hồi và kem bôi sau cạo râu đã hết hạn. Nhưng cô có thể bắt đầu ngay lập tức. Từ tin nhắn cuối cùng của David còn lưu trong hộp thư trong điện thoại di động và đã dẫn đường cho cô đến tận Roma. Nhưng trước tiên, cô muốn nghe lại nó. Cô sẽ không bao giờ còn được nghe lại giọng nói của chồng mình. “Chào em, anh gọi cho em nhiều lần nhưng chỉ gặp hộp thư thoại… Anh không có nhiều thời gian nên anh sẽ liệt kê ra ngay đây những điều anh nhớ… Anh nhớ đôi chân lạnh ngắt của em kiếm tìm anh dưới lớp chăn khi em lên giường. Anh nhớ những lần em bắt anh nếm thử đồ ăn trong tủ lạnh để bảo đảm với em rằng chúng chưa bị hỏng. Hay khi em đánh thức anh gào thét vào lúc ba giờ sáng vì em bị chuột rút. Và, chắc em không tin đâu nhưng anh nhớ cả khi em dùng dao cạo của anh để tẩy lông chân mà sau đó không thèm nói gì với anh… Tóm lại, ở đây, Oslo, lạnh kinh khủng và anh nóng lòng muốn trở về. Anh yêu em, Ginger!” Trên bàn phím, Sandra ấn nút xóa mà không do dự. “Anh yêu, em sẽ nhớ anh.” Những giọt nước mắt lăn dài trên khuôn mặt cô. Đó là lần đầu tiên sau rất nhiều thời gian cô không gọi anh là Fred. Rồi cô thu dọn bản sao của những tấm ảnh trong chiếc Leica vì bản gốc tên Shalber giả mạo vẫn còn giữ. Cô xếp chúng thành một tập và đặt tấm ảnh tối om lên trên cùng. Cô đã sẵn sàng xé chúng ra và quên đi, nhưng cô chợt dừng lại.
Trong số những tấm hình David chụp, không có cái nào về nhà thờ Thánh Raimondo di Peñafort. Dẫu vậy, người thầy tu dòng Đa Minh trước kia đã từng là linh mục ân giải. Chính Shalber lại dẫn dụ cô tới Vương cung thánh đường với bức ảnh thánh dưới cánh cửa phòng khách sạn. Trước đây, Sandra đã bỏ qua chi tiết ấy. Tại sao hắn phải lừa cô tới chỗ đó? Tấm ảnh tối. Nếu hắn tin rằng trong những bức hình đó sẽ có câu trả lời về bí ẩn kho dữ liệu của những linh mục ân giải, vậy thì nó phải được che giấu trong cái gian thờ tồi tàn đó, Sandra tự nhủ. Chỉ có điều Shalber không đủ trình độ để tìm ra đường vào. Cô quan sát tấm ảnh lần nữa. Hình ảnh không phải là kết quả của một lỗi chụp, như cô vẫn tin như vậy. Rõ ràng David muốn nó tối như thế. Khi em không còn gì để bấu víu, điều cuối cùng còn lại là lòng tin vào một vị Chúa trời mà em không tin tưởng. Trước khi khởi hành về Milan, cô phải quay lại nhà thờ Thánh Maria sopra Minerva. Chỉ dẫn cuối cùng của David là một minh chứng về đức tin.
Một năm trước
G Pripjat ã thợ săn không ở một mình. Có một người dân khác trong thành phố ma này. Hắn ở đây. Kẻ biến hình đã chọn địa điểm ít hiếu khách nhất trên trái đất để náu mình. Nơi mà chẳng ai sẽ đến tìm hắn. Hắn đã trở về nhà. Gã thợ săn cảm thấy sự hiện diện của hắn. Những giọt máu vẫn chưa đông trên sàn nhà. Hắn ở gần đây. Gã phải khẩn trương động não. Trong phòng khách, gần cái đèn, là cái túi với khẩu súng gây mê. Nhưng gã không có thời gian để lấy nó. Hắn đang quan sát mình. Gã chỉ muốn chạy trốn khỏi căn hộ của Anatolij Petrov. Lối thoát duy nhất là tới chỗ chiếc Volvo đang đỗ trước đống bê tông chình ình giữa đường để ngăn các phương tiện vào thành phố. Quãng đường khá nguy hiểm. Lũ sói chết tiệt, gã sẽ phải chạy. Không có chiến lược nào. Gã chỉ có nước chạy trốn. Gã nhào về phía cửa ra vào và bắt đầu lao thật nhanh xuống các bậc cầu thang. Gã không cảm thấy gì ở dưới chân vì chỉ lướt
trên chúng. Trong bóng tối gã cũng không nhìn thấy chỗ nào để đặt chân. Nếu ngã chắc sẽ tiêu đời. Ý nghĩ sẽ bị giam lại trong lòng tòa nhà với một cái chân gãy và chờ đợi kẻ thù xuất hiện đáng lẽ phải khiến gã thận trọng hơn, đằng này gã lại dấn thân mạo hiểm. Thi thoảng gã nhảy cóc vài đợt thang, tránh những đống rác vụn. Gã thở hồng hộc và mồ hôi lạnh toát nơi sống lưng. Tiếng bước chân của gã dội vang trong lồng cầu thang. Mười một tầng chạy đứt hơi và cuối cùng cũng ra được đến bên ngoài. Chỉ có những cái bóng vây xung quanh gã. Những tòa nhà đang nhìn gã bằng hàng ngàn con mắt trống rỗng, những chiếc ô tô như những quan tài sẵn sàng đón gã, cây cối đang vươn những bộ xương gỗ mỏng manh chực tóm lấy gã. Nhựa đường đang vỡ vụn dưới đế giày, cứ như thể thế giới đang sụp đổ dưới chân gã. Gã cảm thấy nỗi hoảng sợ đang lớn dần trong lồng ngực, những lá phổi bắt đầu bốc cháy. Mỗi hơi thở là một cơn đau buốt. Vậy ra đó là cái cảm giác khi ta phải trốn chạy kẻ muốn làm hại mình. Gã thợ săn đã trở thành con mồi. Mày đang ở đâu? Tao biết mày ở đây và đang theo dõi tao. Giờ mày cười nhạo sự tuyệt vọng của tao. Và mày đang chuẩn bị xuất hiện. Gã rẽ vào góc và thấy một đại lộ trước mặt. Gã chợt nhận ra mình không nhớ nổi đã đi ra từ hướng nào. Gã mất phương hướng. Gã dừng lại để suy nghĩ, người gập xuống vì quá sức. Rồi gã thấy bộ khung hoen gỉ của những vòng quay mặt trời và
hiểu ra đó là hướng của công viên giải trí. Chiếc Volvo ở cách gã chưa đây nửa cây số. Gã sẽ tới được đó. Mình sẽ làm được. Gã tiếp tục lao đi, phớt lờ đau đớn và mệt mỏi, giá rét và sợ hãi. Nhưng qua đuôi mắt hắn đã thấy con sói đầu tiên. Con thú tiến sát gã và chạy cùng với gã. Chỉ một lát sau, con thứ hai xuất hiện. Rồi con thứ ba. Chúng bám theo gã với một cự li nhất định. Gã thợ săn biết rằng nếu mình chậm lại chúng sẽ tấn công. Vì thế gã chạy không ngừng nghỉ. Giá mà mình có thời gian lấy khẩu súng thuốc mê trong túi… Gã trông thấy chiếc Volvo đậu ở nơi gã đã để nó lại. Một chút an ủi, nhưng gã không biết liệu đó có phải là một sự xếp đặt. Nếu đúng như vậy, nó sẽ là trò lừa gạt cuối cùng. Nhưng gã không thể đầu hàng vào lúc này. Chỉ còn ít mét nữa thì một trong số những con sói quyết định tấn công. Gã tung một cú đá, dù không trúng lắm nhưng cũng làm nó rớt lại phía sau. Chiếc xe không phải là ảo ảnh. Nó có thực. Gã bắt đầu nghĩ rằng nếu mình tới được đó, nhiều chuyện sẽ thay đổi. Đột nhiên gã nhận ra cuộc sống của mình mới quý giá làm sao. Gã không sợ chết, mà sợ cái ý nghĩ phải bỏ mạng ở nơi đó và theo cái cách mà gã cũng chẳng thể hình dung ra nổi. Không, đừng như vậy, tao xin mày. Khi tới được chỗ chiếc xe, gã không tin nổi. Gã mở cửa và nhìn thấy lũ sói chạy chậm lại. Chúng hiểu rằng không thể đuổi
kịp và giờ chúng vội vã quay trở lại chỗ trú ẩn trong bóng tối. Gã điên cuồng tìm chùm chìa khóa đã cắm ở ổ. Tìm được nó, gã lại lo lắng xe sẽ không chạy. Thế nhưng chiếc xe đã nổ máy. Gã cười, thật khó tin. Gã xoay vô lăng thật nhanh để đổi hướng lái. Tất cả đều vận hành trơn tru. Adrenaline vẫn còn thắng thế nhưng những dấu hiệu mệt mỏi bắt đầu xuất hiện. Acid lactic tăng lên và những khớp xương đau nhức. Có lẽ cơ thể gã bắt đầu nghỉ ngơi. Liếc mắt lần cuối về gương chiếu hậu, đôi mắt gã vẫn còn hoảng hốt và thành phố ma đang khuất dần. Rồi bóng của một người đàn ông hiện lên từ ghế sau. Nhưng trước khi gã thợ săn kịp nghĩ, một bóng tối kinh hoàng đổ sập xuống người gã. Tiếng nước làm gã tỉnh giấc. Những giọt nhỏ từ khe đá đang rỏ xuống. Gã có thể hình dung ra địa điểm dù không cần mở mắt. Gã không muốn nhìn. Nhưng cuối cùng gã cũng mở mắt. Gã nằm dài trên một tấm gỗ. Ánh sáng yếu ớt tới từ ba bóng đèn treo trên trần nhà. Những dây tóc bóng đèn rực sáng run rẩy trước những thay đổi điện áp. Gã có thể nghe thấy tiếng ro ro của chiếc máy phát điện đang duy trì năng lượng cho chúng. Gã không thể cựa quậy, gã bị trói. Nhưng dù gì gã cũng sẽ không cố. Gã thấy như vậy cũng ổn. Gã đang ở trong một cái hang? Không, trong một căn phòng dưới lòng đất. Mùi ẩm mốc tỏa khắp căn phòng. Nhưng còn
một thứ khác nữa. Đó là mùi kim loại, của mối hàn. Kẽm. Rồi có cả mùi hôi thối – không lẫn đi đâu được – của sự chết chóc. Gã quay đầu khó nhọc và thấy rõ hơn. Gã đang ở trong một hầm mộ. Những bức tường khảm mosaic ngăn nắp. Có thứ gì đó đẹp đẽ nhưng cũng đáng nguyền rủa trong khung cảnh này. Đó là xương người. Chúng được chất thành đống hay cái nọ ghép với cái kia. Xương đùi, xương trụ, xương vai. Chúng được đúc cùng kẽm, chất liệu bọc ngoài những quan tài, để không làm ô nhiễm nơi đó. Hắn không cần chỗ khác để làm nơi nương náu. Hắn quả khôn ngoan. Ở nơi mà mỗi đồ vật đều mang mầm truyền nhiễm phóng xạ, thứ duy nhất không bị đầu độc là những xác chết. Chắc hẳn hắn đã phải đào chúng lên từ nghĩa địa và dùng chúng để tạo nên một chỗ trú ẩn. Gã nhận ra ba cái đầu lâu thâm lại theo thời gian đang lén quan sát gã từ trong bóng tối. Hai người lớn và một đứa trẻ. Cậu bé Dima thật và bố mẹ của cậu ta, gã nghĩ. Gã thấy hắn đang lại gần. Không cần phải quay đầu lại. Gã biết. Gã cảm nhận được hơi thở bình tĩnh, đều đặn của hắn. Hắn đưa một bàn tay lên trán gã để vén mái tóc dính đầy mồ hôi. Một cái vuốt ve. Rồi hắn đi vòng quanh cho đến khi chạm ánh mắt gã. Hắn mặc một bộ quân phục và một cái áo len đã sờn,
màu đỏ và cao cổ. Khuôn mặt hắn bị che khuất bởi một cái mũ trùm kín, chỉ để lộ cặp mắt vô hồn và nhúm râu lởm chởm. Trên phần khuôn mặt đó không thấy có dấu hiệu nào của cảm xúc. Hắn chỉ có vẻ đang tò mò. Hắn nghiêng đầu như những đứa trẻ thường làm khi chúng muốn tìm hiểu điều gì đó. Có một băn khoăn trong ánh mắt hắn. Nhìn hắn, gã biết mình không còn đường thoát. Hắn không biết đến tình thương. Không phải vì hắn tàn ác. Mà vì chẳng ai dạy hắn điều đó. Hắn nắm con thỏ bằng vải trong tay. Hắn vuốt ve cái đầu của nó một cách thờ ơ. Rồi hắn bỏ đi. Gã nhìn theo hắn. Trong một góc là chỗ ngủ với chăn và những mảnh giẻ. Hắn đặt con thỏ xuống, bắt đầu ngồi vắt chéo chân và lại chằm chằm nhìn gã. Gã muốn hỏi hắn rất nhiều điều. Gã có thể hình dung ra số phận của mình: Gã sẽ không thể sống sót ra khỏi đó. Nhưng điều làm gã đau đớn nhất là không biết câu trả lời. Gã đã bỏ ra rất nhiều công sức trong cuộc săn đuổi, gã xứng đáng có được chúng. Nó chẳng khác nào một kiểu vinh danh trong quân đội. Sự biến hình diễn ra như thế nào? Vì sao kẻ biến hình lại cần phải để lại những giọt máu của hắn – một kiểu chữ ký – mỗi khi hắn đánh cắp danh tính của ai đó? “Làm ơn hãy nói chuyện với tôi.” “Làm ơn hãy nói chuyện với tôi, ” hắn nhắc lại. “Nói gì đi.”
“Nói gì đi.” Gã thợ săn bắt đầu cười. Cả hắn cũng vậy. “Đừng đùa với tôi.” “Đừng đùa với tôi.” Và giờ gã đã hiểu. Hắn không đùa. Hắn đang luyện tập. Gã thấy hắn đứng dậy và cùng lúc rút thứ gì đó từ trong bộ quân phục ra. Một vật dài và lấp lánh. Thoạt đầu gã không hiểu đó là thứ gì. Khi hắn lại gần, gã đã nhận ra một con dao sắc nhọn. Hắn đặt con dao phẫu thuật lên má gã, chầm chậm khắc lên đó vài đường mà chỉ lát nữa hắn sẽ khứa lại sâu hơn. Một cảm giác nhồn nhột nguy hiểm trên da thịt gã. Dễ chịu và kinh hoàng. Chỉ tồn tại một địa ngục, gã nghĩ. Và nó ở đây. Kẻ biến hình không chỉ đơn giản muốn giết gã. Con mồi sẽ sớm trở thành gã thợ săn. Nhưng trước khi điều đó tới, đã xảy ra một chuyện. Một câu trả lời. Hắn lột mũ trùm đầu và lần đầu tiên, gã nhìn rõ mặt hắn. Họ chưa bao giờ gần nhau đến thế. Xét cho cùng, gã có thể nói rằng mình đã thành công. Gã thợ săn đã đạt được mục đích. Nhưng có thứ gì đó trên khuôn mặt của kẻ biến hình, thứ mà cả hắn cũng có vẻ không nhận ra. Giờ thì gã đã hiểu nguồn gốc của thứ mà gã tưởng là chữ ký.
Hóa ra đó là biểu hiện cho sự mong manh của hắn. Gã thợ săn hiểu rằng trước mặt gã không phải là một con quái vật mà là một con người. Và cũng giống như tất cả những con người khác, kẻ biến hình cũng có dấu hiệu nhận diện, thứ gì đó làm hắn khác biệt cho dù hắn rất giỏi giấu mình dưới vô số danh tính. Gã thợ săn sẽ sớm bỏ mạng, nhưng lúc đó gã cảm thấy nhẹ nhõm. Kẻ thù của gã vẫn còn có thể bị ngăn chặn.
Bây giờM ưa rơi xuống Roma như một đám tang vào ban đêm. Không thể hiểu nổi trời đã tối hay vẫn còn là ban ngày. Sandra băng qua mặt tiền vô danh che giấu bất ngờ phía sau nó nhà thờ Gothic duy nhất của Roma. Với những phiến cẩm thạch xa hoa, những trần nhà thanh tao, những bức tranh tường tuyệt đẹp: nhà thờ Thánh Maria sopra Minerva chào đón cô trong một không gian trống trải. Tiếng bước chân cô hòa trong tiếng vọng của gian thờ bên phải. Cô bước về phía gian thờ cuối cùng. Gian nhỏ nhất và thô kệch nhất. Thánh Raimondo di Peñafort đang đợi cô. Chỉ là trước đây cô không biết điều đó. Giờ như thể ông đang đệ trình vụ án của mình lên Đức Jesus quan tòa ở giữa hai thiên thần. Tòa án linh hồn. Bức tranh tường luôn được vây quanh bởi những cây nến cầu nguyện mà những giáo dân để lại và đang nhỏ sáp xuống sàn nhà. Không giống những gian thờ khác của giáo đường, chỉ ở đó – gian thờ nghèo nàn nhất – mới có số lượng nến nhiều đến như
vậy. Những ngọn lửa nhỏ cần mẫn trước mỗi cơn gió lùa ngả nghiêng hàng loạt rồi lại đứng thẳng. Ai mà biết chúng được thắp lên cho những tội lỗi nào, Sandra đã tự hỏi những lần trước đây cô ở đó. Giờ cô đã có câu trả lời. Cho tội lỗi của tất cả. Cô lấy từ trong túi tấm ảnh cuối cùng của chiếc Leica và ngắm nó. Bóng tối hiện ra trong bức ảnh đen đúa đó ẩn chứa một minh chứng về đức tin. Manh mối cuối cùng của David là điều kỳ bí nhất nhưng cũng tầm thường nhất. Câu trả lời không cần phải tìm kiếm bên ngoài, mà trong chính bản thân nó. Suốt năm tháng qua cô đã tự hỏi giờ David đang ở đâu và cái chết của anh có nghĩa lý gì. Trước hoài nghi đó, cô đã thấy mình vô vọng. Là một cảnh sát chụp ảnh hiện trường, cô luôn tìm kiếm cái chết trong những chi tiết vì tin rằng chỉ bằng cách đó mới có thể giải thích mọi việc. Mình nhìn sự việc qua máy ảnh của mình. Mình tin vào những chi tiết vì chúng bật mí cho mình biết mọi chuyện diễn ra như thế nào. Nhưng với những linh mục ân giải, có thứ tồn tại ngoài những gì mà chúng ta trông thấy bằng mắt thường. Thứ gì đó cũng có thực nhưng máy ảnh không thể tri nhận được. Vì thế mình phải học rằng đôi khi cũng phải đầu hàng trước bí ẩn. Và chấp nhận rằng không phải điều gì chúng ta cũng hiểu được. Trước những câu hỏi lớn về sự tồn tại, nhà khoa học trăn trở, con người của đức tin Thiên Chúa dừng bước. Và chính trong khoảnh khắc đó, nơi giáo đường ấy, Sandra cảm thấy
mình đã tới vạch biên giới. Không phải vô tình trong đầu cô vang lên những lời nói của vị linh mục ân giải: “Có một nơi mà ở đó thế giới ánh sáng tiếp xúc với thế giới bóng tối. Và ở đó, xảy ra mọi việc: trong vùng đất nhá nhem mọi thứ tan ra, lẫn lộn, mơ hồ.” Marcus đã nói rất rõ. Nhưng trước đây Sandra không hiểu. Nguy hiểm thực sự không phải là bóng tối mà là vùng trung gian, nơi ánh sáng trở thành lường gạt. Nơi cái tốt và cái xấu lẫn vào nhau và người ta không thể phân biệt nổi. Cái ác không ẩn mình trong bóng tối. Nó trú ngụ trong vùng nhá nhem. Chính ở nơi đó, mọi thứ bị bóp méo. Những con quái vật không tồn tại, cô tự nhắc nhở chính mình. Mà chỉ có những con người bình thường phạm những tội ác kinh hoàng. Vì vậy bí mật đây là không được sợ hãi bóng tối, Sandra nghĩ. Vì ở tận cùng bóng tối sẽ có một câu trả lời. Cầm tấm ảnh tối đen trong tay, cô cúi xuống những cây nến cầu nguyện. Cô bắt đầu thổi chúng tắt. Với hàng chục cây, cô phải mất đôi chút thời gian. Dần dà theo bước cô làm, bóng tối dâng lên như một cơn thủy triều. Xung quanh cô, mọi thứ biến mất. Khi đã hoàn tất, cô lùi lại phía sau một bước. Không nhìn thấy gì cả, cô lo sợ, nhưng tự nhủ rằng chỉ cần chờ đợi và rồi cô sẽ biết. Cũng như khi còn bé, nằm trên giường trước khi ngủ, cô thấy bóng tối thật đáng sợ, nhưng ngay khi đôi mắt đã dần quen, tất cả hiện ra một cách thần kỳ – căn phòng nhỏ với
những món đồ chơi, những con búp bê – và cô có thể ngủ ngon lành. Thị giác của Sandra từ từ thích nghi với môi trường mới. Ký ức về ánh sáng biến mất và cô bất ngờ nhận ra thứ gì đó. Những hình ảnh xung quanh cô bắt đầu xuất hiện. Trên bức tranh trang trí sau bệ thờ, Thánh Raimondo di Peñafort hiện lên lấp lánh. Cả bức vẽ Đức Jesus quan tòa và hai thiên thần cũng khoác lên mình một hào quang mới, thật lung linh. Trên lớp vữa thô ráp của bức tường, thẫm lại do muội than, bắt đầu lộ ra những hình hài. Những bức tranh tường. Chúng khắc họa những cảnh cầu nguyện và sám hối, và cả ân giải. Điều kỳ diệu đang hiện ra trước mắt cô và Sandra không thể tin nổi. Gian thờ tầm thường nhất, không có đá cẩm thạch và hoa văn trang trí, trở nên đẹp tuyệt vời. Một thứ ánh sáng mới lạ lướt qua những bức tường trần trụi, tạo thành những miếng dát màu ngọc lam rực rỡ đến tận mái vòm. Những sợi nhỏ lung linh bám trên các cột trụ trông như thể những bộ y phục. Hiệu ứng tổng thể là một quầng sáng màu xanh da trời, giống với đáy sâu yên lặng của một đại dương. Nó luôn tối, nhưng là một thứ bóng tối chói lòa. Sandra mỉm cười. Sơn lân quang. Cho dù tồn tại một lời giải thích logic nhưng cái cách cô khám phá ra điều này chẳng có gì là lý trí cả. Đó chỉ là một sự từ bỏ đơn thuần, chấp nhận giới hạn của bản thân, một sự đầu hàng dễ chịu trước điều không thể hiểu được, không thể lĩnh hội được. Đức tin.
Phải rồi, món quà cuối cùng của David. Thông điệp tình yêu anh dành cho cô. Hãy chấp nhận sự ra đi của anh, đừng tự hỏi tại sao số phận của mình lại ra thế. Chỉ như vậy em mới có thể tiếp tục hạnh phúc. Sandra ngước lên trên và cảm ơn anh. “Không có kho lưu trữ nào ở đây hết. Bí mật duy nhất là vẻ đẹp tuyệt vời.” Có tiếng bước chân tiến gần sau lưng cô. Sandra ngoái lại. Marcus xuất hiện. “Lân quang được phát hiện ra vào thế kỷ thứ mười bảy khi một thợ đóng giày người Bologna thu lượm những viên sỏi, nướng chúng cùng với than đá và quan sát thấy một hiện tượng kỳ lạ: Sau khi được đưa ra ánh sáng ban ngày, chúng tiếp tục phát sáng nhiều giờ trong bóng tối.” Anh chỉ ra xung quanh. “Điều mà cô nhìn thấy được thực hiện vài thập niên sau, từ bàn tay của một nghệ sĩ còn khuyết danh, ông ấy đã sử dụng thứ mà người thợ đóng giày phát hiện ra để trang trí gian thờ. Cô thử nghĩ xem thời bấy giờ người ta đã ngạc nhiên như thế nào, vì họ chưa bao giờ nhìn thấy một điều tương tự như vậy. Ngày nay điều đó không còn bất ngờ nữa, vì chúng ta biết lý do của hiện tượng đó. Thế nhưng dù thế nào, mỗi người vẫn có thể lựa chọn hoặc chiêm ngưỡng một đặc trưng khác của Roma, hoặc một phép màu theo kiểu nào đó.” “Tôi muốn thấy phép màu, tôi thực sự muốn điều đó, ” Sandra thú nhận với đôi chút buồn rầu. “Thế nhưng lý trí lại thắng thế. Chính nó nói với tôi rằng Chúa trời không tồn tại và
David không trên thiên đường nơi cuộc sống vẫn tiếp diễn và luôn hạnh phúc. Nhưng tôi rất hy vọng mình đã nhầm.” Marcus không bối rối. “Tôi hiểu. Lần đầu tiên tôi được dẫn tới đây, người ta nói rằng tôi có thể tìm thấy câu trả lời cho điều mình thắc mắc khi phát hiện ra mình là một thầy tu, sau khi bị mất trí nhớ.” Anh chạm vào vết sẹo trên thái dương. “Tôi tự hỏi: Nếu thực sự là một linh mục thì đức tin của tôi ở đâu?” “Và câu trả lời là gì?” “Là nó không đơn giản do trời phú. Cô phải luôn kiếm tìm nó.” Anh cụp mắt xuống. “Tôi tìm kiếm nó trong cái ác.” “Số phận thật trớ trêu khi kết nối chúng ta. Anh phải giải quyết sự việc với trí nhớ trống rỗng, còn tôi với quá nhiều ký ức về David. Tôi không được phép quên, còn anh bị buộc phải lãng quên.” Cô ngừng lại, nhìn anh. “Thế còn bây giờ, anh sẽ tiếp tục chứ?” “Tôi không biết nữa. Nhưng nếu cô hỏi liệu tôi có sợ rằng một ngày kia có thứ gì đó đủ sức làm lung lạc tôi, tôi chỉ có thể trả lời là có. Lúc đầu tôi đã nghĩ thật đáng nguyền rủa khi nhìn thế giới bằng con mắt của cái ác. Nhưng khi tìm ra Lara, tôi đã hiểu tài năng của tôi có ý nghĩa thế nào. Cho dù không nhớ mình là ai trong quá khứ nhưng nhờ việc tôi làm, cuối cùng tôi đã biết mình là ai.” Sandra gật đầu, nhưng cô thấy có lỗi. “Tôi phải thổ lộ với anh điều này.” Cô ngừng lại khá lâu, lựa chọn ngôn từ. “Có một người đàn ông đang tìm kiếm anh. Tôi tin rằng hắn muốn tìm
ra kho lưu trữ, nhưng với những gì đã nhìn thấy ở đây, tôi hiểu hắn có mục đích khác.” Marcus lo lắng. “Tại sao?” “Tôi không biết, nhưng hắn đã lừa tôi. Hắn nói mình là một cảnh sát của Interpol, nhưng không phải vậy. Tôi không biết hắn thực sự là ai, nhưng tôi e rằng hắn rất nguy hiểm.” “Hắn ta sẽ không thể tìm ra tôi.” “Trái lại. Hắn có một tấm ảnh của anh.” Marcus suy nghĩ. “Ngay cả khi hắn tìm ra tôi, hắn có thể làm gì tôi?” “Hắn sẽ giết anh.” Lời khẳng định của Sandra không làm anh nao núng. “Sao cô lại nói vậy?” “Vì nếu hắn không phải là cảnh sát và không muốn bắt anh, vậy chỉ còn duy nhất một mục đích.” Marcus cười. “Tôi đã chết một lần. Giờ tôi không còn sợ nữa.” Sự thanh thản của vị linh mục thuyết phục cô, truyền cho cô niềm tin. Cô vẫn nhớ cử chỉ trìu mến của anh ở bệnh viện. Nó làm cô yên lòng. “Tôi đã phạm phải một tội lỗi và không thể nào tha thứ cho mình.” “Tất cả mọi chuyện đều có thể tha thứ, thậm chí cả những tội trọng. Nhưng cầu xin sự tha thứ là không đủ. Cần phải chia sẻ lỗi lầm với ai đó. Mở lòng là bước đầu tiên để tự giải tỏa.”
Và thế là Sandra cúi đầu, nhắm mắt và bắt đầu trải lòng. Cô kể cho anh về chuyện phá thai, về tình yêu đã đánh mất và được tìm thấy, về cách mà cô đã tự trừng phạt mình. Tất cả đến một cách rất tự nhiên, những lời nói tuôn ra từ tận đáy lòng. Cô đã nghĩ rằng sẽ có cảm giác như khi trút được một gánh nặng. Nhưng ngược lại. Khoảng trống mà một đứa trẻ chưa bao giờ chào đời để lại trong cô nay được khép lại. Nỗi sợ hãi đeo đẳng cô trong suốt những ngày tháng đó đã lên da non. Cô thấy thứ gì đó trong mình đang thay đổi, và cô trở thành một con người mới. “Cả tôi cũng có một tội lỗi trầm trọng về mặt nhận thức, ” cuối cùng Marcus nói với cô. “Tôi đã cướp đi một vài sinh mạng, giống như cô. Nhưng điều này có đủ để biến chúng ta trở thành những kẻ sát nhân không? Đôi khi người ta giết người vì buộc phải làm việc ấy, để bảo vệ ai đó hoặc vì sợ hãi. Trong những trường hợp này cần có một tiêu chí phán xử khác.” Sandra cảm thấy nhẹ nhõm khi nghe những lời anh nói. “Vào năm 1314, ở Ardèche, miền Nam nước Pháp, dịch hạch đã tàn sát dân chúng. Lợi dụng bệnh dịch, một băng cướp đã gieo rắc nỗi kinh hoàng bằng cách trộm cắp, hiếp dâm và giết người. Người dân hoảng sợ và đứng trước giới hạn của sự sinh tồn. Thế là một vài linh mục trên núi, không chuyên và cũng không được huấn luyện, đã tụ họp nhau lại để đương đầu với bọn tội phạm. Họ giương vũ khí và chiến đấu. Cuối cùng, họ đã chiến thắng. Những con người của Chúa đã vấy máu. Ai sẽ tha thứ cho họ đây? Khi họ trở về nhà thờ, dân chúng đã tán dương
họ như những vị anh hùng. Dưới sự bảo vệ của họ, ở Ardèche không còn tội phạm nữa. Từ đó trở về sau, người dân bắt đầu gọi những vị linh mục đó là thợ săn bóng tối." Marcus cầm một cây nến, lấy diêm thắp sáng và đưa cho Sandra.”Vì thế, phán quyết cho những hành động của chúng ta không phụ thuộc vào chúng ta… Chúng ta chỉ có thể cầu xin sự tha thứ." Tới lượt mình, Sandra cũng cầm lấy một cây nến và châm nó vào ngọn nến của Marcus. Rồi họ bắt đầu cùng nhau lặp lại hành động đó với tất cả những cây nến dưới chân Đức Jesus quan tòa. Ngọn lửa tập thể dần dần được hình thành, cô cảm thấy mình được giải tỏa, đúng như vị linh mục ân giải đã tiên đoán. Sáp nến bắt đầu nhỏ giọt trên sàn nhà bằng đá cẩm thạch mờ. Sandra thanh thản, vui vẻ, sẵn sàng trở về nhà. Hiệu ứng lân quang bắt đầu mờ dần. Những bức tranh tường lung linh, những hoa văn trang trí lấp lánh cũng dần biến mất. Gian thờ từ từ trở lại nghèo nàn và vô danh. Khi chuẩn bị hoàn tất việc thắp sáng, Sandra vô tình ngó xuống dưới và phát hiện ra một vài giọt nước màu đỏ. Chúng tạo thành một vòng tròn nhỏ những vết màu nâu. Nhưng không phải sáp nến. Là máu. Cô ngước lên nhìn Marcus và thấy anh bị chảy máu cam. “Cẩn thận, ” cô nói vì anh chẳng hề nhận ra. Anh đưa một tay lên mặt, rồi nhìn những ngón tay lem luốc. “Thi thoảng tôi lại bị thế. Nhưng nó sẽ qua thôi. Luôn như vậy.” Dò dẫm trong túi, Sandra lấy ra một vài chiếc khăn giấy để giúp anh chặn dòng chảy. Anh nhận lấy chúng.
“Có những thứ về tôi mà tôi không biết, ” anh nói, trong lúc ngửa đầu ra sau. “Mỗi khi phát hiện ra một điều mới tôi lại ngạc nhiên, trước kia tôi chỉ thấy sợ. Kể cả việc chảy máu cam. Tôi không biết nó từ đâu tới nhưng nó là một