàm ý là các dộng cơ tạo ra nỗ lực. Ai sẽ còn làm việc năng nổ nếu như chính phủ đang đứng đó để sẵn sàng lấy đi

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 151

T
Trần Thế VIP 12· 10 phút trước

Truyện này đọc cuốn dã man! Đoạn cao trào xử lý quá mượt, đề cử ae đọc mạnh nhé.

L
Lâm Phong VIP 3· 1 giờ trước
⚠️ Bình luận có chứa Spoil (Bấm để xem)

Ai đọc rồi cho hỏi đoạn sau nhân vật chính có gặp lại sư phụ không vậy?

B
Bạch Tiểu Thuần· 3 giờ trước

Web đọc mượt thật sự, không có quảng cáo nhảy lung tung như mấy web khác. 10 sao!

phần chệnh lệch. - Tư Duy Chiến Lược | DocTruyen.vip | DocTruyen.vip