phần vượt trên 10 triệu đô la của mức giá đối thủ tốt nhất chào. Tóm lại, việc tăng giá thầu của bạn không mang lại lợi ích gì trong hai trường hợp và mang lại cho bạn một chút thiệt hại trong một trường hợp. Do vậy bạn có
319 chiến lược lấn át, cụ thể là chào thầu với giá đúng bằng chi phí thực của bạn. Chúng ta có thể xem xét vấn đề này theo một cách khác để có một ý niệm mới hữu ích về cơ chế này. Khi bạn nâng giá thầu của mình từ 10 triệu đô la lên 11 triệu đô la, bạn đang gây ra một chi phí cho xã hội, cụ thể là tạo ra khả năng hợp đồng được trao cho một công ty có chi phí - sử dụng nhiều nguồn lực - cao hơn của bạn. Một lần nữa ở đây, chi phí một người gây ra cho người khác được gọi là chi phí ngoại sinh. Một cơ chế khuyến khích tốt phải thuyết phục được bạn tính đến chi phí xã hội thực từ hành động của mình, kể cả chi phí ngoại sinh mà bạn áp đặt cho người khác. Điều này có thể làm được bằng cách lấy của bạn chi phí đó hoặc trả tiền cho bạn để tránh nó. Trong ví dụ đang trình bày, cách thứ hai đang được áp dụng. Việc bạn không nâng giá chào thầu của bạn đã bảo vệ xã hội khỏi những rủi ro chịu những chi phí không cần thiết và bạn được thưởng ở mức giá cao hơn mức chi phí. Điều này cũng giống như cơ chế khuyến khích thứ nhất mà chúng tôi đã mô tả cho công ty liên doanh. Trong trường hợp này, giải pháp hiệu quả là để công ty có giá thấp nhất nhận được hợp đồng. Việc chấp nhận dự án đã tránh cho công ty với chi phí thấp tiếp theo không phải chịu những chi phí của mình. Sự giải cứu này là ngoại sinh tích cực. Khi người thắng thầu được trả cho việc chịu các chi phí ngoại sinh này, họ có động cơ để nói sự thật và quyết định có hiệu quả sẽ được đưa ra. Nhưng khả năng để luận ra các chi phí thực từ những người chào thầu không phải là không có giá. Bộ Giao thông vận tải đã phải trả cho nhà thầu có giá thấp nhất nhiều hơn chi phí của họ, chính là chi phí của người chào giá thấp thứ hai. Mọi mặt hàng đều có thể được bán cũng như mua bằng cách sử dụng kiểu đấu giá này. Mỗi cá nhân đặt giá của mình trong một phong bì được niêm phong và người chào giá cao nhất sẽ được bán cho món hàng với giá của người chào hàng cao thứ nhì. Quy trình này được William Vickrey, nhà kinh tế trường Đại học Tổng hợp Columbia phát triển và do vậy đôi khi còn được gọi là đấu giá kiểu Vickrey hay đấu giá kiểu những người chơi tem (các tạp chí tem sử dụng thể thức này để đấu giá tem thông qua thư bưu điện). Một lần nữa, mỗi cá nhân sẽ phải đưa ra mức giá đúng của minh. Chào cao hơn giá trị của mình sẽ rủi ro thua cuộc một cách không đáng cổ, trong khi chào giá thấp hơn cũng không tiết kiệm thêm tiền cho bạn và vẫn có rủi ro đánh mất cơ hội khi bạn vẫn sẩn sàng trả theo mức giá cao thứ hai. Thực tế, quy trình một bước này sẽ phải dẫn đến kết quả cuối cùng đúng như một cuộc đấu giá truyền thống của Anh. Trong đấu giá kiểu Anh, tất cả người đâu giá ở trong cùng một phòng và người tổ chức đấu giá xướng lên lần lượt những
320 mức giá cao hơn. Quá trình đấu giá diễn ra cho đến khi chỉ còn lại một người duy nhất tiếp tục đấu giá - gọi một lần, nhắc lại lần hai và mặt hàng được bán. Người tham gia đấu giá áp chót sẽ chỉ rút lui khi giá gọi vượt quá mức định giá của anh ta. Như vậy, người đánh giá mặt hàng cao nhất sẽ phải chiến thắng và anh ta trả mức giá bằng với giá trị của người trả giá cao nhất tiếp theo. Nhưng đó cũng chính là kết quả cuối cùng của đấu giá kiểu Vickrey! So sánh đấu giá Vickrey với cách thức chuẩn mực hơn là đấu giá niêm phong - khi người chào giá cao nhất thắng thầu và trả theo giá thầu của anh ta, hay nếu đấu giá được sử dụng để bán một hợp đồng, người bỏ thầu giá thấp nhất được trao hợp đồng và thanh toán theo đúng giá bỏ của anh ta. Cách nào là tốt hơn đối với người bán (hay người mua)? Điều này rất quan trọng nhưng sự thật là, trung bình mà nói, cả hai hệ thống dẫn đến chính xác cùng một kết quả cuối cùng. Trong trường hợp Chính phủ nhận các bản chào giá cho dự án làm đường, ưu thế cho ngân sách khi trả cho giá thầu thấp nhất thay vì giá thầu thấp thứ hai sẽ mất khi chúng ta hiểu được các nhà thầu phản ứng lại điều này một cách có chiến lược như thế nào, chính là nâng giá các bản chào giá của họ. Người chào giá thấp nhất thắng và được trả giá bằng với chi phí của chính anh ta, nhưng đây lại là giá đã bị nâng lên. Một sự phân tích toán học toàn diện về vấn đề này chỉ ra rằng tác động ngân sách của việc chào thầu có nâng giá trong cách đấu thầu thông thường cũng chính xác như việc trả người thắng thầu giá chào của người kế tiếp. Do đó, hệ thống như chúng ta mô tả không tạo ra chi phí cao hơn cách thông thường. Một lý do trực giác cho sự tương đương này là cả hai cách thức đấu thầu cần phải luôn dẫn đến cùng một kết cục có hiệu quả: người có giá chào thấp nhất phải luôn thắng. Nhưng hiệu quả chỉ xuất hiện chỉ khi mọi người tính đến cả các chi phí ngoại sinh mà họ áp đặt cho người khác. Do vậy, bản chào giá tối ưu của một công ty là chi phí dự tính của đối thủ cạnh tranh tốt nhất sau đó có điều kiện thắng thầu. Điều này giống như câu chuyện cân bằng ngân sách của các động cơ khuyến khích liên doanh; trong trường hợp này, công ty thắng sẽ đấu giá theo chi phí ngoại sinh dự tính hoặc trung bình thay vì các chi phí ngoại sinh thực tế.
321 BÀI TẬP TÌNH HUỐNG SỐ 12: RỦI RO CỦA CHIẾN THẮNG Một trong những điểm không bình thường của đấu giá niêm phong kiểu Vickrey là ở chỗ người thắng thầu không biết anh ta phải trả bao nhiêu cho đến khi cuộc đấu giá kết thúc và anh ta thắng thầu. Hãy nhớ rằng trong đấu giá Vickrey người thắng thầu chỉ phải trả theo mức giá của người bỏ giá thầu cao thứ hai. Ngược lại, trong một cuộc đấu giá niêm phong thông thường không có sự thiếu chắc chắn như vậy bởi người thắng thầu trả giá của chính họ. Bởi mỗi người đều biết bản chào giá của chính mình, không ai còn nghi ngờ số tiền họ sẽ phải trả trong trường hợp thắng thầu. Việc tồn tại sự thiếu chắc chắn gợi ý rằng chúng ta có thể muốn xét đến tác động của rủi ro lên chiến lược của các bên tham gia đấu thầu. Phản ứng điển hình đối với sự thiếu chắc chắn là tiêu cực: người tham gia thầu bị bất lợi hơn trong đấu giá Vickrey bởi họ không biết mình sẽ phải trả bao nhiêu tiền khi đưa ra bản chào giá để thắng. Liệu có hợp lý không nếu người đấu thầu sẽ đối phó với sự thiếu chắc chắn hay rủi ro này bằng cách hạ giá bản chào giá của mình thấp hơn giá trị thực của nó? THẢO LUẬN Đúng là những người tham gia đấu thầu không thích sự thiếu chắc chắn trong việc họ sẽ phải trả bao nhiêu tiền nếu họ thắng. Thực tế mỗi người đều bị thiệt hơn. Tuy nhiên, mặc dù rủi ro, những người tham gia vẫn bỏ thầu theo giá trị thực của họ. Nguyên nhân là vì đấu thầu trung thực là chiến lược lấn át. Một khi giá bán còn thấp hơn giá trị của hàng hóa thì người đấu thầu vẫn còn muốn mua nó. Chỉ có một cách để đảm bảo rằng bạn có thể chiến thắng bất cứ khi nào mức giá thấp hơn giá trị của bạn là bỏ thầu theo giá trị thực. Trong đấu giá Vickrey, đặt giá theo giá trị thực sự không làm bạn phải trả nhiều tiền hơn – trừ khi 1 ai đó khác trả giá cao hơn bạn, trong trường hợp đó bạn có thể phải tăng giá thầu của bạn cho đến khi giá bán cao hơn mức giá của bạn. Rủi ro trong đấu giá Vickery là có giới hạn; người chiến thắng không bao giờ phải trả nhiều hơn mức giá chào của anh ta. Trong khi tồn tại sự thiếu chắc chắn về việc người thắng thầu sẽ phải trả bao nhiêu, điều này vẫn còn hơn 1 tin tốt lành. Ngay cả khi tin tốt lành có thể khác nhau, chiến lược tốt nhất là thắng cuộc đấu giá bất cứ khi nào bạn có lợi. Điều này có nghĩa là chào theo đúng giá của bạn. Bạn không bao giờ bỏ lỡ cơ hội có lợi và bất cứ lúc nào bạn chiến thắng bạn đều chỉ phải trả thấp hơn giá trị thực của bạn.
322
323 13. CÁC BÀI TẬP TÌNH HUỐNG KHÁC
324 ĐỨNG NÚI NÀY TRÔNG NÚI NỌ Sự thật không thể tránh khỏi trong trò chơi cá cược là thu hoạch của người này là tổn thất của người khác. Do vậy, điều đặc biệt quan trọng là cần phải xem xét trò chơi từ quan điểm của người chơi kia trước khi chấp nhận chơi. Bởi họ sẵn lòng cá cược nên chắc chắn họ đã dự tính rằng họ sẽ thắng, điều này đồng nghĩa với việc họ dự tính bạn sẽ thua. Một ai đó chắc chắn sai, nhuhg sẽ là ai? Bài tập tình huống này xem xét một vụ cá cược có vẻ như có lợi cho cả hai bên. Điều này không thể đúng, nhưng sai lầm là ở chỗ nào? Có hai phong bì, trong mỗi phong bì có một số tiền nào đó. Các số tiền trong phong bì có thể là 5 đô la, 10 đô la, 20 đô la, 40 đô la, 80 đô la hoặc 160 đô la và tất cả mọi người đều biết điều đó. Tiếp theo, người ta cho biết rằng số tiền ở một trong hai phong bì gấp đôi số tiền ở phong bì kia. Hai phong bì đó sau đó được dán kín lại và chúng ta đưa một chiếc cho Ali, chiếc kia cho Baba. Sau khi cả hai phong bì đã được mở ra (nhưng số tiền bên trong vẫn được giữ bí mật) người ta cho AIi và Baba một cơ hội để đổi phong bì cho nhau. Nếu cả hai đều muốn đổi thì người ta sẽ để cho họ đổi. Giả sử Baba mở phong bì của mình và thấy trong đó có 20 đô la. Cậu ta sẽ suy luận như sau: Ali có khả năng nhận được 10 đô la cũng như 40 đô la. Như vậy, phần thưởng dự tính của ta sẽ là (10+40)/2 = 25 đô la > 20 đô la. Đối với cá cược số tiền nhỏ như thế này, rủi ro không lớn, như vậy ta sẽ có lợi nếu đổi. Bằng cách lập luận tương tự, Ali cũng muốn đổi dù cô ta nhìn thấy số tiền nào đi nữa: là 10 đô la (vì cô ta sẽ suy luận rằng khi đó Baba nhận được hoặc 5 đô la, hoặc 20 đô la và trung bình cộng của hai khả năng này là 12,5 đô la) hay 40 đô la (bởi cô ta tính toán trung bình cộng giữa 20 đô la và 80 đô la sẽ là 50 đô la). Ở đây, rõ ràng có chỗ sai, cả hai bên không thể cùng được lợi hơn bằng cách hoán đổi phong bì bởi số tiền trong mỗi phong bì không thể tăng lên nhờ hoán đổi. Nhưng vậy thì suy luận này sai ở đâu? Ali và/hoặc Baba có nên tự đề nghị đổi phong bì không? THẢO LUẬN Việc hoán đổi sẽ không bao giờ xảy ra nếu Ali và Baba đều là những người biết tư duy có lý trí và đều nghĩ rằng người kia cũng lý trí như vậy. Sai lầm trong suy luận ở đây nằm trong giả thiết cho rằng việc người kia sẵn sàng đổi phong bì không hề tiết lộ cho chúng ta một thông tin nào. Chúng ta sẽ giải quyết vấn đề
325 này bằng cách nhìn sâu hơn vào quá trình trong đó mỗi bên suy luận về những suy luận của bên kia. Trước hết, chúng ta xem xét suy luận của Baba từ góc độ của Ali. Sau đó, chúng ta sẽ đứng từ góc độ của Baba để hình dung xem Ali sẽ có thể nghĩ như thế nào về cậu ta. Cuối cùng, chúng ta sẽ quay lại với Ali và xem liệu cậu ta nghĩ rằng Baba đang nghĩ gì về cậu. sử dụng ví đụ này, các bước sẽ dễ theo dõi hơn. Giả sử rằng Ali mở phong bì của mình và thấy 160 đô la trong đó. Trong trường hợp này, Ali đã biết chắc là mình nhận được số tiền lớn hơn và sẽ không muốn đổi. Bởi vì chắc chắn Ali sẽ từ chối đổi phong bì khi cô nhận được 160 đô la nên Baba cần phải từ chối không đổi phong bì khi cậu ta nhận thấy mình nhận được 80 đô la bởi biết rằng Ali sẽ chỉ muốn đổi nếu cô ta đang có số tiền 40 đô la, trong trường hợp đó Baba sẽ chọn giữ lại 80 đô la ban đầu của mình. Nhưg nếu Baba không đổi khi cậu có 80 đô la thì khi đó Ali cũng không nên đổi phong bì khi cô ta chỉ nhận được 40 đô la bởi việc trao đổi sẽ chỉ xảy ra khi Baba có 20 đô la. Bây giờ thì chúng ta đã đến rất gần tình huống rồi. Nếu All không muốn hoán đổi phong bì khi cô ta có 40 đô la thì đổi chác như vậy cũng sẽ không có lợi gì khi Baba tìm thấy đồng 20 đô la trong phong bì của mình, và cậu ta không muốn đổi 20 đô la để lấy 10 đô la. Người duy nhất sẵn sàng hoán đổi là người chỉ tìm thấy 5 đô la trong phong bì của mình, nhưng dĩ nhiên khi đó bên kia sẽ lại không đời nào muốn đổi.
326 CUỐI CÙNG PHẢI LÀ ĐẦU TIÊN Chính phủ Mỹ có một vấn đề lớn khi cố gắng khuyến khích vài triệu thanh niên đăng ký đi quân dịch. Việc không tuân thủ ở quy mô lớn trong dân chúng khiến cho việc trừng phạt tất cả những người phạm luật là không thể. Dù vậy chính phủ vẫn có một lợi thế lớn: họ là người đề ra quy tắc. Để thấy lợi thế của việc đi trước, hãy hình dung chính phủ chỉ được phép trừng phạt một người trốn đăng ký nghĩa vụ quân sự. Làm thế nào họ có thể sử dụng lời đe doạ duy nhất này để khiến tất cả mọi người đều phải đi đăng ký? THẢO LUẬN Chính phủ thông báo rằng họ sẽ phạt những người trốn nghĩa vụ theo thứ tự bảng chữ cái. Người có họ là Aaron biết rằng anh ta sẽ là người duy nhất bị phạt nếu anh ta không ra đăng ký. Sự chắc chắn bị phạt này đủ để khuyến khích anh ta đi đăng ký. Khi đó, những người có họ là Abram sẽ kết luận rằng bởi những người họ Aaron đã chắc chắn sẽ đăng ký rồi nên họ chắc chắn sẽ là người bị sờ đến nếu không đăng ký. Cứ như thế cho đến cuối bản danh sách với Zhukov và Zweibel. Một luật sư có thể tranh luận rằng việc chỉ trừng phạt một người căn cứ theo thứ tự tên của anh ta trong bảng chữ cái là vi phạm hiến pháp. Nhưng thực ra bảng chữ cái không có gì là đặc biệt ở đây. Điểm mấu chốt là thứ tự trừng phạt được xác định trước. Chọn ngẫu nhiên hay lấy theo thứ tự ngày sinh, hoặc số bảo hiểm xã hội cũng như nhau cả. Chỉ rất ít sự trừng phạt có lựa chọn cũng có thể thành công trong việc giữ cho tất cả mọi người phải đứng đúng vào hàng và cũng rẻ hơn nhiều so với việc đưa ra mức lương thị trường để lôi kéo đủ số lượng và chất lượng cho việc tuyển dụng. Chẳng hạn, nếu Quốc hội hiểu nhầm vẻ bên ngoài và bản chất thực bên trong, họ có thể cấm hội đồng tuyển quân sử dụng thứ tự trong bảng chữ cái như một phương tiện để chọn người bị phạt đầu tiên nhưng lại để ngỏ các phương pháp có tác dụng tương đương khác. Cái cần phải dừng là cấm không được tuyên bố trước bất kỳ thứ tự nào. Khi những người tham gia vào một cuộc chơi được sắp xếp theo một thứ tự nào đó, thường là có thể dự đoán được người ở đầu hàng (hay cuối hàng) sẽ làm gì. Sự hiểu biết này sẽ ảnh hưởng đến hành động của người kế tiếp và hành động của người kế tiếp ảnh hưởng đến người thứ ba và cứ như vậy cho đến hết dãy.
327 Câu chuyện chúng tôi vừa kể nghe có vẻ hơi cực đoan. Cho đến khi chúng ta đến được Zhukov thì chắc chắn đã có ai đó không đăng ký và đã bị phạt. Những người họ Zhukov thực ra có thể không cần phải lo lắng. Với rất nhiều cá nhân như vậy, có thể dự tính sẽ có một số nhỏ sẽ bị để lọt. Điểm quan trọng ở đây cần nhớ là số người bị phạt không nhất thiết phải gần với số người cần khuyến khích tuân thủ. Năng lực (và quyết tâm) để bỏ tù chỉ một nghìn người chống đối cũng đủ làm nản lòng vài triệu người định làm như vậy.
328 ĐẤU SÚNG TAY BA Ba kẻ đối kháng, Larry, Mo và Curly, tham gia vào một cuộc đấu súng tay ba. Có hai vòng đấu. Trong vòng đầu, mỗi người chỉ được bắn một phát: Larry bắn đầu tiên, tiếp đến là Mo và sau cùng là Curly. Sau vòng đầu, những người sống sót sẽ được bắn phát thứ hai, vẫn bắt đầu từ Larry, tiếp đến Mo và cuối cùng là Curly. Đối với mỗi kẻ đâu súng thì kết cục tốt nhất là trở thành người sống sót duy nhất. Tiếp đó là trở thành một trong hai người sống sót. Kết cục tốt thứ ba là khi không có ai bị chết. Tất nhiên xấu nhất là khi chính mình bị giết. Larry bắn rất tồi, chỉ có 30% cơ hội bắn trúng người mà anh ta nhắm bắn. Mo bắn khá hơn nhiều, độ chính xác. có thể lên đến 80%. Curly là thiện xạ, anh ta chưa bao giờ bắn trượt. Chiến lược tối ưu của Larry trong vòng bắn đầu tiên là gì? Ai có cơ hội sống sót lớn nhất trong cuộc đấu này? THẢO LUẬN Mặc dù nhìn xa hơn và suy luận ngược về là cách an toàn để giải quyết vấn đề này, chúng ta cũng có thể thử sử dụng một số suy luận thuận đi (về phía trước) ở đây. Chúng ta sẽ bắt đầu bằng việc xem xét lần lượt từng lựa chọn của Larry. Điều gì sẽ xảy ra nếu Larry nhắm bắn Mo? Còn nếu Larry bắn Curly thì sao? Nếu Larry bắn Mo và bắn trúng thì anh ta đã khai tử cho chính bản thân mình bởi tiếp theo là đến lượt Curly bắn mà anh ta thì không bao giờ bắn trượt. Curly sẽ không bỏ qua cơ hội bắn Larry bởi điều này dẫn đến kết cục tốt nhất cho anh ta. Như vậy lựa chọn bắn Mo của Larry là không hề hấp dẫn chút nào. Nếu Larry bắn Curly và bắn trúng thì tiếp theo sẽ đến lượt Mo và Mo sẽ nhằm bắn Larry. Do vậy, nếu Larry bắn trúng Curly thì cơ hội sống sót của anh ta sẽ chỉ còn 20% (chính là xác suất bắn trượt của Mo). Cho đến giờ chưa có lựa chọn nào của Larry là thực sự hấp dẫn. Trên thực tế, chiến lược tốt nhất cho Larry là anh ta bắn thẳng lên trời! Trong trường hợp này, tiếp đó sẽ là Mo bắn Curly và nếu anh ta bắn trượt, đến lượt mình Curly sẽ bắn và giết chết Mo. Khi đó, vòng bắn thứ hai bắt đầu và lại đến lượt Larry bắn trước. Bởi vì chỉ còn lại một người nữa nên anh ta sẽ có ít nhất 30% cơ hội để sống sót bởi đó chính là xác suất để anh ta bắn trúng đối thủ còn lại của mình.
329 Bài học ở đây là một chú cá bé có thể làm tốt hơn nếu bỏ qua cơ hội đầu tiên trở thành sao biển. Chúng ta thấy điều này cứ bốn năm một lần vào thời điểm vận động bầu cử tổng thống ở Mỹ. Khi có một số lượng lớn các đối thủ tranh cử, người có triển vọng nhát trong cả nhóm thường dễ bị trật ray bởi những cuộc tấn công dồn dập từ phía các chú cá cỡ trung bình (những ứng cử viên có triển vọng trung bình). Sẽ là một lợi thế khi có thể chờ đợi và chỉ bước ra ánh đèn sau khi những người khác đã đánh bật nhau và chính bản thân họ ra khỏi cuộc chạy đua. , Như vậy, cơ hội sống sót của bạn không phải chỉ phụ thuộc vào năng lực của chính bạn mà còn vào người mà bạn đang đe doạ. Một người chơi kém không đe doạ được ai có thể rốt cuộc lại sống sót nếu những kẻ mạnh hơn giết nhau trước. Curỉy mặc dù là thiện xạ nhưng lại có cơ hội sống sót thấp nhát - chỉ 14%. Mo có đến 56% cơ hội sống sót trong khi chiến lược tối ưu của Larry có thể chuyển cơ hội bắn trúng 30% của anh la thành 41,2% cơ hội chiến thắng. Các cuộc đấu súng ngày nay diễn ra giữa một bên làT. Boone Pickens, chuyên gia về thâu tóm mua lại các công ty và bên kia là ban giám đốc công ty mục tiêu xung quanh vấn đề ai sẽ là người kiểm soát hội đồng quản trị. Câu chuyện tiếp theo đây của chúng tôi kể về một công ty tìm cách đi trước đón đầu trong một cuộc đấu thầu tóm thông qua việc sử dụng viên thuốc độc. Nhưng mọi sự không phải luôn diễn ra như kế hoạch, đặc biệt là nếu bạn không nhìn đủ xa về phía trước.
330 TẤN CÔNG CÁ MẬP Trong những năm gần đây các công ty lớn đã áp dụng nhiều phương pháp mới và sáng tạo, thường được gọi với cái tên là “công cụ chống cá mập” để ngăn cản các nhà đầu tư bên ngoài tìm cách thâu tóm công ty của mình. Chúng tôi không nhận xét về tính hiệu quả cũng như khía cạnh đạo đức của những thủ đoạn này mà chỉ trình bày về một số viên thuốc độc kiểu mổi, chưa được kiểm chứng và đề nghị bạn xem xét xem làm thế nào để tránh được tác dụng của chúng. Công ty mục tiêu là Công ty Piper’s Pickled Pepper. Mặc dù đây là công ty do công chúng sở hữu (publicly held) nhưng những mối ràng buộc gia đình vẫn còn duy trì bởi Hội đồng quản trị gồm năm người được kiểm soát hoàn toàn bởi năm người cháu của người sáng lập công ty. Người sáng lập công ty nhận thấy khả năng có bất đồng giữa những người cháu của mình cũng như mối đe doạ từ các nhà đầu tư bên ngoài, Để bảo vệ công ty trước cả những mâu thuẫn trong nội bộ gia đình cũng như những cuộc tấn công từ bên ngoài, trước hết ông ta yêu cầu các cuộc bầu chọn thành viên hội đồng quản trị được tiên hành kiểu zich zắc. Điều này có nghĩa là ngay cả khi có ai đó sở hữu 100% cổ phiếu của công ty thì cũng không thể thay thế ngay toàn bộ hội đồng quản trị mà chỉ có những người hết nhiệm kỳ mới có thể ra đi mà thôi. Mỗi người trong số năm thành viên đều có một nhiệm kỳ 5 năm. Người bên ngoài chỉ có thể hy vọng nhiều nhẩt là một ghế ở đó mỗi năm. Nhìn bề ngoài điều này cho thấy phải mất ít nhất ba năm để ai đó bên ngoài có thể giành được đa số ghế và quyền kiểm soát công ty. Người sáng lập công ty lo ngại rằng ý tưởng của ông về nhiệm kỳ zieh zắc sẽ bị thay đổi nếu có một kẻ thù địch nào đó nắm được quyền kiểm soát cổ phần. Điều khoản thứ hai do vậy được thêm vào. Quy trình bầu chọn thành viên hội đồng quản trị chỉ có thể được thay đổi bởi chính hội đồng đó. Bất kỳ thành viên nào cũng có thể đưa ra đề xuất thay đổi mà không cần người ủng hộ. Tuy nhiên có một điểm quan trọng. Người đề xuất: sẽ được yêu cầu bỏ phiếu cho chính đề nghị của mình. Việc bỏ phiếu sẽ được tiến hành một vòng theo chiều kim đồng hồ quanh bàn hội đồng. Để được thông qua, ít nhất phải có trên 50% thành viên hội đồng chấp thuận (người vắng mặt coi như bỏ phiếu chống). Bởi hội đồng có năm thành viên nên điều này có nghĩa là phải có ít nhất ba phiếu thuận. Bất kỳ người nào đưa ra đề nghị thay đổi thành viên hoặc thay đổi quy tắc xác định thành viên sẽ mất vị trí cũng như cổ