phần mà họ không chọn. Còn thánh nhân cũng đau khổ bởi vì họ đã kìm nén điều gì đó không thể hủy diệt được, thứ vô cùng thiết yếu trong bản thể của họ.
Nếu nhìn sâu vào phần thánh nhân của bạn, bạn sẽ tìm thấy kẻ tội đồ đang ẩn nấp đâu đó trong vô thức. Và tương tự với kẻ tội đồ, hãy nhìn sâu vào và bạn sẽ tìm thấy một thánh nhân đang ẩn nấp đâu đó trong vô thức. Tâm thức của thánh nhân là vô thức của kẻ tội đồ, còn tâm thức của kẻ tội đồ là vô thức của thánh nhân. Nhà hiền triết không phải là thánh nhân, cũng không phải là kẻ tội đồ. Ông ấy không là ai cả. Ông ấy không chọn ai cả. Ông ấy chấp nhận tất cả; ông ấy là trọn vẹn, ngày cũng như đêm. Ông ấy đã từ bỏ việc không ngừng lựa chọn cái tôi. Ông ấy chỉ đơn giản chấp nhận bất cứ điều gì. Ông ấy sống trong sự thật trần trụi, cho dù đó là gì ông ấy đều không can thiệp vào dòng chảy của cuộc sống. Nhà hiền triết là một hiện tượng vô cùng tuyệt đẹp bởi vì sự nguyên vẹn của người đó. Nhà hiền triết là một vòng tròn hoàn hảo. Ông ấy chứa đựng tất cả, ông ấy không từ chối điều gì. Đó chính là ý nghĩa của sophos; đó là một từ đẹp. Nhưng nó đã đánh mất danh tiếng của mình. Nó thất bại bởi vì nó còn là một từ nguy hiểm: có thể dễ dàng được sử dụng bởi những kẻ xảo trá. Bởi vì nhà hiền triết là nguyên vẹn, ông ấy là cả hai, nên giờ kẻ tội đồ có thể sử dụng nó. Người này có thể nói: “Ta là cả hai. Ta không lựa chọn dù đó là gì…”. Giờ thì kẻ tội đồ có thể giả làm nhà hiền triết. Hắn ta có thể nói: “Bởi vì nó là thế, khoảnh khắc này tôi giống như thế này. Điều này đang xảy ra, tôi có thể làm được gì? Tôi đã từ bỏ lựa chọn. Tôi đã chấp nhận cuộc sống với sự trọn vẹn của nó”. Giờ đây, nhà hiền triết là một hiện tượng hoàn toàn khác với con người xảo trá này. Người này sử dụng lời lẽ và lời lẽ đó kết nối với tâm trí xảo trá. Nó trở thành một lớp ngụy trang để làm bất cứ điều gì bạn muốn. Tận sâu bên trong vẫn có lựa chọn, nhưng bạn có thể giả vờ ngoài mặt rằng mình không
phải là người kén chọn, và bạn sống trong sự tỉnh thức không lựa chọn. Đó là một sự xảo trá rất tinh vi. Do đó, từ “sophos” rơi ra khỏi bệ đỡ của nó và trở thành “sophist”. Từ “sophist” là một từ xấu xí, nó có nghĩa là “kẻ giả vờ”. Nó có nghĩa là ai đó đang giả làm nhà hiền triết nhưng thực chất không phải, ai đó đang giả làm nhà hiền triết nhưng thực tế còn không phải là một thánh nhân. Người đó chỉ là một kẻ tội đồ nhưng đã tìm thấy được cách để hợp lý hóa việc mình vẫn là kẻ tội đồ. Kẻ sát nhân có thể nói: “Tôi có thể làm được gì? Thượng đế muốn giết người thông qua tôi”. Tên trộm có thể nói: “Tôi có thể làm được gì? Đó là cách Thượng đế ra lệnh cho tôi. Tôi chỉ tuân lệnh thôi”. Và thật khó để tranh luận với anh ta; anh ta có lý do vô cùng hợp lý. Do đó, sophos thất bại và trở thành sophist. Và điều tương tự cũng xảy ra với sophia: sự thông thái không phải là kiến thức, nhưng chúng giống nhau. Kiến thức chỉ làm ra vẻ thông thái; nó chỉ là cực đối lập với sự thông thái. Kiến thức luôn được vay mượn, và bởi vì được vay mượn nên về cơ bản nó không thật. Sự thông thái nảy sinh trong bạn. Nó là quá trình bung nở của bạn, nó là hương thơm của bạn. Nó là quá trình tự hiểu, tự biết. Bạn trở nên tỏa sáng trong đêm; bạn đạt đến sự hiện diện vững chắc. Bạn có trọng tâm, bạn cảm thấy bén rễ, hợp nhất; bạn không còn là một mảnh ghép, bạn là một. Sự thông thái là một cuộc cách mạng trong bản thể của bạn, kiến thức chỉ là thứ rác rưởi. Bạn có thể thu thập kiến thức từ người khác; nó không thay đổi bạn, bạn vẫn là bạn. Dĩ nhiên, bạn trở nên thật lộng lẫy, bạn có nhiều chiếc mặt nạ xinh đẹp, nhưng khuôn mặt thật của bạn vẫn như cũ. Bạn cứ mãi tích lũy kiến thức, bộ nhớ của bạn trở nên ngày càng giàu có, nhưng
bản thể của bạn vẫn nghèo nàn. Kiến thức có thể giả vờ mình thông thái; cả hai đều sử dụng cùng một ngôn ngữ. Sophia là sự thông thái. Sự thông thái diễn ra ngay bên trong nội tâm của bản thể. Sự thông thái không bao giờ là vay mượn, nó không có liên quan gì đến kiến thức, thông tin, không liên quan gì đến kinh sách, học thuyết, các hệ thống tư tưởng. Nó là trải nghiệm của riêng bạn, cá nhân và nguyên bản. Bạn đã biết. Bạn đã đến. Do đó, nó là sophos, nó là sự thông thái. Nếu bạn chỉ đơn giản lặp lại trải nghiệm của người khác, đó là sophistry, đó là kiến thức – không còn dùng được nữa, vô nghĩa, chẳng là gì ngoài những câu nói lắp bắp. Bạn có thể dùng nó để trang trí cho mình, bạn có thể củng cố cái tôi của mình thông qua nó, nhưng bạn sẽ không biết được sự thật. Sophos thất bại và xuất hiện một hiện tượng xấu xí – sophist. Sophia thất bại và sophistry đến thay thế. Sophistry (phép ngụy biện) là tranh luận, không quan tâm đến sự thật. Nó chỉ là một kiểu phân tích thuộc ngôn ngữ, dĩ nhiên là logic, hợp lý, nhưng không mang tính trực giác, không mang tính trải nghiệm. Bạn có thể tiếp tục tranh luận và phỏng đoán, nhưng cho dù có tranh luận hàng ngàn năm, bạn sẽ không đến được với sự thật, bởi vì sự thật không bao giờ là một kết luận, một kết luận của bất kỳ quy trình logic nào. Sự thật không phải là thứ được phát minh bởi logic: sự thật phải được khám phá bằng tình yêu. Con đường đến với sự thật không phải bằng logic mà bằng tình yêu. Sự thông thái là tình yêu, kiến thức là logic. Và bất cứ khi nào logic bắt đầu làm ra vẻ “Tôi là cánh cửa, tôi là con đường đến với sự thật”, sự thật sẽ biến mất khỏi thế giới. ***
Pythagoras phải đặt ra những từ mới, và ông ấy đã tạo ra những từ thật đẹp. “Philosophy” có nghĩa là tình yêu minh triết, không phải tình yêu kiến thức. Hãy nhớ, đó là tình yêu minh triết. Kiến thức thuộc về trí tuệ, còn sự thông thái thuộc về trực giác. Kiến thức thuộc về cái đầu, sự thông thái thuộc về trái tim. Do đó mới có tình yêu, không phải logic mà là tình yêu, không phải tính toán mà là sự trong sáng, không phải xảo trá mà là trí thông minh, không phải khả năng trí óc mà là khả năng hiểu biết. Và ông ấy cũng đã tạo ra từ “philosopher”, một người bạn của thông thái. Bạn đã từng quan sát chưa? Bất cứ khi nào bắt đầu tranh luận với ai đó, bạn quan tâm đến cái tôi của mình nhiều hơn là sự thật. Đôi khi, bạn thậm chí nhìn thấy cả chỗ sai trong tranh luận của mình nhưng bạn không chấp nhận bởi vì nó làm tổn thương cái tôi của bạn. Bạn tranh luận bởi vì đó là ý kiến của bạn, không phải nó đúng. Bạn phản bác ý kiến của người khác bởi vì nó là ý kiến của anh ta, không phải vì nó không đúng. Tranh luận nảy sinh không phải vì sự thật mà vì hành trình của cái tôi. Khi đó, nó sẽ là lời ngụy biện. Khi đó, nó sẽ là một hiện tượng rất xấu. Bạn yêu một người phụ nữ, đó là một trải nghiệm tuyệt vời. Tình yêu giữa một người đàn ông và một người phụ nữ chứa đựng sự thật to lớn – một loại hương thơm của riêng nó, một kiểu hạnh phúc. Đó là một trong những bí ẩn kỳ diệu nhất của cuộc sống. Nhưng việc tìm đến gái mại dâm, nó không còn là điều kỳ diệu nữa. Về mặt thể xác thì giống nhau nhưng hoàn toàn khác nhau về tinh thần. Mại dâm là một hiện tượng xấu xí: người yêu thương của bạn phải là thứ gì đó thiêng liêng. Triết học cũng giống như người yêu thương của bạn, còn sophistry (sự ngụy biện) chẳng khác nào kẻ mại dâm. *** Pythagoras cũng giới thiệu từ “cosmos”. “Cosmos” có nghĩa là vũ trụ, trật tự, nhịp điệu, sự hòa hợp. Hiện hữu không phải là trạng thái hỗn loạn mà là
một trật tự. Pythagoras đã có nhiều đóng góp cho tư tưởng của nhân loại, cho sự tiến hóa của con người. Tầm nhìn của ông ấy về một cosmos đã trở thành nền tảng cho nghiên cứu khoa học. Khoa học chỉ có thể tồn tại nếu sự hiện hữu là một hệ thống hài hòa, trật tự. Nếu nó là một trạng thái hỗn loạn, sẽ không có cơ sở nào cho khoa học. Nếu các quy luật thay đổi mỗi ngày, mỗi khoảnh khắc – có ngày nước bốc hơi ở 100 độC, có ngày nước bốc hơi ở 500 độC – nếu nước vận hành theo cách kỳ quái và không tuân theo trật tự nào, vậy làm sao có khoa học được? Khoa học giả định rằng sự hiện hữu hoạt động theo cách nhất quán, hợp lý, rằng sự hiện hữu không bị điên, rằng nếu đi sâu vào bên trong sự hiện hữu, chúng ta sẽ tìm thấy các quy luật – và những quy luật này chính là chìa khóa cho mọi bí ẩn. Điều này đúng với khoa học, nên cũng đúng với tôn giáo, bởi vì tôn giáo không là gì khác ngoài khoa học nội tâm. Khoa học bên ngoài được gọi là khoa học; còn khoa học bên trong được gọi là tôn giáo – nhưng cả hai chỉ có thể tồn tại trong một hệ thống hài hòa, trật tự. Có những quy luật trong thế giới nội tâm. Những quy luật này đã được khám phá như là quy luật khoa học. Cả quy luật khoa học và quy luật tôn giáo đều không được phát minh. Sự thật là bạn không cần phải phát minh ra nó. Bất cứ thứ gì bạn phát minh ra đều không thật. Sự thật phải được khám phá, không phải được phát minh. Einstein khám phá ra một quy luật; Patanjali cũng khám phá ra một quy luật; Newton khám phá ra lực hấp dẫn; Krishna khám phá ra sự duyên dáng. Cả hai đều là quy luật – một thuộc về trái đất, một thuộc về bầu trời; một thuộc về thế giới tất yếu, một thuộc về thế giới quyền lực; một thuộc về cái hữu hình, một thuộc về cái vô hình.
Chính trong tầm nhìn về một cosmos mà Pythagoras đã trở thành người tạo ra khái niệm khoa học của thế giới. Ông ấy là nhà khoa học đầu tiên bởi vì ông ấy đã cung cấp nền tảng của nó. Ý nghĩ của ông ấy về cosmos phải được hiểu bởi vì nếu không hiểu, bạn sẽ không thể nào hiểu được ông ấy đang nói về điều gì. Thế giới nội tâm, thế giới của tinh thần, tuân theo các quy luật nhất định, và những quy luật này không thay đổi, chúng là bất diệt. Những quy luật này không theo nguyên tắc thời gian, chúng vượt lên trên thời gian. Thời gian sẽ vận hành bên trong những quy luật này. Nếu muốn làm điều gì đó ở thế giới bên ngoài, bạn cần phải biết cách vận hành của sự hiện hữu bên ngoài, bởi vì nếu không biết cách vận hành của nó, bạn chắc chắn sẽ thất bại. Thiên nhiên không có nghĩa vụ điều chỉnh theo bạn, bạn sẽ phải điều chỉnh theo thiên nhiên. Bạn chỉ có thể chiến thắng thiên nhiên khi điều chỉnh bản thân theo thiên nhiên. Bạn cũng có thể trở thành kẻ chinh phục, nhưng không chống lại thiên nhiên, phải theo thiên nhiên, đồng điệu với thiên nhiên. Bạn có thể trở thành bậc thầy của vương quốc nội tâm, nhưng không chống lại các quy luật mà phải hòa nhịp với các quy luật đó. Chính nhờ tầm nhìn thần bí này – rằng thế giới không phải diễn ra ngẫu nhiên, không hỗn loạn, mà là một thế giới vô cùng hòa hợp, trật tự – mà Pythagoras đã khám phá ra nhiều điều cho những người tìm kiếm chân lý. *** Đối với Pythagoras, khoa học là cuộc tìm kiếm chân lý trong thế giới khách quan, còn tôn giáo là cuộc tìm kiếm chân lý trong thế giới chủ quan. Do đó, khoa học và tôn giáo giống như hai cánh tay hoặc đôi cánh. Chúng không đối lập nhau mà bổ trợ cho nhau. Và thế giới sẽ tốt đẹp hơn nếu chúng ta lại được nhắc nhở về điều đó.
Nhà thờ, đền chùa và phòng thí nghiệm không nhất thiết phải là kẻ thù của nhau. Chúng nên tồn tại trong mối quan hệ bè bạn. Con người khi đó sẽ càng giàu có hơn. Lúc này, nếu chọn khoa học, anh ta sẽ trở nên giàu có bên ngoài và tiếp tục nghèo nàn bên trong. Nếu chọn tôn giáo, anh ta sẽ trở nên giàu có bên trong nhưng ngày càng nghèo nàn ở bên ngoài. Và cả hai trường hợp này đều xấu xí. Phương Tây đã chọn khoa học; nó sở hữu tất cả của cải của thế giới, nhưng con người hoàn toàn lạc lối, cảm thấy vô nghĩa, muốn tự sát. Con người, khi nhìn vào bên trong, chẳng thấy gì ngoài sự trống rỗng. Thế giới nội tâm trở nên rất nghèo nàn ở phương Tây. Ở phương Đông, tình huống ngược lại đã xảy ra: người ta chọn tôn giáo và chống lại khoa học. Thế giới nội tâm của họ ngày càng tĩnh lặng, phong phú, nhưng ở thế giới bên ngoài, họ đói khát, sắp chết – không có thực phẩm, không có thuốc men, không có đủ tiện nghi để sống một cuộc sống con người. Đây chính là hậu quả của việc không nghe theo lời Pythagoras. Toàn bộ lịch sử nhân loại hẳn đã rất khác nếu người ta chịu lắng nghe Pythagoras, chịu hiểu ông ấy. Không cần phải phân biệt phương Đông là phương Đông, còn phương Tây là phương Tây. Không cần phải chọn là người theo chủ nghĩa duy vật hay chủ nghĩa duy tâm. Nếu cơ thể và tâm hồn có thể tồn tại cùng nhau – chúng có tồn tại cùng nhau bên trong bạn, bên trong mọi người – vậy sao chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm không thể tồn tại cùng nhau? Chúng nên như thế! Một người phải vừa duy vật vừa duy tâm. Chọn lựa là chết. Không cần phải lựa chọn; bạn có thể có cả hai thế giới – bạn nên có cả hai thế giới; đó là quyền mà bạn có được từ lúc mới chào đời. * Tabula rasa có nghĩa là một tấm thẻ gỗ nhẵn bóng hay tấm bảng trắng, thuật ngữ được dùng trong lý thuyết về nhận thức luận để chỉ việc con người sinh ra chưa hề biết gì về thế giới, còn trắng trong và toàn bộ nguồn
tri thức được xây dựng dần dần từ trải nghiệm và nhận thức về thế giới bên ngoài.
R RABIYA AL-ADABIYA abiya al-Adabiya là một phụ nữ Sufi, được biết đến bởi hành vi rất lập dị của mình. Nhưng ẩn bên trong toàn bộ hành vi lập dị của bà ấy là sự biểu biết vô cùng sâu sắc. Một ngày kia, một nhà thần bí Sufi khác tên là Hasan đến ở lại nhà Rabiya. Bởi vì đến ở cùng với Rabiya nên ông ấy không mang theo cuốn kinh Koran mà ông ấy thường dùng để đọc kinh mỗi sáng. Ông ấy nghĩ rằng có thể mượn cuốn kinh Koran của Rabiya nên đã không mang theo sách của mình. Vào sáng hôm đó, ông ấy hỏi mượn và Rabiya đã đưa cuốn kinh Koran của bà ấy. Khi mở cuốn sách ra, ông nhìn thấy điều mà không một tín đồ Hồi giáo nào có thể tin được: Rabiya đã sửa rất nhiều chỗ trong đó. Đối với người Hồi giáo, đó là tội lỗi lớn nhất bởi vì theo họ, kinh Koran là lời của Thượng đế. Làm sao bạn có thể thay đổi nó? Làm sao bạn thậm chí nghĩ đến việc có thể khiến cho nó tốt hơn? Không chỉ thay đổi, bà ấy còn cắt bỏ một vài chữ, một vài dòng. Hasan nói với bà: – Rabiya, ai đó đã làm hỏng cuốn kinh Koran của bà rồi! Rabiya đáp: – Đừng ngốc thế, không ai được chạm đến cuốn kinh Koran của ta. Những gì ông nhìn thấy là do ta làm đấy. Hasan nói:
– Nhưng sao bà có thể làm một việc như thế? Bà ấy đáp: – Ta phải làm, không có cách nào khác. Chẳng hạn như, hãy nhìn chỗ này, kinh Koran nói: “Khi bạn nhìn thấy quỷ dữ, hãy ghét hắn ta”. Bởi vì đã giác ngộ, tôi không thể tìm thấy sự căm ghét nào trong tôi. Thậm chí quỷ dữ đó có đứng trước mặt tôi, tôi cũng chỉ có thể trao cho anh ta tình yêu thương, bởi tôi không còn lại gì khác. Cho dù Thượng đế hay quỷ dữ đứng trước mặt tôi, cả hai đều nhận được cùng một thứ tình yêu. Tất cả những gì tôi có là tình yêu, lòng căm ghét đã biến mất. Khoảnh khắc căm ghét biến mất, tôi phải sửa lại kinh Koran của mình. Nếu không thay đổi điều đó, có nghĩa là ông chưa đến được không gian nơi chỉ có tình yêu”. *** Rabiya đang đi trên đường – bà ấy không được nhiều người biết đến, đó là thế giới của đàn ông. Ai quan tâm đến một phụ nữ cho dù bà ấy đã giác ngộ? Bà ấy nhìn thấy Hasan đang đứng trước một thánh đường, hai tay giơ thẳng lên trời, cầu xin Thượng đế: “Xin hãy ban cho con thứ này, ban cho con thứ khác”. Rabiya là một phụ nữ hiếm có trong lịch sử. Bà ấy đến đứng phía sau Hasan và đập vào đầu ông ta. Tất nhiên, ông ấy không thể tin được rằng mình đang cầu xin Thượng đế những điều tốt đẹp và bị đánh như thế! Ông ấy nhìn lại và thấy Rabiya. Hasan nói: – Điều này là không đúng đâu, làm phiền người khác khi họ đang cầu nguyện. Rabiya nói:
– Đồ ngốc! Ngươi đang hỏi: “Hãy mở cửa”, còn ta nói với ông rằng cửa chưa bao giờ đóng! Vậy ai sẽ mở chúng? Không có ai đóng, không có ai mở. Chỉ cần đi vào thôi! “Hãy gõ và cửa sẽ mở”. Không có cửa. Nếu gõ, bạn sẽ gõ lên tường. Khi đó, bạn có thể gõ lên đầu bạn, cửa sẽ vẫn không mở. Trong phạm vi của sự hiện hữu, không có cửa. Tất cả đều mở, từ mọi phía. Chỉ cần bước vào từ bất cứ nơi nào, và nơi gần nhất để đi vào là bên trong bạn. Những nơi khác sẽ xa hơn. Sao không bắt đầu từ nơi bạn đang đứng? Do đó, đầu tiên, hãy đi vào nơi bạn đang đứng – vững chắc, ngay tâm điểm của chính bạn – và điều kỳ diệu là bạn sẽ không cần phải đi đâu nữa. Không cần gõ cửa, cửa sẽ mở. Tâm điểm của bạn chính là cánh cửa, cánh cửa đã mở cho toàn thể vũ trụ. *** Một buổi tối, khi mặt trời xuống núi, người ta thấy Rabiya đang tìm kiếm điều gì đó ngay trên con đường trước cửa nhà mình. Một vài người đến hỏi: “Rabiya, bà đã đánh mất cái gì? Chúng tôi có thể giúp”. Ngày đó, Rabiya đã già nhưng được mọi người yêu mến bởi vì bà ấy điên một cách đáng yêu. Rabiya đáp: – Ta làm mất cây kim. Ta đang may đồ và làm mất nó. Ta đang tìm cây kim, và không còn nhiều thời gian bởi vì mặt trời sắp lặn. Nếu muốn giúp ta thì hãy nhanh lên, bởi vì khi mặt trời lặn và bóng tối bao phủ, ta sẽ không thể nào tìm thấy cây kim. Cho nên mọi người vội vàng đổ xô đi tìm cây kim. Một trong số họ bỗng nghĩ: – Cây kim là một vật rất nhỏ, còn con đường thì lại quá lớn. Mặt trời sắp lặn và ánh sáng sắp tắt, nếu không biết chính xác vị trí đánh rơi, thật khó để
tìm thấy nó. Nên người đó hỏi Rabiya: – Bà có thể cho chúng tôi biết chính xác nơi làm rơi cây kim được không? Vậy sẽ dễ tìm hơn. Nếu không trời sẽ tối, con đường lại quá lớn, còn cây kim lại quá nhỏ. Rabiya bắt đầu cười. Bà ấy nói: – Làm ơn đừng hỏi nữa, bởi vì ta cảm thấy xấu hổ vì câu hỏi! Mọi người đều dừng lại hỏi: – Có chuyện gì sao? Sao bà lại cảm thấy xấu hổ? Bà ấy đáp: – Ta cảm thấy xấu hổ bởi vì ta đánh mất cây kim trong nhà, nhưng bởi vì trong đó không có ánh sáng, làm sao ta tìm thấy nó? Bên ngoài con đường này còn chút ánh sáng từ mặt trời. Tất cả đáp: – Giờ thì bà điên thật rồi! Chúng tôi luôn nghi ngờ rằng bà không bình thường, nhưng bằng chứng rành rành đây rồi! Rabiya nói: – Các người nghĩ tôi điên nhưng các người đang làm điều tương tự, còn cho rằng mình tỉnh táo? Các người đánh mất chính mình ở đâu, và các người tìm kiếm nó ở đâu? Các người đánh mất phúc lành của mình ở đâu, và đang nỗ lực tìm kiếm nó ở đâu? Nó bị mất trong thế giới nội tâm của các người, còn các người lại tìm kiếm ở thế giới bên ngoài!
Một câu chuyện khác… Một ngày kia, Hasan đến nhà Rabiya. Ông ấy vừa biết cách đi trên mặt nước, ông ấy nói với Rabiya: – Hãy cùng đi trên mặt nước và thực hiện một cuộc đàm đạo tinh thần nho nhỏ. Cuộc đàm đạo tinh thần đó chỉ là cái cớ; ông ấy muốn cho Rabiya thấy rằng mình có thể bước đi trên mặt nước. Rabiya nói: – Trên mặt nước ư? Nghe chẳng hấp dẫn gì với ta. Hãy đi trên những đám mây đi! Chúng ta sẽ ngồi trên những đám mây và trò chuyện. Hasan đáp: – Nhưng tôi không biết cách lên đến những đám mây và ngồi trên đó. Rabiya nói: – Tôi cũng không biết! Nhưng quan trọng gì chứ? Sao chúng ta không ngồi trao đổi ở đây? Sao phải đi trên mặt nước hay trên những đám mây? Tất cả những nhà thần bí vĩ đại đều chống lại các phép mầu, còn tất cả những tên ngốc lại thích thú với phép mầu.
R JALALUDDIN RUMI umi nói: “Hãy di chuyển bên trong, nhưng đừng di chuyển như cách bạn di chuyển vì sợ”. Những lời nói của Mevlana Rumi có ý nghĩa vô cùng to lớn. Rất ít người có khả năng tác động và làm biến đổi nhiều người như Jalaluddin Rumi. Trong thế giới của các tín đồ Sufi, Mevlana Rumi là một vị hoàng đế. Những lời nói của ông ấy không nên được hiểu là những lời lẽ thuần túy, mà là khởi nguồn của sự tĩnh lặng sâu, là tiếng vang của những khúc hát nội tâm. Ông ấy là một người khiêu vũ vĩ đại mà thế giới từng biết. Mười hai thế kỷ đã trôi qua kể từ khi ông ấy còn sống. Điệu nhảy của ông là một điệu nhảy đặc biệt. Đó là kiểu xoay tít, giống như cách trẻ con hay làm; đứng tại một điểm và cứ xoay tròn. Và có lẽ, bất cứ nơi nào trên thế giới này, khi trẻ con làm điều đó, người lớn thường bảo chúng dừng lại và nói: “Con sẽ bị chóng mặt, con sẽ ngã, con sẽ làm đau chính mình” và “Chẳng hiểu chúng làm vậy để làm gì không biết nữa?”. Jalaluddin Rumi tiến hành thiền bằng điệu xoay này. Ông ấy cứ xoay trong nhiều giờ khi nào cơ thể còn cho phép; ông ấy không tự mình dừng lại. Khi xoay, có khoảnh khắc ông ấy nhìn thấy mình hoàn toàn tĩnh lặng, trở thành tâm điểm của luồng gió xoáy đó. Quanh tâm điểm, cơ thể đang di chuyển, nhưng có một không gian vẫn đứng im, đó là bản thể của ông ấy. Rumi xoay trong ba mươi sáu giờ liên tục và ngã xuống, bởi vì cơ thể của ông ấy không thể xoay được nữa. Nhưng khi mở mắt ra, ông ấy là một
người khác. Hàng trăm người đã tụ tập lại xem. Nhiều người nghĩ ông ấy bị điên: “Xoay vậy để làm gì?”. … Không ai có thể nói rằng đây là cầu nguyện, không ai có thể nói rằng đây là điệu nhảy vĩ đại; không ai có thể nói rằng điều này có liên quan đến tôn giáo, đến tâm linh… Nhưng sau ba mươi sáu giờ khi họ nhìn thấy Rumi thật tỏa sáng, thật rạng rỡ, thật tươi mới – hồi sinh trong một tâm thức mới, họ không thể tin vào mắt mình. Hàng trăm người đã khóc lóc hối hận, bởi vì họ đã nghĩ rằng ông ấy bị điên. Trên thực tế, ông ấy tỉnh táo còn họ bị điên. Và suốt mười hai thế kỷ, dòng suối tiếp tục sống động. Có rất ít sự chuyển động trong phát triển tâm linh có thể duy trì lâu như vậy. Vẫn còn hàng trăm tu sĩ. “Dervish” là từ mà dòng Sufi dùng để chỉ các khất sĩ. Bạn không thể tin nó trừ khi tự mình trải nghiệm, chỉ bằng cách tự xoay, bạn có thể tự mình hiểu được. Không cần phải chọn phương pháp khổ hạnh, không cần tự tra tấn, mà chỉ trải nghiệm bản thể nội tâm của mình và bạn sẽ đi vào một chiều hiện hữu khác từ khả tử sang bất tử. Bóng tối biến mất và chỉ còn lại ánh sáng vĩnh cửu. Ngôn từ của ông ấy phải được hiểu thật cẩn thận bởi vì ông ấy không nói nhiều – chỉ một vài bài thơ nhỏ. Phát biểu của ông ấy, “Hãy di chuyển bên trong, đừng di chuyển như cách bạn di chuyển vì sợ”, là một câu nói thật đẹp. Đừng di chuyển như cách bạn di chuyển vì sợ. Hãy di chuyển như cách bạn di chuyển vì tình yêu. Hãy di chuyển như cách bạn di chuyển vì niềm vui – không phải vì nỗi sợ, bởi vì tất cả những thứ được gọi là tôn giáo đều dựa trên nỗi sợ. Thượng đế của họ không là gì ngoài nỗi sợ, thiên đường và địa ngục không là gì ngoài sự phóng chiếu từ nỗi sợ và lòng tham của họ.
Phát biểu của Rumi có tính cách mạng: Đừng di chuyển vì nỗi sợ. Các tôn giáo đều nói với mọi người: “Hãy sợ Thượng đế!”. Bạn có thể sợ bất cứ ai, nhưng đừng sợ Thượng đế, bởi vì Thượng đế chỉ có thể tiếp cận thông qua tình yêu. Thượng đế không phải là một con người mà là nhịp đập của vũ trụ. Nếu bạn có thể ca hát bằng tình yêu, nhảy múa bằng tình yêu… một hoạt động bình thường như xoay người vì tình yêu… Niềm vui và sự ăn mừng là đủ để đạt đến thánh địa thâm sâu nhất của bản thể và sự hiện hữu. Tất cả các bạn đều đã sống trong sợ hãi. Các mối quan hệ của bạn bắt nguồn từ nỗi sợ. Nỗi sợ quá lấn át – giống như đám mây đen che phủ cuộc sống của bạn – đến mức bạn nói những điều mình không muốn nói, nhưng vì sợ hãi nên bạn nói ra. Bạn làm những điều mà mình không muốn làm, nhưng nỗi sợ khiến bạn làm. Chỉ cần một chút hiểu biết cũng đủ để nhìn thấy… Hàng triệu người đang tôn thờ những hòn đá do chính họ chạm khắc nên. Họ đã tạo ra Thượng đế của họ, rồi tôn thờ chúng. Điều đó phải bắt nguồn từ nỗi sợ rất lớn, bởi vì bạn có thể tìm thấy Thượng đế ở đâu? Cách dễ dàng nhất là khắc một Thượng đế bằng đá cẩm thạch thật đẹp rồi tôn thờ. Và không ai nghĩ rằng đó là việc làm hoàn toàn ngu ngốc, bởi vì mọi người đều đang làm điều này theo nhiều cách khác nhau – một số người thực hiện trong đền đài, số khác trong nhà thờ, số khác nữa trong giáo đường; điều đó chẳng có gì khác biệt. Điểm mấu chốt là như nhau, rằng những gì bạn đang làm là xuất phát từ nỗi sợ – những lời cầu nguyện của bạn chứa đầy nỗi sợ. Rumi đưa ra một tuyên bố phi thường, một tuyên bố mang tính cách mạng: “Hãy di chuyển bên trong, nhưng đừng di chuyển như cách bạn di chuyển vì sợ”. Vậy thì cách di chuyển bên trong đó là gì? Sao không di chuyển một cách thật hài hước? Sao không biến tôn giáo của bạn thành một trò vui? Sao
phải nghiêm túc? Sao không di chuyển một cách vui vẻ – giống như những đứa trẻ chạy đuổi bắt bướm không vì một lý do nào cả? Chỉ có niềm vui của sắc màu, vẻ đẹp của những bông hoa, của bướm là đủ – và chúng lại vô cùng hạnh phúc. Trong mỗi hai mươi bốn giờ, hãy tìm một vài khoảnh khắc không sợ hãi, có nghĩa là trong những khoảnh khắc này, bạn không đòi hỏi gì cả. Bạn không đòi hỏi phần thưởng, bạn không lo lắng về hình phạt; bạn chỉ đơn giản tận hưởng điệu xoay, di chuyển hướng vào bên trong. Thực ra, ngay từ đầu, điều này có thể hơi khó thực hiện. Khi di chuyển vào trong một chút, bạn sẽ tự nhiên cảm thấy hân hoan, vui đùa, thích cầu nguyện. Lòng biết ơn sẽ xuất hiện trong bạn mà bạn chưa từng biết trước đây và một không gian mở ra vô tận, bầu trời nội tâm của bạn. Bầu trời nội tâm của bạn không thua kém gì bầu trời bên ngoài: nó có những vì sao, mặt trăng, các hành tinh và cả sự mênh mông của riêng nó; nó có đúng với những gì mà bạn nhìn thấy ở vũ trụ rộng lớn bên ngoài. Bạn chỉ đang đứng giữa hai vũ trụ: một bên ngoài bạn; một bên trong bạn. Vũ trụ bên ngoài chứa đựng sự vật, còn vũ trụ bên trong chứa đựng tâm thức, phúc lành, niềm vui. Hãy di chuyển bên trong, đừng di chuyển như cách bạn di chuyển vì sợ, bởi vì nỗi sợ không thể đi vào bên trong. Vì sao nỗi sợ không thể đi vào trong? Nỗi sợ không thể một mình, và để di chuyển vào bên trong, bạn phải một mình. Nỗi sợ cần đám đông, nỗi sợ cần sự đồng hành, bạn bè, thậm chí kẻ thù. Nhưng để một mình, để đi vào bên trong, bạn không thể mang theo ai; bạn phải đi một mình. Không những không mang theo ai mà bạn không thể mang theo thứ gì cả. Tài sản, quyền lực, danh tiếng của bạn – bạn không thể mang theo gì cả. Bên trong, bạn không thể mang theo thậm chí quần áo của mình! Bạn sẽ phải đi vào trần truồng, một mình; do đó, nỗi sợ không thể đi vào trong, nỗi sợ di chuyển ra ngoài.
Nỗi sợ di chuyển hướng tới tiền bạc, nỗi sợ di chuyển hướng tới quyền lực, nỗi sợ di chuyển hướng tới Thượng đế; nỗi sợ di chuyển theo tất cả mọi hướng trừ hướng vào bên trong. Để đi vào bên trong, yêu cầu đầu tiên là không sợ hãi. Bạn không phải làm bạn với bóng tối, cái chết hay nỗi sợ. Bạn phải loại bỏ chúng. Bạn phải nói chia tay mãi mãi. Đó là sự ràng buộc của bạn; tình bạn sẽ khiến nó càng sâu sắc hơn. Đừng nghĩ rằng bằng cách kết bạn với nỗi sợ, bạn sẽ sẵn sàng để đi vào bên trong. Ngay cả nỗi sợ thân thiện cũng sẽ ngăn cản điều đó; trên thực tế thì nó càng ngăn cản nhiều hơn. Nó sẽ ngăn cản bạn theo cách thân thiện, nó sẽ khuyên bạn: “Đừng làm như vậy. Không có gì bên trong đâu. Bạn sẽ rơi vào hư không và việc trở về từ cái hư không đó là điều không thể. Hãy thận trọng, đừng rơi vào cái bên trong của bạn. Hãy neo bám vào sự vật”. Bạn phải hiểu nỗi sợ – không phải làm bạn với nó – và nó sẽ biến mất. Bạn còn sợ gì? Khi chào đời, bạn đã trần truồng. Bạn cũng không mang theo bất kỳ số dư tài khoản nào, nhưng bạn đâu có sợ. Bạn bước vào thế giới này hoàn toàn trần truồng, nhưng bạn bước vào như một vị hoàng đế. Thậm chí một vị hoàng đế không thể bước vào thế giới này theo cách như đứa trẻ. Điều này cũng tương tự như khi bước vào bên trong. Đó là lần chào đời thứ hai; bạn lại trở thành một đứa trẻ – với cùng sự trong sáng, sự trần truồng và không chiếm hữu. Có gì mà bạn phải sợ? Trong cuộc sống, bạn không thể e sợ việc chào đời. Nó đã xảy ra, giờ thì không gì có thể ngăn cản nó. Bạn không thể e sợ cuộc sống – nó đã diễn ra. Bạn không thể sợ cái chết, bất kể bạn làm gì, cái chết cũng sẽ xảy ra. Vậy thì còn gì phải sợ nữa? Tôi luôn được hỏi bởi những người rất có học thức: “Ông không bao giờ lo lắng về những gì sẽ diễn ra sau cái chết ư?”. Và tôi luôn tự hỏi làm sao họ lại là những người có học thức. Rồi tôi hỏi họ: “Một ngày nào đó, tôi không được sinh ra, và không có gì phải lo lắng. Tôi chưa một giây phút nào nghĩ rằng khi mình không được sinh ra, mình sẽ phải đối mặt với loại rắc rối, lo
lắng, đau khổ nào. Tôi chỉ đơn giản không lo lắng! Cho nên, điều này cũng giống như cái chết: khi bạn chết thì bạn chết”. Khổng Tử được một học trò hỏi: “Điều gì sẽ xảy ra sau cái chết?”. Khổng Tử đáp: “Đừng lãng phí thời gian. Khi ngươi ở trong nấm mồ của mình, hãy nằm xuống và suy nghĩ về điều đó, sao phải phiền lòng vào lúc này?”. Nỗi sợ về những gì sẽ xảy ra khi bạn chết là không cần thiết. Điều gì xảy ra sẽ xảy ra – và dù sao thì bạn cũng không thể làm gì trước được. Bạn không biết nên sẽ không có yêu cầu làm bài tập về nhà, chuẩn bị sẵn những câu hỏi mà bạn sẽ được hỏi hoặc loại người nào mà bạn sẽ gặp, học tập nhân cách của họ, ngôn ngữ của họ… Chúng ta không biết gì cả; không cần phải lo lắng. Đừng lãng phí thời gian. *** Các tín đồ của Rumi không có nhiều kinh sách lớn, không có bất kỳ nghi lễ nào ngoại trừ động tác xoay người, và một vài bài thơ đẹp của Jalaluddin Rumi mà ông từng hát sau mỗi lần xoay và ngã. Ông ấy sẽ đứng dậy và sẽ lại say – trong cơn say đó, ông ấy sẽ hát một ca khúc, và những ca khúc này đã được thu thập lại. Đó là tài liệu duy nhất mà các đồ đệ của Rumi có được. Rumi nói: “Chúng ta là tấm gương”, đó là điều mà ta đã nói đi nói lại; rằng chúng ta không phải là người thực hiện, chúng ta chỉ là tấm gương. Đừng đồng nhất với việc bạn làm, với hành động của bạn; hãy là người chứng kiến, chỉ là người quan sát thôi. Nhưng chúng ta được dạy những điều cần thiết nhất của cuộc sống, chúng ta được dạy mọi kiểu ngu ngốc. Điều quan trọng nhất chính là nghệ thuật quan sát. Rumi đúng khi cho rằng: “Chúng ta là tấm gương và cũng là khuôn mặt phản chiếu trong đó”. Chúng ta là người quan sát và là người được quan sát. Không có gì tách biệt giữa chúng ta và sự hiện hữu. Chúng ta là
một