Trò Chuyện Với Vĩ Nhân

phần xương của ta,

phần xương của ta,

phần xương của ta, hãy ngồi xuống. Người thứ ba nói: – Không thể nói gì về điều đó. Không từ ngữ nào có thể diễn tả được điều đó. Bồ Đề Đạt Ma đáp: – Tốt, nhưng con đã nói ra rồi. Con đã tự mâu thuẫn với chính mình. Hãy ngồi xuống, con có được phần tủy của ta. Người thứ tư, và cũng là đồ đệ đầu tiên, Huệ Khả, chỉ quỳ dưới chân Bồ Đề Đạt Ma không nói lời nào, nước mắt lăn dài trên má. Bồ Đề Đạt Ma đáp: - Con đã nói ra được điều đó. Con sẽ là người kế nhiệm của ta. Nhưng đêm đó, một đồ đệ đã đầu độc Bồ Đề Đạt Ma để trả thù vì không được chọn làm người kế nhiệm. Bồ Đề Đạt Ma đã được chôn cất, nhưng điều kỳ lạ là ba năm sau, một quan phủ địa phương nhìn thấy ông ấy rời Trung Quốc hướng về phía dãy núi Himalaya, đi chân đất, tay cầm gậy với một chiếc giày treo trên gậy. Vị quan phủ này biết Bồ Đề Đạt Ma, đã gặp mặt nhiều lần, đã yêu mến người này dù nghĩ rằng ông ta có hơi lập dị. Quan phủ hỏi: – Chiếc gậy này có ý nghĩa gì, và cả chiếc giày treo trên đó nữa? Bồ Đề Đạt Ma đáp:

– Ông sẽ sớm tìm được câu trả lời. Nếu gặp các đồ đệ của ta, hãy bảo với họ rằng ta sẽ đến dãy núi Himalaya, mãi mãi không trở lại. Vị quan phủ tức tốc tìm đến ngọn núi nơi Bồ Đề Đạt Ma từng sống. Và ở đó, ông được biết rằng Bồ Đề Đạt Ma đã bị đầu độc, đã qua đời… còn có cả mộ phần nữa. Quan phủ nọ không hay biết gì về việc này bởi ông trấn giữ ở vùng biên giới. Ông nói: “Trời ơi, ta đã nhìn thấy Bồ Đề Đạt Ma, không thể nhầm lẫn được bởi vì ta đã từng thấy người ấy nhiều lần. Chính là người này, người có đôi mắt hung tợn, với tướng mạo khiến người khác khiếp sợ, và trên hết là mang theo cây gậy có treo một chiếc giày”. Không khỏi hiếu kỳ, các đồ đệ đã mở nắp quan tài. Tất cả những gì họ tìm thấy bên trong là một chiếc giày. Và khi đó, quan phủ mới hiểu được vì sao Bồ Đề Đạt Ma nói: “Ông sẽ tìm thấy câu trả lời, sớm thôi, ông sẽ tìm thấy”. Chúng ta đã nghe rất nhiều về sự tái sinh của Jesus. Nhưng không ai nói nhiều về sự tái sinh của Bồ Đề Đạt Ma. Có lẽ ông chỉ bị hôn mê khi được chôn cất, và sau đó tỉnh dậy, lẻn ra khỏi mộ, để lại đó một chiếc giày và treo chiếc còn lại lên gậy, rời khỏi nơi này theo đúng như dự định. Bồ Đề Đạt Ma muốn được chết giữa lớp băng tuyết vĩnh cửu của dãy Himalaya. Ông ấy không muốn có lăng mộ, miếu mạo hay tượng đài của mình. Ông ấy không muốn để lại dấu chân nào cho mọi người tôn thờ; những ai yêu mến ông ấy cần phải bước vào bản thể của chính mình: “Ta không cần được tôn thờ”. Và ông ấy đã biến mất vào thinh không. Không ai biết gì về ông – điều gì đã xảy ra, ông đã viên tịch ở nơi nào. Hẳn là Bồ Đề Đạt Ma đã nằm lại đâu đó trong cõi vĩnh hằng của ngọn tuyết sơn Himalaya.

P PHẬT THÍCH CA MÂU NI hật Thích Ca Mâu Ni là tinh hoa của Phật giáo. Ngài không sáng lập nên Phật giáo – Phật giáo là hệ quả tất yếu – mà ngài đã khởi đầu một kiểu tôn giáo hoàn toàn khác trên thế gian này. Ngài đã sáng lập nên một thứ tôn giáo phi tôn giáo, đã khởi xướng không chỉ tôn giáo mà cả tín ngưỡng, và đây là sự thay đổi tận gốc rễ vĩ đại nhất trong lịch sử tâm thức nhân loại. Trước Đức Phật, đã có nhiều tôn giáo khác nhưng không đơn thuần xuất phát từ yếu tố tâm linh. Con người vẫn chưa trưởng thành. Khi Đức Phật xuất hiện, loài người mới bước vào giai đoạn trưởng thành. Toàn thể nhân loại chưa bước vào giai đoạn đó, đây là sự thật, nhưng Đức Phật đã vẽ ra con đường, Đức Phật đã mở cánh cổng dẫn vào con đường này. Cần thời gian để loài người hiểu được thông điệp sâu xa đó. Thông điệp của Đức Phật là thông điệp sâu sắc nhất trên thế gian này. Chưa có ai làm được những điều mà Đức Phật đã làm, theo cách mà Đức Phật đã làm. Chưa có ai khác tỏa ra được thứ hương thơm thuần khiết đó. Những người sáng lập ra các tôn giáo khác, những con người đã được giác ngộ khác, đã thỏa hiệp với người nghe. Đức Phật không thỏa hiệp, do đó ngài luôn thuần khiết. Ngài không quan tâm rằng bạn hiểu được điều gì, ngài chỉ quan tâm đâu là chân lý, là sự thật. Ngài nói ra mà không lo lắng liệu bạn có hiểu hay không. Trong một chừng mực nào đó, điều này trông có vẻ khắc nghiệt; nhưng nếu nhìn nhận theo cách khác, đây mới chính là lòng trắc ẩn. Sự thật phải được nói ra theo cách vốn có. Khoảnh khắc bạn thỏa hiệp, khoảnh khắc bạn đem sự thật đến tầm nhận thức bình thường của con người, sự thật sẽ mất đi linh hồn của nó, nó sẽ trở thành giả mạo, sẽ trở thành một vật thể chết. Bạn

không thể đem sự thật xuống ngang tầm nhận biết của con người; con người phải được nâng lên ngang mức với sự thật. Đó chính là công trình vĩ đại của Đức Phật. Phật Thích Ca Mâu Ni bắt đầu con đường tâm linh theo cách tự do, không theo một ý thức hệ nào. Đó là một hiện tượng vô cùng hiếm. Con đường tâm linh theo cách thông thường, cách mà bạn vẫn thường thấy, có tính kìm hãm. Nó phụ thuộc vào sự kìm hãm. Nó không biến đổi con người, mà chỉ khiến họ tàn phế. Nó không giải phóng con người mà biến họ thành nô lệ. Nó ngột ngạt, xấu xí. Hãy nhớ điều này: Phật là tự do. Nếu bạn thấy tu sĩ Phật giáo nào kìm nén, hẳn là họ không hiểu gì về Phật giáo. Họ đã đưa bệnh lý của bản thân vào lời dạy của Đức Phật. Và Đức Phật không theo một hệ tư tưởng nào. Ngài không có ý thức hệ nào bởi toàn bộ các ý thức hệ đều thuộc tâm trí. Và nếu thuộc tâm trí, những ý thức hệ đó không thể đưa bạn thoát khỏi tâm trí. Không ý thức hệ nào có thể trở thành cầu nối để đưa bạn vượt ra khỏi tâm trí. Toàn bộ các ý thức hệ phải bị loại bỏ, chỉ khi đó tâm trí mới bị loại bỏ. Đức Phật cũng không tin vào lý tưởng, bởi vì toàn bộ lý tưởng khiến con người căng thẳng và xung đột. Lý tưởng gây chia rẽ, gây đau khổ. Bạn là chính bạn, nhưng lý tưởng lại muốn bạn trở thành người khác. Và bạn bị giằng xé giữa hai điều này. Lý tưởng tạo ra đau khổ, lý tưởng gây ra chứng tâm thần phân liệt. Chỉ có tâm thức không theo ý thức hệ mới không bị chia tách. Và nếu bị chia tách, làm sao bạn có thể hạnh phúc? Làm sao bạn có thể im lặng, làm sao bạn có thể biết gì về sự bình yên, tĩnh lặng? Người có lý tưởng sẽ không ngừng đấu tranh với chính mình. Mỗi khoảnh khắc đều có xung đột. Anh ta sống trong sự xung đột, anh ta sống trong trạng thái bối rối vì không xác định được mình là ai – là người sống theo lý tưởng hay thực tế? Anh ta không tin tưởng chính mình, anh ta trở nên e ngại chính mình, anh ta mất tự tin. Và một khi mất tự tin, người đó sẽ chẳng còn gì để tự hào. Khi đó, anh ta sẵn sàng trở thành nô lệ cho bất cứ ai – cho giáo

sĩ, cho chính trị gia. Khi đó, anh ta sẵn sàng muốn được rơi vào một cái bẫy nào đó. Vì sao mọi người trở thành tín đồ? Vì sao mọi người bị mắc kẹt trong cái bẫy, vì sao mọi người đi theo Adolf Hitler hay những kẻ chuyên quyền, bạo ngược? Vì sao lại như thế? Họ đã trở nên quá dao động, sự mập mờ về ý thức hệ đó đã khiến họ run rẩy đến tận tâm can. Giờ họ không thể tự mình đứng dậy, họ cần ai đó để dựa vào. Họ không thể tự mình di chuyển, họ không biết họ là ai. Họ cần ai đó nói với họ rằng họ là người này hoặc người kia. Họ cần có một nhân dạng. Họ đã quên mất bản thân mình và bản chất của mình. Adolf Hitler và những kẻ bạo ngược, chuyên quyền sẽ lại xuất hiện cho đến khi nào con người từ bỏ mọi ý thức hệ. Hãy nhớ, khi tôi nói mọi ý thức hệ có nghĩa là tất cả các ý thức hệ. Tôi không phân biệt dù đó là ý thức hệ cao quý hay thấp hèn. Trên thực tế, những ý thức hệ cao quý càng nguy hiểm hơn, bởi vì chúng quyến rũ hơn, có sức thuyết phục hơn. Nhưng ý thức hệ như thế là một căn bệnh, chính xác là một căn bệnh, bởi vì khi đó bạn trở thành hai phần: lý tưởng và bạn. Cái thật của bạn bị lên án, còn cái không phải của bạn lại được ca tụng. Giờ thì bạn bắt đầu gặp rắc rối. Sớm muộn gì bạn cũng sẽ bị loạn thần kinh, dễ bị kích động hay đại loại như thế. Đức Phật đã dạy một cách sống tự do và không lý tưởng. Đó là lý do vì sao ngài không nói về Thượng đế, ngài không nói về thiên đường, ngài không nói về tương lai. Ngài không trao cho bạn bất cứ thứ gì để bám víu, ngài lấy đi mọi thứ của bạn. Ngài thậm chí lấy đi cả cái tôi của bạn. Ngài không ngừng lấy đi mọi thứ; và cuối cùng, ngài lấy đi cả ý nghĩ về bản ngã, tôi, cái tôi. Ngài chỉ để lại sự trống rỗng. Và điều này thật khó. Điều này thật khó bởi vì chúng ta hoàn toàn quên mất cách cho đi. Chúng ta chỉ biết nhận về. Chúng ta cứ mãi nhận về, lấy về. Tôi “lấy” vợ, tôi “lấy” chồng. Ngay cả vợ hoặc chồng, bạn cũng tìm cách “lấy”. Bạn không tôn trọng người khác! Vợ không phải là tài sản. Bạn có thể lấy căn nhà, làm sao

bạn có thể lấy vợ hoặc chồng? Nhưng ngôn ngữ thể hiện những gì đang diễn ra trong tâm trí. Chúng ta không biết cho đi, không biết cách từ bỏ, cách buông bỏ, cách để mọi việc diễn ra tự do. Đức Phật lấy đi tất cả những lý tưởng này, lấy đi toàn bộ tương lai, và cuối cùng lấy đi một thứ mà chúng ta rất khó cho đi – cái tôi của bạn. Chỉ để lại sự trống rỗng tinh khôi, thuần khiết, trong trẻo. Ngài gọi sự trống rỗng tinh khôi đó là nirvana (niết bàn). Nirvana không phải là mục tiêu, mà chỉ là sự trống rỗng của bạn. Khi bạn từ bỏ tất cả những gì đã tích lũy, khi bạn không còn cất giấu nữa, khi bạn không còn là một kẻ keo kiệt bủn xỉn, một kẻ ăn bám, bỗng nhiên sự trống rỗng sẽ xuất hiện. Nó luôn có mặt ở đó. Sự trống rỗng luôn ở đó. Bạn đã tích lũy nhiều phế liệu nên không thể nhìn thấy sự trống rỗng. Giống như trong một ngôi nhà, bạn cứ mãi tích góp đồ đạc để rồi không còn nhìn thấy khoảng trống nào, khi đó sẽ không còn khoảng trống trong ngôi nhà. Đến một ngày, ngay cả việc đi lại trong ngôi nhà cũng trở nên khó khăn, việc sống trong đó cũng trở nên khó khăn bởi vì không còn chỗ trống. Nhưng khoảng trống chẳng đi đâu – hãy nghĩ về nó, hãy thiền về nó – khoảng trống không đi đâu cả. Bạn đã tích lũy quá nhiều đồ đạc, bàn ghế, tivi, radio, đàn piano và tất cả những thứ này đều ở đó – nhưng khoảng trống không đi đâu cả. Hãy loại bỏ bàn ghế, đồ đạc và khoảng trống sẽ xuất hiện; nó luôn ở đó. Nó ẩn bên dưới đồ đạc nhưng không bị phá hủy. Nó không rời khỏi căn phòng, dù chỉ trong giây lát. Đức Phật không trao nirvana cho bạn như là một lý tưởng. Đức Phật trao cho bạn tự do thay vì ép buộc. Đức Phật dạy bạn cách sống – không phải cho bất kỳ mục tiêu nào, không phải để đạt được điều gì, mà chỉ để được hưởng phúc lành tại đây, vào giây phút này. Ngài dạy cách sống trong tỉnh thức. Không phải theo nghĩa là sự tỉnh thức đó sẽ mang đến cho bạn điều gì – sự tỉnh thức không phải là phương tiện để đạt được điều gì. Tự nó là kết quả cuối cùng, vừa là phương tiện vừa là kết quả; giá trị của nó là thực chất, là nội tâm.

Đức Phật không dạy bạn điều bí ẩn. Cần phải hiểu rõ điều này. Con người thuộc về thế giới này, còn các tu sĩ cứ mãi dạy về thế giới khác. Thế giới khác đó cũng không thật bí ẩn, nó không thể nào là bí ẩn bởi vì nó chỉ là một dạng nâng cao của thế giới mà bạn đang sống. Dựa vào đâu mà bạn tạo ra thế giới khác? Bạn chỉ biết thế giới này. Bạn có thể nâng cấp nó, có thể trang trí cho nó, có thể bỏ đi một vài thứ xấu xí và thay thế bằng một vài thứ khác mà bạn cho là xinh đẹp, nhưng đấy sẽ là sản phẩm được tạo ra từ trải nghiệm của bạn về thế giới này. Cho nên, thế giới khác kia không khác mấy, nó không thể khác được. Nó là sự nối tiếp. Nó đi ra từ tâm trí bạn; nó là trò chơi của trí tưởng tượng. Bạn sẽ có nhiều phụ nữ xinh đẹp ở đó, dĩ nhiên là đẹp hơn so với ở đây. Bạn sẽ có những thú vui tương tự ở đó, có lẽ là ổn định hơn, lâu dài hơn, nhưng chúng vẫn là những thú vui tương tự. Bạn sẽ có thức ăn bổ hơn, ngon hơn, nhưng cũng chỉ là thức ăn. Bạn sẽ có nhà ở, có lẽ được làm bằng vàng, nhưng cũng chỉ là nhà ở. Bạn sẽ lặp lại tất cả một lần nữa. Chỉ cần đi vào kinh sách và xem cách họ mô tả về thiên đường, bạn sẽ thấy thế giới tương tự được nâng cấp từ đó. Một vài nét chấm phá ở chỗ này, chỗ khác, nhưng đó không thể nào là thế giới bí ẩn. Đó là lý do vì sao tôi nói sự bí ẩn của các tôn giáo không thật bí ẩn, nó được phóng chiếu ra từ thế giới này. Nó được sinh ra từ trải nghiệm của thế giới này. Sẽ không có đau khổ, nghèo đói, bệnh tật, không người bại liệt, không người mù và người điếc. Những điều bạn không thích ở đây sẽ không hiện diện ở đó, còn những điều bạn thích sẽ xuất hiện ở đó, rất nhiều. Nhưng sẽ không có bất kỳ thứ gì mới mẻ. Toàn bộ kinh sách đều nói về thiên đường, và thiên đường trong kinh sách không là gì khác ngoài những câu chuyện giống hệt. Nó có thể được in bằng giấy mỹ thuật, bằng loại mực tốt hơn, bằng loại máy in hiện đại hơn, với những hình minh họa sặc sỡ hơn, nhưng câu chuyện thì vẫn thế, không thể nào khác được.

Đức Phật không nói về sự bí ẩn hay một thế giới khác. Ngài chỉ dạy bạn cách ở đây, trong thế giới này. Cách luôn tỉnh táo, nhận thức để không gì có thể gây ảnh hưởng đến sự trống rỗng của bạn; để sự trống rỗng nội tâm của bạn không bị ô nhiễm, bị đầu độc; để bạn có thể sống ở đây và vẫn không bị ô uế, vẫn tinh khiết; để bạn có thể ở trong thế giới này và thế giới này không ở trong bạn. Tâm linh bí ẩn thì ngột ngạt, có tính tàn phá, khổ hạnh, hay nói ngắn gọn là bệnh hoạn. Tâm linh của Đức Phật mang đến cho nó một hương vị khác – hương vị của không lý tưởng, hương vị của không tương lai, hương vị của không có “thế giới khác”. Đó là bông hoa ở tại đây và vào lúc này. Nó không đòi hỏi điều gì, nó đã có tất cả. Nó chỉ đơn giản là trở nên tỉnh táo hơn để bạn có thể nhìn thấy nhiều hơn, nghe thấy nhiều hơn, và hiện hữu nhiều hơn. Hãy nhớ, bạn chỉ hiện hữu theo đúng mức độ nhận thức của bạn. Nếu bạn muốn hiện hữu nhiều hơn, hãy nhận thức nhiều hơn. Tâm thức tạo ra sự hiện hữu. Vô thức sẽ không có hiện hữu. Khi say rượu, bạn không hiện hữu. Khi rơi vào giấc ngủ, bạn không hiện hữu. Bạn có nhìn thấy nó? Khi tỉnh táo, bạn có một phẩm chất khác – bạn trở thành trung tâm, bạn bén rễ. Khi tỉnh táo, bạn cảm nhận được sự vững chắc của hiện hữu, nó gần như hữu hình. Khi không nhận thức, chỉ chậm rãi trôi đi, trong trạng thái say ngủ, ý thức về sự hiện hữu của bạn sẽ ít đi. Do đó, toàn bộ thông điệp của Đức Phật là hãy nhận thức. Không vì lý do nào cả, chỉ đơn giản là nhận thức thôi, bởi vì tâm thức tạo ra hiện hữu, tâm thức tạo ra bạn. Và nó tạo ra bạn theo cách thật khác so với bạn hiện tại, so với những gì bạn có thể tưởng tượng. Tạo ra bạn ở nơi cái “tôi” biến mất, nơi không còn tồn tại ý nghĩ về “tôi”, không gì định hình được bạn… một sự trống rỗng thuần khiết, một sự trống rỗng vô tận. ***

Từ nirvana là một từ phủ định. Nó có nghĩa đen là thổi tắt nến. Phật Thích Ca Mâu Ni sử dụng từ này cho trạng thái tâm thức tối thượng. Hẳn ngài có thể chọn một từ khẳng định khác, và ở Ấn Độ, có nhiều từ khẳng định cho nghĩa này. Moksha có nghĩa là tự do, giải phóng. Kaivalya có nghĩa là đơn độc, một mình. Brahmanubava có nghĩa là trải nghiệm sự tối thượng. Nhưng Đức Phật đã chọn một từ lạ, từ chưa bao giờ được sử dụng trong bối cảnh tâm linh: thổi tắt nến. Làm sao bạn có thể liên hệ nó với một trải nghiệm tâm linh? Đức Phật nói rằng cái tôi của bạn không khác gì ngọn lửa, nó đang bùng cháy qua những khát khao của bạn. Khi mọi khát khao biến mất, ngọn nến cũng biến mất. Giờ ngọn lửa đó không thể tồn tại được nữa; ngọn lửa cũng biến mất, biến mất vào vũ trụ bao la, không để lại dấu vết nào; bạn không thể tìm thấy nó được nữa. Nó ở đó nhưng đã ra đi mãi mãi, rời khỏi mọi nhân dạng, mọi giới hạn. Cho nên, Đức Phật chọn từ nirvana thay cho sự nhận thấy, bởi vì việc nhận thấy vẫn cho bạn một chút tự cao tự đại, rằng bạn là người được công nhận, rằng bạn là một cá thể tự do, rằng bạn được giác ngộ, rằng bạn được soi chiếu, rằng bạn đã tìm thấy nó. Nhưng bạn vẫn là chính bạn. Đức Phật nói rằng “bạn” sẽ biến mất, vậy ai sẽ tìm thấy nó? Bạn tan biến, bạn chỉ là tổ hợp của nhiều yếu tố, giờ đây mỗi yếu tố tìm về nguồn cội của mình. Nhân dạng cá nhân không còn nữa. Đúng vậy, bạn sẽ tồn tại như vũ trụ... Cho nên, Đức Phật tránh dùng bất kỳ từ khẳng định nào, bởi vì hiểu được xu hướng của loài người, bởi vì mỗi từ khẳng định có thể cho bạn cảm giác về cái tôi của mình. Không có từ phủ định nào có thể làm được điều đó; đó là lý do vì sao nó vẫn thuần khiết. Bạn không thể gây ô nhiễm cho thứ không tồn tại. Và con người rất e sợ dùng từ này. Với sự run rẩy thấu tận tâm can… nirvana. Đức Phật đã được hỏi hàng ngàn lần: “Từ nirvana

của ngài không khiến chúng con phấn khích, không khiến chúng con khao khát đạt được nó. Chân lý tối thượng, khả năng tự phát triển, khả năng nhận biết về Thượng đế, tất cả những điều này tạo ra khát khao, sự khát khao vĩ đại. Từ của ngài không tạo ra khát khao”. Và Đức Phật luôn đáp: “Đó chính là vẻ đẹp của nó. Tất cả những từ ngữ tạo ra khát khao trong con sẽ không giúp ích cho con, bởi vì tự thân sự khát khao sẽ là nguồn cơn dẫn đến đau khổ. Sự mong mỏi về điều gì đó sẽ tạo ra căng thẳng trong con. Nirvana khiến con hoàn toàn tự do, không căng thẳng, không khao khát. Ngược lại, con phải chuẩn bị để chấp nhận tan biến. Khi tan biến, con không cần đến cái tôi, do đó nirvana vẫn luôn thuần khiết”. Không có từ nào khác giữ được sự thuần khiết đó. Tính phủ định của nó chính là nguyên nhân, và chỉ có bậc thầy vĩ đại mới có thể đóng góp cho loài người một thứ mà, cho dù muốn, bạn cũng không thể làm ô nhiễm được. Hai mươi lăm thế kỷ đã trôi qua… nhưng không có cách nào làm được. Nirvana sẽ khiến bạn tan biến; còn bạn không thể làm gì được nirvana. Đó hẳn là từ thuần khiết nhất. Thậm chí âm thanh của nó, dù bạn có hiểu được nghĩa hay không, vẫn êm dịu, mang đến cảm giác thanh bình, tĩnh lặng mà không từ nào khác – như tuyệt đối, tối thượng… – có thể mang lại. Khoảnh khắc bạn nghe từ nirvana, thời gian dường như lắng đọng, như thể không có nơi nào để đi. Chính trong khoảnh khắc này, bạn có thể tan chảy, tan biến, biến mất mà không để lại dấu vết nào. *** Khi Đức Phật chào đời, các nhà chiêm tinh đã tâu với đức vua rằng: “Chúng thần lo lắng rằng… bệ hạ phải biết được điều này. Hoàng tử mới chào đời hoặc sẽ trở thành một chakravartin* hoặc sẽ trở thành một kẻ ăn xin nghèo khó”. Hai thái cực…

Nhà vua đã luống tuổi khi hoàng tử chào đời và đây là người nối dõi duy nhất. Ông yêu cầu các nhà chiêm tinh tìm cách ngăn cản để đứa bé không thể trở thành kẻ hành khất và chối bỏ thế giới. Các nhà chiêm tinh này không biết gì về tâm trí và tâm lý học. Có lẽ họ chỉ biết về những vì sao ở rất xa, cách trái đất đến hàng triệu năm ánh sáng… Và thật ngu ngốc, con người tin rằng số phận của mình, vận mệnh của mình được quyết định bởi hàng triệu ngôi sao ở rất xa kia! Có lý do cho sự tồn tại đầy ý nghĩa của thuật chiêm tinh, nó giúp bạn mãn nguyện khi nghĩ rằng toàn thể vũ trụ quan tâm tới bạn. Ngay cả những ngôi sao ở rất xa cũng nỗ lực làm điều gì đó cho bạn; bạn không phải là người bình thường, bạn không phải là hư không. Những ngôi sao ở rất xa kia thậm chí không biết về bạn, không thể nào, nhưng cái tôi của bạn cảm thấy được vuốt ve. Các nhà chiêm tinh đã khai thác điều này từ buổi ban sơ của nhân loại. Dĩ nhiên, họ bóc lột bạn, bạn phải chi trả cho họ; nhưng dường như bạn lại cảm thấy xứng đáng; họ mang đến cho bạn cái tôi to lớn. Bạn trở nên to lớn, quan trọng hơn cả vì sao lớn nhất trên bầu trời. Tất cả chúng đều vận hành xoay quanh bạn! Nhưng các nhà chiêm tinh tội nghiệp này thậm chí còn không thông minh như Sigmund Freud. Họ tâu với đức vua rằng: “Nếu bệ hạ muốn thái tử không chối bỏ thế giới, chúng thần cần phải thực hiện một vài nghi lễ”. Ở Ấn Độ, có ba mùa rõ rệt trong năm. Ngày nay, điều này đã thay đổi; còn trước đó, mỗi năm vào cùng một ngày, trời bắt đầu mưa, và cũng vào một ngày tương tự, trời sẽ tạnh. Mùa đông đến cùng một ngày, và kết thúc sau bốn tháng vào ngày tương tự. Suốt hàng bao thế kỷ, các mùa đã diễn ra theo cách như thế. Giờ đây, điều này đã thay đổi, nhưng vào thời của Đức Phật, nó diễn ra theo cách như thế. Vua cha cho xây ba cung điện, mỗi cung điện dành cho một mùa. Vào mùa hè, cung điện trên ngọn đồi luôn xanh mát và tuyệt đẹp. Từng chi tiết nhỏ được chăm chút để Thái tử Tất Đạt Đa không

bao giờ cảm thấy thất vọng với thế giới này. Vào mùa đông, một bầu không khí ấm áp bao trùm cung điện. Các nhà chiêm tinh tâu với nhà vua: “Ngay từ đầu, hãy để thái tử được sống giữa những cô gái xinh đẹp, để đến lúc trở thành một chàng trai trẻ tuổi, thái tử có được tất cả những thiếu nữ xinh đẹp của đất nước”. Họ còn đi sâu vào chi tiết hơn nữa, rằng thái tử không nên nhìn thấy người già, bởi việc nhìn thấy người già sẽ khiến thái tử đặt câu hỏi “Liệu đây có phải là vận mệnh của tất cả mọi người?”. Đừng bao giờ để thái tử nhìn thấy người chết. Tuyệt đối không cho thái tử nhận biết về thực tại của cuộc sống, giữ thái tử ở vùng đất thần tiên thơ mộng. Luận điểm của họ là khi đã có tất cả, làm sao thái tử lại muốn từ bỏ, muốn chống lại nó. Thái tử được chăm sóc bởi các vị danh y của đất nước. Thậm chí những người làm vườn trong cung cũng được ra lệnh rằng thái tử không được nhìn thấy một bông hoa sắp héo hay một chiếc lá sắp ngả màu. Khi đêm xuống, những gì báo hiệu cái chết phải bị loại bỏ. Thái tử chỉ nhìn thấy những bông hoa xinh đẹp, rực rỡ. Ngài chỉ nhìn thấy những chiếc lá xanh mãi xanh. Và đức vua có thể làm được điều này. Đức vua ra lệnh thực thi điều đó và cách làm này đã phản tác dụng. Những gã chiêm tinh ngu ngốc kia không hề biết được một điều đơn giản là nếu một người có được tất cả và không nhận biết được những điều xấu xí quanh mình, sớm muộn gì anh ta cũng cảm thấy chán ngấy. Sớm muộn gì anh ta cũng sẽ bắt đầu suy nghĩ: “Tất cả đây sao? Thế thì ngày mai cũng tương tự, ngày mốt cũng không có gì thay đổi. Vậy đâu còn gì ý nghĩa?”. Anh ta sẽ trở nên chán ngán. Và đó chính là điều đã xảy ra. Thái tử cảm thấy chán với những thiếu nữ mãi xinh đẹp, với những bông hoa mãi rực rỡ. Tâm trí của bạn có thể giữ im lặng trong bao lâu? Chính các nhà chiêm tinh là nguyên nhân khiến thái tử từ bỏ hoàng cung. Nếu ngài được phép sống một cuộc sống bình thường như bao người khác, hẳn thế giới đã không có Đức Phật. Trong chừng mực nào đó, các nhà chiêm tinh đã vô tình có công lớn với nhân loại.

Có một câu chuyện thật đẹp. Hàng năm, cung điện thường tổ chức lễ hội, Thái tử Tất Đạt Đa, người sắp kế vị ngôi vua, sẽ chủ trì và tuyên bố khai mạc lễ hội. Lễ hội đó kéo dài trong vài tuần với tất cả các hoạt động hội thao, trình diễn nghệ thuật. Năm hai mươi chín tuổi, Thái tử Tất Đạt Đa đứng ra tuyên bố khai mạc lễ hội này. Trên đường thái tử đến dự lễ hội, mọi chi tiết nhỏ đều được chăm chút nhưng hiện hữu vẫn luôn có cách riêng để tiếp cận bạn. Bạn không thể hoàn toàn khép kín như nấm mồ, trừ khi bạn chết. Nếu bạn còn sống, chắc chắn sẽ có những cái lỗ thông khí để sự tồn tại đi vào và khiến bạn nhận biết thực tại. Các nhà chiêm tinh và nhà vua không thể nào thông minh hơn sự hiện hữu. Mọi chi tiết đều được chăm chút trên quãng đường từ cung điện đến nơi diễn ra lễ hội, không người già, không xác chết hay tang lễ – bất cứ điều gì có thể khiến thái tử nghi ngờ. Nhưng bạn không thể né tránh thực tại lâu được. Khi xe ngựa đang chạy hướng về phía lễ hội, thái tử nhìn thấy một người già. Ông ta bị điếc nên không nghe thấy lệnh cấm vào hôm đó, rằng ông phải ở yên trong nhà và không được ra ngoài. Người đàn ông đó bị điếc, không nghe được nên theo thói quen hàng ngày, ông rời khỏi nhà để ra chợ mua thức ăn. Lần đầu tiên trong suốt hai mươi chín năm, thái tử nhìn thấy một người già nua, người đang ở ngưỡng cửa của cái chết. Thái tử hỏi người đánh xe ngựa: – Có chuyện gì vậy? Điều gì đã xảy ra với người đàn ông kia? Ta chưa từng nhìn thấy điều gì như vậy! Người đánh xe yêu mến thái tử như con trai của mình. Ông không thể nói dối. – Mặc dù việc này sẽ chống lại mệnh lệnh của bệ hạ, nhưng thần không thể nói dối thái tử. Mọi người đã làm mọi cách để thái tử không nhìn thấy

người già. Mọi người đều phải già đi. Thần cũng sẽ già đi. Đây là quy luật của cuộc sống. Thái tử liền hỏi: – Nghĩa là vào một ngày nào đó, ta cũng sẽ già đi như người đàn ông kia ư? Người đánh xe ngựa đáp: – Thần xin tâu thật với thái tử. Thần cầu mong điều này sẽ không xảy ra với thái tử, nhưng đó là quy luật của cuộc sống, không gì có thể thay đổi được. Như cách thái tử lớn lên từ một đứa bé thành một chàng trai trẻ, rồi từ chàng trai trẻ thành một người già yếu. Và rồi ngay lúc đó có người chết. Giờ thì bạn không thể ngăn cản cái chết. Bạn không thể ra lệnh cho cái chết theo cách “Mày không được xảy ra trên con đường này, mày có thể xảy ra ở nơi khác”. Cái chết không nằm trong sự kiểm soát của bạn. Có người chết, mọi người khóc, và xác chết nằm đó. Thái tử hỏi: – Điều gì đã xảy ra? Sao mọi người lại khóc? Thái tử Tất Đạt Đa chưa từng nhìn thấy ai khóc, chưa từng nhìn thấy nước mắt của ai tuôn rơi; chưa từng nhìn thấy xác chết. Ngài hỏi: – Điều gì đã xảy ra với người này? Ông ta thậm chí không còn thở nữa! Người đánh xe nói: – Đây là giai đoạn tiếp theo. Đầu tiên là thái tử nhìn thấy người già. Chẳng bao lâu, cái chết sẽ tìm đến. Và nó đã đến với ông ta. Thái tử hỏi:

– Vậy ta cũng sẽ chết vào một ngày nào đó? Người đánh xe dù sợ đức vua, nhưng vì là một người chính trực nên ông đã trả lời rằng: – Sự thật là sự thật, không ai có thể chối bỏ nó. Bệ hạ sẽ chết, thần sẽ chết, thái tử cũng sẽ chết. Cái chết bắt đầu vào ngày mọi người được sinh ra. Sau khi chào đời, con người không có cách nào thoát khỏi cái chết. Và ngay lúc đó, họ đi ngang qua một khất sĩ, một kẻ lang thang (sannyasin). Các nhà chiêm tinh đã tâu với nhà vua rằng: “Thái tử không được tiếp xúc với các khất sĩ, bởi họ là những kẻ chống lại mọi thứ. Họ chính là người dạy rằng thế giới này là ảo giác, rằng toàn bộ những khát khao sẽ không đưa con người đến đâu, rằng con người chỉ đang lãng phí cuộc sống của mình, và mỗi giây phút trôi qua, cái chết càng đến gần. Cần phải tránh những khất sĩ”. Và trong suốt hai mươi chín năm, Thái tử Tất Đạt Đa không hề biết rằng có người đang nỗ lực tìm kiếm những thứ vượt ra khỏi sự sống và cái chết. Vị khất sĩ trong lớp áo choàng màu cam đỏ trông thật xa lạ đối với thái tử – người chưa từng nhìn thấy một khất sĩ nào trong suốt hai mươi chín năm cuộc đời chắc hẳn phải thấy hiếu kỳ. Ngài hỏi: – Vậy còn người đàn ông này? Ta đã nhìn thấy nhiều người nhưng chưa có ai mặc chiếc áo choàng giống vậy, trên tay cầm một chiếc bát. Ông ta là người như thế nào? Người đánh xe đáp: – Đây là người hiểu được rằng cái đẹp sẽ biến thành xấu xí, rằng tuổi trẻ sẽ biến thành tuổi già, rằng sự sống sẽ biến thành cái chết, và ông ta đang nỗ lực tìm hiểu xem liệu có điều gì là vĩnh hằng? Liệu có điều gì không bị tác

động bởi tuổi trẻ, tuổi già, cái chết, hay bệnh tật? Ông ta là một khất sĩ, ông ta từ bỏ thế giới tầm thường. Ông ta đang đi tìm chân lý. Khi sắp đến nơi diễn ra lễ hội, thái tử ra lệnh cho người đánh xe: – Hãy quay lại, ta sẽ không tham dự lễ hội của tuổi trẻ nữa. Nếu tuổi trẻ cuối cùng cũng trở thành tuổi già, bệnh tật, cái chết, và nếu điều này sẽ xảy ra với ta, vậy là ta đã đánh mất hai mươi chín năm một cách vô ích. Ta đã sống trong những giấc mơ. Ta không còn trẻ nữa, và ta không muốn làm thái tử nữa. Đêm nay, ta sẽ từ bỏ thế giới này và đi tìm chân lý. Những điều mà các nhà chiêm tinh nói với vua cha có vẻ như là những kiến thức căn bản… nhưng kiến thức căn bản là thứ nông cạn. Họ không hình dung được một điều đơn giản là: không ai có thể khiến một người cả đời không nhận biết về thực tại. Tốt nhất là nên để cho người đó biết ngay từ đầu, bằng không nó sẽ trở thành một cú sốc lớn trong đời anh ta. Và điều này đã xảy ra. Ngay đêm đó, Thái tử Tất Đạt Đa rời khỏi cung điện, từ bỏ tất cả. *** Thái tử nỗ lực tìm kiếm chân lý suốt sáu năm ròng rã, và chưa ai làm được điều đó thật trọn vẹn như cách ngài đã làm. Ngài đã tìm đến từng bậc thầy để học. Không một người thầy nào mà thái tử chưa tìm đến. Ngài dâng hiến trọn vẹn, với bất kỳ giáo pháp nào được truyền đạt, ngài tiếp thu trọn vẹn đến mức ngay cả thầy dạy cũng bắt đầu ghen tị. Nhưng cuối cùng, từng người thầy đều phải nói: “Đây là tất cả những gì ta có thể dạy. Và nếu không có gì xảy ra, ta sẽ không đổ lỗi cho con vì mọi việc con làm đều thật hoàn hảo. Ta chẳng giúp được gì nữa. Con sẽ phải tìm học ở một người khác thôi”. Điều này hiếm khi xảy ra bởi vì các đồ đệ không bao giờ có thể thụ pháp trọn vẹn như thế. Thường thì thầy sẽ nói: “Bởi vì con không làm tốt nên

chẳng có gì xảy ra”. Nhưng Thái tử Tất Đạt Đa làm rất tốt, hoàn hảo đến mức không người thầy nào có thể nói: “Con chưa làm tốt”. Cho nên họ phải chấp nhận thất bại. Họ phải nói: “Đây là tất cả những gì ta có thể dạy, và con đã làm được nhưng không có gì xảy ra, vậy nên tốt hơn hết là con hãy tìm đến người thầy khác. Con không thuộc về ta”. Thái tử đã chu du tầm sư học đạo suốt sáu năm, thậm chí còn thực hành cả những giáo pháp ngớ ngẩn nhất. Ngài được dạy phải nhịn ăn, thế là ngài nhịn ăn hàng tháng ròng. Ngài nhịn ăn suốt sáu tháng, chỉ dùng một lượng thức ăn rất nhỏ hai lần mỗi tháng. Ngài trở nên ốm yếu giống như bộ xương. Toàn bộ da thịt hồng hào biến mất, ngài trông như xác chết. Ngài trở nên ốm yếu đến mức không thể đi lại được. Cuối cùng, ngài yếu đến độ phải nhắm mắt lại để thiền và ngất xỉu. Một ngày kia, khi đang tắm ở sông Niranjana, ngay gần Bồ Đề Đạo Tràng (Bodhgaya), thái tử yếu đến mức không thể bơi qua sông. Ngài ngã xuống và nghĩ rằng mình sắp chết đuối; đó là giây phút cuối cùng, cái chết đã đến. Ngài yếu đến mức không thể bơi. Bỗng ngài nắm được một nhành cây và trụ lại ở đó. Và lần đầu tiên, ngài nhận ra “Nếu ta yếu đến mức không thể bơi qua con sông nhỏ này vào mùa hè khi nước gần như cạn khô, giống như một con suối nhỏ, nếu không thể băng qua con suối nhỏ này, làm sao ta có thể băng qua đại dương rộng lớn của thế giới? Làm sao ta có thể vượt lên khỏi thế giới này? Dường như đó là điều không thể. Ta đang làm một việc ngu ngốc”. Cần phải làm gì đây? Ngài vượt sông tối hôm đó và ngồi xuống dưới một gốc cây, mà về sau là cây bồ đề. Và đêm đó, khi trăng lên, đó là một đêm trăng rằm, ngài nhận ra rằng mọi nỗ lực đều vô ích. Ngài nhận ra rằng mình không đạt được điều gì, chính ý nghĩ về thành tựu kia là vô nghĩa. Ngài đã làm mọi việc. Ngài đã xong với thế giới này, với thế giới của khát vọng này. Ngài sẽ là vua của một đất nước và đã biết mọi khao khát, ngài đã nếm trải mọi khao khát. Ngài đã xong với tất cả, không còn gì để làm, không còn gì

xứng đáng. Và trong sáu năm, ngài đã thực hành mọi phương pháp khổ hạnh, mọi phương pháp thiền, yoga, tất cả, và không có gì xảy ra. Do đó, ngài nói: “Giờ không còn gì khác ngoài cái chết. Không còn gì để đạt đến, và mọi ý nghĩ về thành tựu đều vô nghĩa; khát vọng của con người chỉ là phù phiếm”. Cho nên ngài đã từ bỏ mọi cố gắng vào đêm hôm đó. Ngài ngồi dưới gốc cây, thư giãn, thả lỏng, không mục tiêu, không có nơi để đi, không có gì cần đạt đến, không có gì xứng đáng để hướng tới. Khi bạn ở trong trạng thái đó, tâm trí sẽ thả lỏng, không tương lai, không khát vọng, không mục tiêu, không nơi nào để đi, vậy phải làm gì? Ngài chỉ đơn giản ngồi đó, giống như thân cây. Ngài ngủ cả đêm hôm đó; và sáng ra, ngài nói rằng lần đầu tiên trong đời ngài thực sự ngủ, bởi vì nếu có nỗ lực, nỗ lực đó sẽ tiếp diễn trong cả giấc ngủ. Những người kiếm tiền và theo đuổi đồng tiền sẽ tiếp tục thấy mình đang đếm tiền trong cả giấc mơ. Những người theo đuổi quyền lực chính trị sẽ tiếp tục tham gia các cuộc bầu cử ngay cả trong giấc mơ. Các bạn đều biết rằng khi tham dự một kỳ thi đại học, thì trong giấc ngủ, bạn cũng mơ thấy mình đang dự thi; cứ lặp đi lặp lại hình ảnh bạn đang ngồi trả lời các câu hỏi trong phòng thi. Cho nên dù là nỗ lực gì thì nó sẽ tiếp diễn trong cả giấc ngủ, và luôn luôn tồn tại nỗ lực cho điều gì đó. Đêm đó không có nỗ lực. Đức Phật nói: “Ta đã ngủ lần đầu tiên trong hàng triệu kiếp sống. Đó là đêm đầu tiên ta ngủ”. Giấc ngủ đó trở thành samadhi (Định). Và khi thức dậy vào buổi sáng, Đức Phật nhìn thấy ngôi sao cuối cùng biến mất. Ngài thực sự nhìn. Lần đầu tiên, đôi mắt Đức Phật giống như một tấm gương soi, không chứa đựng điều gì, chỉ trống rỗng, không có gì phản chiếu. Ngôi sao cuối cùng biến mất, và Đức Phật nói: “Cùng với ngôi sao đang biến mất đó, ta cũng biến mất. Ngôi sao biến mất và ta cũng biến mất” bởi vì cái tôi chỉ tồn tại bằng nỗ lực. Nếu bạn nỗ lực, cái tôi sẽ được nuôi dưỡng, bạn đang làm một việc gì đó, bạn đang tìm đến một nơi nào đó, bạn đang tìm cách đạt được điều gì đó. Vậy thì khi không có nỗ lực, làm sao bạn có thể tồn tại?

Ngôi sao cuối cùng biến mất, “Và ta cũng biến mất”, Đức Phật nói. “Ta nhìn, bầu trời trống rỗng; rồi ta nhìn vào bên trong, chẳng có gì – anatta, vô ngã. Không có ai cả”. Tương truyền rằng Đức Phật cười vào toàn bộ những điều ngớ ngẩn này. Không ai có thể đạt đến một nơi nào đó. Không ai có thể đạt được mục tiêu, không ai có thể đạt được tự do, không ai cả, không bản thể. Khoảng trống không có ở bên ngoài, khoảng trống ở bên trong. “Và ở khoảnh khắc hoàn toàn không cố gắng đó, ta đã hoàn thành, ta đã nhận ra”. Nhưng đừng đến ngồi dưới gốc cây, và đợi ngôi sao cuối cùng biến mất. Đừng chờ đợi với ý nghĩ rằng khi ngôi sao cuối cùng biến mất, bạn cũng sẽ biến mất. Sáu năm ròng rã đó chính là tiền đề cho sự biến mất kia. Cho nên, vấn đề ở đây là: không ai đạt được điều gì khi không cố gắng, và cũng không ai đạt được điều gì khi cố gắng. Khi sự cố gắng đạt đến trạng thái như không cố gắng, sự tỉnh thức sẽ xảy ra. *** Đức Phật đã mang một khái niệm thiền hoàn toàn mới đến thế giới này. Trước Đức Phật, thiền là việc mà bạn phải làm một hoặc hai lần mỗi ngày, một giờ vào buổi sáng, một giờ vào buổi chiều, và tất cả chỉ có thế. Đức Phật đã mang đến một cách hiểu hoàn toàn mới về toàn bộ quá trình thiền. Ngài nói rằng kiểu thiền mà bạn thực hiện một giờ vào buổi sáng, một giờ vào buổi tối, hoặc có thể bốn, năm lần mỗi ngày đó không có nhiều giá trị. Thiền không thể là thứ bạn có thể tách rời khỏi cuộc sống trong một giờ hay mười lăm phút. Thiền phải đồng điệu với cuộc sống, nó phải tự nhiên giống như hơi thở. Bạn không thể chỉ thở một giờ vào buổi sáng, một giờ vào buổi tối, vì nếu như thế, buổi tối sẽ không bao giờ đến. Nó phải giống như hơi thở – ngay cả khi ngủ, bạn vẫn thở. Bạn có thể bị hôn mê nhưng vẫn tiếp tục thở.

Đức Phật nói rằng thiền phải là một hiện tượng thường trực; chỉ khi đó nó mới có thể biến đổi bạn. Và ngài đã đưa ra một kỹ thuật thiền mới. Sự cống hiến vĩ đại nhất của ngài cho thế giới này là vipassana. Vipassana là một từ tiếng Pali, ngôn ngữ mà ngài thường sử dụng để nói… bởi khi còn là thái tử, ngài đã được dạy cho tiếng Sanskrit, thứ ngôn ngữ văn chương. Nhưng khi nói, ngài không bao giờ sử dụng loại ngôn ngữ này bởi nó là ngôn ngữ của các tăng lữ, trí thức, không phải của thường dân. Sanskrit chưa bao giờ là thứ ngôn ngữ dùng cho cuộc sống hàng ngày. Nó chứa đựng tính độc đáo so với tất cả các ngôn ngữ khác trên thế giới, nó chỉ được sử dụng bởi giới trí thức, học giả; và bởi vì không hiểu, không nhận biết nên đám đông cảm thấy nó thần bí. Nếu được dịch nghĩa ra, nó không có gì đặc biệt, thậm chí vô nghĩa, nhưng âm thanh của nó chứa đầy nhạc tính. Nó sở hữu cấu trúc hoàn hảo nhất trong số các ngôn ngữ trên thế giới. Nó rất toàn diện – năm mươi hai chữ cái trong bảng chữ cái, tiếng Anh chỉ có hai mươi sáu chữ cái, không có hai mươi sáu chữ cái còn lại. Tiếng Sanskrit phong phú gấp đôi bởi nó có khả năng thể hiện mọi âm thanh, không có âm thanh nào không hiện diện trong bảng chữ cái của ngôn ngữ này. Những sắc thái khó mô tả nhất cũng được cân nhắc – những âm thanh khó phát âm, những âm thanh hiếm khi được con người sử dụng nhưng có thể sử dụng, đều hiện diện trong ngôn ngữ này. Nhưng Phật Thích Ca Mâu Ni quyết định nói thứ ngôn ngữ của đại chúng. Đó là một bước tiến mang tính cách mạng, bởi vì ngôn ngữ của đám đông không đúng về mặt ngữ pháp. Nhờ được sử dụng, nhờ những con người bình thường thay đổi âm thanh, ngữ điệu, các từ ngữ trở nên dễ sử dụng hơn và không còn phức tạp. Pali là thứ ngôn ngữ đơn giản, và là ngôn ngữ của những con người ngây thơ, không có học thức. Vipassana chính là ngôn ngữ của họ. Nghĩa đen của từ này là “nhìn”, còn nghĩa bóng là “thấy, chứng kiến”.

Phật Thích Ca Mâu Ni đã chọn một kiểu thiền có tên gọi là tâm thiền. Tất cả các kiểu thiền khác đều là sự chứng kiến theo nhiều cách khác nhau. Việc chứng kiến hiện diện như là một phần thiết yếu trong mọi kiểu thiền, không thể tránh được. Đức Phật đã xóa bỏ mọi thứ khác và chỉ giữ lại phần thiết yếu: chứng kiến. Có ba bước chứng kiến – Đức Phật là người có tư duy rất khoa học. Ngài bắt đầu với thể xác trước bởi vì đó là cách dễ nhất. Thật dễ khi thấy bàn tay cử động, cánh tay đưa lên. Ta có thể thấy mình bước đi trên đường, ta có thể thấy từng bước chân của mình. Ta có thể nhìn thấy mình đang ăn. Cho nên bước đầu tiên trong vipassana – bước đơn giản nhất – là chứng kiến các hành động của cơ thể. Và khi chứng kiến hành động của cơ thể, bạn sẽ bất ngờ trước trải nghiệm mới mẻ đó. Khi chứng kiến cử động tay bằng sự tỉnh táo, nhận biết, bạn sẽ cảm nhận được sự uyển chuyển, duyên dáng và cả sự tĩnh lặng ở tay của mình. Bạn có thể cử động tay mà không cần chứng kiến; nó sẽ di chuyển nhanh hơn nhưng sẽ không có sự duyên dáng. Đức Phật bước đi rất chậm, chậm đến mức nhiều lần được hỏi vì sao lại bước đi chậm đến vậy, Đức Phật đáp: “Đây là một

Đầu truyệnChương Sau

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 6

T
Trần Thế VIP 12· 10 phút trước

Truyện này đọc cuốn dã man! Đoạn cao trào xử lý quá mượt, đề cử ae đọc mạnh nhé.

L
Lâm Phong VIP 3· 1 giờ trước
⚠️ Bình luận có chứa Spoil (Bấm để xem)

Ai đọc rồi cho hỏi đoạn sau nhân vật chính có gặp lại sư phụ không vậy?

B
Bạch Tiểu Thuần· 3 giờ trước

Web đọc mượt thật sự, không có quảng cáo nhảy lung tung như mấy web khác. 10 sao!