(Căn nhà trước kia, con
bò bị quên lãng, cây roi
Vượt qua con bò
của kỷ luật là vô ích,
tĩnh mịch)
Cả con bò và sự tự
(Quên hết tất thảy và
vượt qua
rỗng không)
(Không quan tâm đến có
Chạm tới nguồn gốc
hay không; âm thanh
của những con ve sầu)
104
(Thương trường đông
đúc; truyền bá sự giác
Quay trở lại xã hội
ngộ bằng sự hoà nhập
vào loài người)
Từ suy nghĩ rằng chúng ta “là” những tâm trí
của chính mình, chúng ta bắt đầu
thấy rằng chúng ta “có” những tâm trí
, và nó là một tâm trí
có những ý nghĩ, niềm tin,
cảm xúc và ý kiến. Sau cùng, chúng ta có thể đạt đến sự sáng suốt rằng tất cả những ý nghĩ
của chúng ta chỉ được mượn lại từ một cơ sở dữ liệu vĩ đại của ý thức và chưa bao giờ là
thật sự thuộc về chúng ta từ lúc bắt đầu. From thinking that we “are” our minds, we begin
to see that we “have” minds, and that it is the mind that has thoughts, beliefs, feelings, and
opinions. Eventually, we may arrive at the insight that all our thoughts are merely
borrowed from the great database of consciousness and were never really our own to begin
with.
Các hệ thống ý nghĩ thịnh hành được tiếp nhận, được hấp thụ, được xác định, và tại đúng thời điểm, sẽ bị thế chỗ bởi những ý tưởng mới phù hợp hơn.
Khi chúng ta đặt ít
giá trị trên những khái niệm nhất thời này, chúng sẽ mất đi khả năng kiểm soát chúng
ta, và chúng ta trải nghiệm sự tự do cấp tiến, cũng giống như từ tâm trí
.
Điều này, đến
lượt nó, chín muồi thành một nguồn vui mới; một cách thích hợp, sự hài lòng về bản thân sự tồn tại cũng sẽ chín muồi, và một người sẽ lên cao trong thang đo ý thức.
Chapter 21: The Study of Pure Consciousness – Nghiên cứu ý thức thuần túy
≈∙đã lược bỏ∙≈
Characteristics of Pure Consciousness – Các đặc điểm của ý thức thuần túy
Tầm nhìn của chúng ta về ý thức được liên kết với khái niệm của chúng ta về
bản chất (self):
càng giới hạn nhận thức về bản chất, càng có ít các thông số của những
trải nghiệm.
Các thông số bị hạn chế về thực tế bao trùm toàn bộ các ảnh hưởng của chúng.
105
Như một ví dụ trong nghiên cứu của chúng tôi, cái gọi là “
poor – nghèo
” tự nó hiển nhiên rằng “
poorness – sự nghèo nàn
” không chỉ là một trạng thái tài chính, mà cái “
nghèo
” thực sự là nghèo trong tất cả các khu vực của cuộc sống: nghèo trong tình bạn, nghèo trong các
kỹ năng về lời nói, nghèo trong lĩnh vực giáo dục, nghèo trong các tiện nghi xã hội, nghèo tài nguyên, nghèo sức khỏe, và nghèo trong mức độ tổng thể của hạnh phúc. Do đó, sự
nghèo nàn có thể được coi như là một đặc tính phẩm chất của
sự tự nhận thức (self-image)
bị giới hạn, được đưa ra từ việc thiếu hụt các nguồn tài nguyên. Nó không phải là một trạng thái tài chính, mà là một mức độ của ý thức. Năng lượng của mức độ nhận thức này hiệu chỉnh tại mức khoảng 60.
“
Danh khả danh phi thường danh - có thể gọi được thì không phải là danh bất biến
"
– Đạo đức kinh - Lão tử.
Danh mang nghĩa hạn định (một giới hạn định sẵn, để không vượt qua). Và do đó, không thể dùng danh tương đối để gọi ra được cái nguyên lý bất biến (tuyệt đối). Trên đời, mọi chuyện đều là tương đối, không có gì
là tuyệt đối cả, vì
chúng không ngừng biến đổi,
dịch hóa. Luôn tồn tại những trạng thái mâu thuẫn hay đối nghịch như có – không, cao –
thấp, ngắn – dài, tốt – xấu, đúng – sai… “
Thiên hạ đều biết tốt là tốt thì
đã có xấu rồi; đều
biết lành là lành thì
đã có cái chẳng lành rồi
.” Hay “
Họa, chính là chỗ dựa của phúc;
phúc, là chỗ núp của họa.”
Cho nên không thể chính danh (vật nào có danh đó) được, bởi
không có danh nào tuyệt đối. Những trạng thái mâu thuẫn luôn song hành và ở trong chính
cái mâu thuẫn của chúng. (Thuyết vô danh - Lão tử)
Việc nhận biết và từ đó trải nghiệm bản chất có thể chỉ tồn tại trong sự nhận
biết của bản thân một người giống như chỉ là cơ thể vật chất của người đó.
Sau đó, tất nhiên, chúng ta có thể thích thú hỏi rằng: Làm thể nào để sau đó một người biết được rằng
người đó có cơ thể vật chất? Thông qua quan sát, chúng ta thấy rằng sự hiện diện của cơ
thể vật chất đã bị giới hạn bởi ý thức. Câu hỏi thiếp theo – Cái gì
là nhận thức của ý thức?
Làm sao chúng ta trải nghiệm các ý thức đang được nói đến? Một số thứ lớn hơn, một số
thứ hoàn thiện hơn cơ thể vật chất, và tồn tại để trải nghiệm những thứ nhỏ hơn; một số
thứ là bản thân tâm trí
. Một người nhận biết với cơ thể mình bởi vì
tâm trí
của người đó
đang trải nghiệm cơ thể ấy. Những bệnh nhân khiếm khuyết các phần khá lớn của cơ thể
họ sẽ báo lại rằng ý thức của họ về bản chất vẫn không bị suy giảm; giống như một người sẽ nói
“tôi vẫn đầy đủ như tôi trước đây - I’m still just as much me as I ever was.”
106
Sau đó, lại phát sinh câu hỏi: Làm sao một người biết cái gì đang được trải nghiệm bởi tâm trí
? Bằng các quan sát và tự xem xét, một người có thể chứng tỏ rằng những suy nghĩ không có khả năng trải nghiệm chính nó, nhưng một số thứ vừa vượt ra khỏi lại vừa cơ bản hơn suy nghĩ, sẽ trải nghiệm sự liên tục của các suy nghĩ, và ý thức của nó về sự
nhận dạng không bị thay đổi bởi nội dung của các suy nghĩ.
Điều gì quan sát và là nhận thức của tất cả các các hiện tượng chủ quan và khách quan trong cuộc sống? Nó chính là bản thân ý thức, là cả nhận thức lẫn nguồn gốc của sự
trải nghiệm. Cả 2 đều chủ quan thuần túy.
Bản thân ý thức không được xác định bởi nội
dung/hàm lượng; các suy nghĩ chảy qua ý thức giống như cá bơi trong đại dương
. Sự
tồn tại của đại dương độc lập với cá; hàm lượng của đại dương không định nghĩa bản chất của nước. Giống như một tia sáng không màu, ý thức chiếu sáng chủ thể chứng kiến – vì thế miêu tả mang tính truyền thống của nó trông văn học thể giới là với “
ánh sáng – light
”
Sự nhận biết chỉ với nội dung của ý thức là bởi sự trải nghiệm bản chất bị giới
hạn. Ngược lại, nhật biết với bản thân ý thức là biết rằng bản chất hiện tại của một
người chính là vô hạn.
Khi những
sự tự nhận biết (self-identifications)
(cảm nhận điều bản thân chia sẻ và hiểu về các vấn đề hay các trải nghiệm của một ai đó) bị giới hạn được khắc phục, để ý thức của bản chất được nhận biết giống như bản thân ý thức, tình huống
này được gọi là “
giác ngộ - enlightened
”.
Một đặc điểm của sự trải nghiệm ý thức thuần túy là sự nhận thức về “
sự vô tận –
timelessness
” (hay sự vô tận của sự nhận thức). Ý thức được trải nghiệm giống như là
vượt
ra khỏi tất cả các hình thức và thời gian (beyond all form and time)
và xem như
sự hiện
diện mang tính bình đẳng ở mọi nơi (everywhere equally present).
Nó được mô tả như “
sự
chính là – is-ness
” hay “
sự tồn tại – beingness
” và trong văn chương mang tính tinh thần,
“
sự tôi là - I-am-ness
”. Ý thức không nhìn nhận sự tách biệt (sự tách biệt là kết quả của một sự giới hạn về nhận thức).
Trạng thái giác ngộ là của một “
nhất thể – Oneness
” ở
nơi không có sự phân chia thành các phần riêng biệt. Giống như sự phân chia chỉ hiển
nhiên ở một nhận thức cục bộ; nó thật ra chỉ ngẫu nhiên với một quan điểm cố định.
Các mô tả tương tự trong suốt lịch sử tư tưởng hoàn toàn đồng tình với các nghiên
cứu của William James, được trình bày trong các bài giảng của Gifford33 và cuốn sách nổi
tiếng
Những trải nghiệm tôn giáo - Varieties of Religious Experience
. Sự trải nghiệm của 33 The Gifford Lectures (các bài giảng của Gifford) là chuỗi các bài giảng được xuất bản hàng năm bởi di chúc Adam Lord Gifford (một luật sư và thẩm phán người Scotland, 1820 - 1887) 107