Tòa Án Linh Hồn

TÒA ÁN LINH HỒN

TÒA ÁN LINH HỒN

TÒA ÁN LINH HỒN —★— Tác giả: Donato Carrisi

Mục lục 7 giờ 37 phút Năm ngày trước 6 giờ 19 phút 8 giờ 40 phút 11 giờ 40 phút 20 giờ 30 phút 23 giờ 30 phút Một năm trước Paris Bốn ngày trước 1 giờ 40 phút 6 giờ 7 giờ 10 phút 9 giờ 04 phút 9 giờ 30 phút 14 giờ 15 giờ 17 giờ 07 phút 19 giờ 47 phút 20 giờ 35 phút 23 giờ 39 phút Một năm trước Mexico Ba ngày trước 3 giờ 27 phút 6 giờ 04 phút 7 giờ 7 giờ 20 phút 9 giờ

10 giờ 04 phút 12 giờ 32 phút 14 giờ 12 phút 15 giờ 53 phút 17 giờ 07 phút 20 giờ 30 phút 21 giờ 34 phút 23 giờ 24 phút Một năm trước Kiev Hai ngày trước 6 giờ 33 phút 7 giờ 40 phút 8 giờ 01 phút 11 giờ 11 giờ 20 phút 13 giờ 39 phút 14 giờ 03 phút 17 giờ 14 phút 18 giờ 22 phút 20 giờ 20 giờ 34 phút 22 giờ 07 phút 22 giờ 17 phút 23 giờ 59 phút Một năm trước Pripjat Hôm qua 4 giờ 46 phút 9 giờ 02 phút 13 giờ 55 phút 22 giờ 30 phút Một năm trước Pripjat Hôm nay Một năm trước

ộ Pripjat Bây giờ Một năm trước Praha 7 giờ 30 phút

Không có nhân chứng đáng sợ nào, cũng không có người kết tội khắt khe nào có thể sánh với lương tâm ngự trị trong lòng mỗi người. POLYBE

X 7 giờ 37 phút ác chết mở mắt. Hắn đang nằm duỗi dài trên một chiếc giường. Căn phòng màu trắng, chan hòa ánh sáng ban ngày. Trên tường, ngay trước mặt hắn là một cây thánh giá bằng gỗ. Hắn quan sát đôi tay đang đặt ngay ngắn dọc hai bên thân, trên tấm ga giường trắng toát. Chúng có vẻ như không thuộc về hắn, mà của ai đó vậy. Hắn nâng một tay – bàn tay phải – và đưa nó lên trước mặt để quan sát kỹ hơn. Vừa lúc tay hắn vượt qua tấm băng quấn đầu. Hắn bị thương, nhưng lại không có cảm giác đau đớn. Hắn ngoái đầu về phía cửa sổ. Tấm kính phản chiếu lờ mờ gương mặt của hắn. Đúng lúc đó, nỗi sợ hãi ập đến. Câu hỏi làm hắn nhức nhối. Nhưng nhận thức về việc mình không rõ câu trả lời còn khủng khiếp hơn. Ta là ai?

NĂM NGÀY TRƯỚC

N gôi nhà nằm ngoài thành phố. Thời tiết xấu cộng thêm việc hệ thống định vị không tìm nổi đường khiến họ mất hơn nửa tiếng để đến được nơi hẻo lánh này. Nếu không nhờ cây đèn đường nhỏ bé chiếu sáng lối vào, họ đã nghĩ nơi đây không có người ở. Xe cứu thương chầm chậm tiến dọc theo khu vườn trong tình trạng hoang phế. Đèn hiệu xe làm những bức tượng tiên nữ phủ đầy rêu và những bức tượng thần Vệ nữ cụt tay chợt bừng tỉnh trong đêm tối. Chúng chào mừng chuyến viếng thăm của họ với những nụ cười méo mó, vươn mình trong những cử chỉ thanh tao và thiếu hoàn chỉnh. Chúng khiêu vũ trong tư thế bất động, chỉ cho riêng mình. Đón tiếp họ là một ngôi biệt thự cũ kỹ như thể một chỗ trú ẩn an toàn giữa cơn bão. Bên trong không thấy ló ánh đèn. Nhưng cửa ra vào lại mở. Ngôi nhà đang chờ họ. Họ có ba người. Monica, một cô bác sĩ nội khoa trẻ có ca trực tại phòng cấp cứu vào đêm hôm đó. Tony, một anh chàng y tá lành nghề dày dạn kinh nghiệm về hồi sức cấp cứu. Và người tài xế, anh này ở lại xe trong khi hai người kia thách thức cơn bão tiến về phía ngôi nhà. Trước khi bước qua ngưỡng cửa, họ lớn tiếng gọi. Chẳng có ai đáp lời. Họ bước vào.

Mùi ôi thiu bốc lên, ánh sáng màu cam yếu ớt của một dãy đèn soi tỏ một hành lang dài những bức tường tối màu. Phía bên phải có một cầu thang dẫn lên tầng trên. Ở căn phòng trong cùng thấp thoáng một cơ thể bất tỉnh. Họ lao tới để cấp cứu và thấy mình trong một phòng khách với toàn nội thất phủ vải trắng, ngoại trừ một chiếc ghế bành đã được trưng dụng, chễm chệ giữa phòng, ngay trước một cái tivi thuộc loại đồ cổ. Mọi thứ ở nơi đây thực sự đều nhuốm màu cũ kỹ. Monica nhảy chồm lên người đàn ông đang nằm duỗi dài trên mặt đất, thở khó nhọc, và gọi Tony tới chỗ cô với tất cả những dụng cụ cần thiết. “Là chứng xanh tím, ” cô xác định. Sau khi chắc chắn đường thở đã thông thoáng, Tony đặt bóng Ambu lên miệng người đàn ông trong khi Monica dùng đèn pin kiểm tra đồng tử. Ông ta chừng năm mươi tuổi và đang bất tỉnh. Trên người mặc một bộ đồ ngủ kẻ sọc kèm áo khoác và đi dép da. Vẻ bề ngoài khá luộm thuộm, râu dài mấy ngày chưa cạo, đầu tóc bù xù. Một bên tay còn đang nắm chặt chiếc điện thoại lúc trước ông ta dùng để gọi số cấp cứu than vãn về cơn đau dữ dội ở ngực. Bệnh viện gần nhất là Gemelli. Trường hợp báo động đỏ, bác sĩ trực đã kết nối ngay tới nhân viên y tế của xe cứu thương đầu tiên còn trống.

Vì thế Monica có mặt ở đây. Trong căn phòng còn thấy một chiếc bàn bị đổ, một cái bát vỡ, sữa và bánh quy vương vãi khắp nơi, dính cả vào nước tiểu. Có lẽ trong lúc xem tivi, người đàn ông cảm thấy không được khỏe và đã tè dầm. Một trường hợp điển hình, Monica thầm nghĩ. Đàn ông năm mươi tuổi, sống một mình, bị đột quỵ, nếu không đủ sức gọi cấp cứu thì thông thường sẽ được hàng xóm phát hiện ra khi thi thể bắt đầu bốc mùi. Nhưng ở cái biệt thự hẻo lánh ấy thì đó là điều không thể. Nếu không có họ hàng gần đây, có khi sẽ phải mất hàng năm trước khi ai đó phát hiện ra chuyện gì đã xảy đến với ông ta. Dù thế nào đi nữa, đây cũng không phải là cảnh tượng xa lạ và cô thấy thương cảm cho ông ta. Ít nhất cho đến khi họ cởi áo choàng để chuẩn bị ép tim. Trên ngực ông ta có xăm một dòng chữ. Giết tao đi. Cả bác sĩ và y tá đều vờ như không nhìn thấy. Nhiệm vụ của họ là cứu mạng người. Nhưng từ giây phút đó, mỗi động tác của họ lại ẩn chứa một nỗi lo sợ vô hình. “Độ bão hòa oxy đang giảm, ” Tony nói, sau khi anh kiểm tra máy đo. Không khí không tới được phổi của ông ta. “Chúng ta phải đặt nội khí quản nếu không sẽ không cứu được ông ta.” Monica rút từ trong túi ra một lưỡi đèn và di chuyển về phía sau đầu của bệnh nhân. Làm vậy, cô giải phóng tầm nhìn của Tony và chợt thấy một tia chớp bất ngờ lóe lên trong mắt anh ta. Một sự bối rối mà cô

không lý giải nổi. Tony vốn là một y tá lành nghề được huấn luyện để đối phó với mọi tình huống, nhưng cái gì đã làm anh hàng hoàng đến thế. Nó ở ngay phía sau cô. Tất cả mọi người ở bệnh viện đều biết chuyện của Monica và em gái cô. Dù chẳng ai nói với cô câu nào nhưng cô cảm nhận được mỗi khi họ nhìn cô đầy thương cảm, lo lắng và thầm tự hỏi làm thế nào cô có thể sống tiếp với một gánh nặng như thế. Và lúc này cô nhận ra biểu cảm tương tự trên gương mặt của anh chàng y tá nhưng vô cùng hoảng sợ. Monica liền quay phắt người lại và nhìn thấy vật mà Tony vừa thấy. Một chiếc giày patin bốn bánh bị bỏ ở góc phòng, nó chính xác đến từ địa ngục. Nó màu đỏ, có móc khóa mạ vàng. Giống hệt với chiếc giày song sinh của nó nhưng không ở đó, mà ở một ngôi nhà khác, trong một cuộc sống khác. Monica luôn thấy đôi giày đó hơi lòe loẹt. Nhưng Teresa lại cho rằng nó mang phong cách cổ điển. Và cả họ cũng là chị em song sinh. Chẳng thế mà Monica như nhìn thấy thi thể của mình khi xác của em gái cô được tìm thấy ở bãi cỏ ven sông vào một buổi sáng của tháng Mười hai lạnh giá. Teresa mới có hai mươi tuổi và đã bị cắt cổ. Họ nói rằng những người sinh đôi thường có linh tính về nhau ngay cả ở khoảng cách hàng cây số. Nhưng Monica không tin vào chuyện đó. Cô đã không có bất cứ cảm giác sợ hãi hay nguy hiểm nào khi Teresa bị bắt cóc vào một buổi chiều Chủ

nhật khi đang trên đường trở về sau khi đi trượt patin với mấy cô bạn. Thi thể của Teresa được phát hiện một tháng sau đó với chính bộ quần áo cô mặc lúc bị mất tích. Và chiếc giày patin màu đỏ đó trông như thể một vật dị hợm nhô ra từ chân của xác chết. Đã sáu năm nay Monica giữ gìn nó và tự hỏi chiếc còn lại đang ở nơi đâu cũng như liệu rằng một ngày nọ chúng có tìm thấy nhau. Đã bao lần cô có hình dung khuôn mặt của người đã giữ lại nó? Đã bao lần cô kiếm tìm nó trong số những người lạ cô gặp trên đường? Cùng với thời gian, nó đã dần trở thành một thứ trò chơi. Và giờ đây, có lẽ Monica đã tìm thấy câu trả lời. Cô nhìn gã đàn ông đang nằm sõng soài phía dưới mình. Đôi bàn tay múp míp và nứt nẻ, lông mũi lấp ló, vết nước tiểu còn vương trên đũng quần. Hắn không có vẻ gì của một con quái vật như cô đã hình dung. Hắn bằng xương bằng thịt. Không chỉ có thế, hắn là một con người tầm thường với một trái tim yếu ớt. Tony kéo cô khỏi dòng suy nghĩ. “Tôi biết cô đang nghĩ gì. Chúng ta có thể dừng lại khi nào cô muốn. Và chúng ta có thể ở đây chờ đợi chuyện phải đến sẽ đến… Chỉ cần có nói với tôi. Sẽ không có ai biết chuyện này hết” . Chính anh lại là người đưa ra đề xuất, có lẽ vì anh đã thấy cô ngập ngừng với lưỡi đèn lơ lửng trên miệng gã đàn ông đang thở hổn hển. Một lần nữa, Monica nhìn vào ngực hắn.

Giết tao đi. Có lẽ đó là điều cuối cùng đôi mắt em gái cô nhìn được khi hắn cứa cổ nó như một con vật bị giết mổ. Đâu phải một dòng chữ an ủi ấm lòng cho mỗi sinh vật trước khi vĩnh viễn từ giã cõi đời như đáng lẽ ra nó phải thế. Làm vậy, tên sát nhân muốn giễu cợt em gái cô. Hắn đã rất hỉ hả về việc này. Có lẽ cả Teresa cũng cầu mong được chết để mọi chuyện nhanh chóng kết thúc. Trong cơn giận dữ, Monica ghì chặt tay cầm lưỡi đèn, các đốt ngón tay cô trở nên trắng bệch. Giết tao đi. Tên hèn hạ ấy đã xăm dòng chữ lên xương ức, ấy thế mà khi đau đớn hắn lại gọi cứu thương. Hắn cũng có khác ai đâu. Hắn cũng sợ chết. Monica giày vò suy nghĩ. Những ai từng biết Teresa thì chỉ thấy ở Monica một bản sao giả dối, bức tượng của một bảo tàng sáp, bản copy của một sự ân hận. Với cha mẹ, cô đại diện cho những gì em gái cô có thể và sẽ không bao giờ có thể. Họ nhìn thấy cô trưởng thành và họ kiếm tìm Teresa. Giờ thì Monica có cơ hội để khẳng định mình và giải phóng bóng ma của người em gái song sinh vẫn ngự trị trong cô. Mình là một bác sĩ, cô tự nhắc nhở. Cô đã muốn kiếm tìm một chút lòng trắc ẩn cho cái kẻ đang nằm thẳng cẳng trước mặt cô, hay nỗi lo sợ một công lý cao cả, hoặc cái gì đó tương tự như một dấu hiệu cho việc ấy. Đằng này, cô lại chẳng thấy gì cả. Do đó cô thử đào bới trong tuyệt vọng mối nghi ngờ rằng hắn chẳng liên quan gì đến cái chết của Teresa. Nhưng, với những gì mà cô suy luận, chỉ tồn

tại duy nhất một lý do cho việc chiếc giày patin màu đỏ xuất hiện ở đó mà thôi. Giết tao đi. Và trong khoảnh khắc ấy, Monica biết mình đã đưa ra quyết định.

M 6 giờ 19 phút ưa ào ạt trút xuống Roma như một đám tang buồn thảm. Bóng tối lê thê phủ lên những tòa nhà trong trung tâm phố cổ, hàng dài những mặt tiền đẫm lệ trong câm lặng. Các con hẻm ngoằn ngoèo như những khúc ruột quanh quảng trường Navona vắng lặng. Nhưng cách tu viện Bramante chỉ vài bước, những vách kính của quán Cà phê Pace cổ kính đang phản chiếu trên mặt đường bóng loáng. Bên trong quán là những chiếc ghế bọc vải nhung đỏ, bàn đá cẩm thạch vân xám, những bức tượng thời Tân Phục hưng và những vị khách thường lệ. Họ là những nghệ sĩ, chủ yếu là họa sĩ và nhạc sĩ đang bồn chồn vì buổi bình minh chưa trọn vẹn. Nhưng có cả những chủ cửa hiệu và tiệm đồ cổ đang chờ mở quầy hàng dọc khu phố, và một vài diễn viên sau đêm tập ở nhà hát ghé qua đây để uống một tách cappuccino trước khi đi ngủ. Tất cả đang kiếm tìm một chút an ủi cho cái buổi sáng tồi tệ đó, tất cả đang say sưa trò chuyện với nhau. Chẳng ai để ý đến hai kẻ lạ mặt vận đồ đen đang ngồi bên chiếc bàn nhỏ đối diện lối vào. “Chứng đau nửa đầu của anh sao rồi?” Người trẻ tuổi hơn hỏi.

Đang dùng đầu ngón tay nhặt nhạnh những hạt đường quanh một chiếc tách trống rỗng, người kia bỗng dừng lại, theo bản năng sờ tay lên vết sẹo bên thái dương trái. “Thi thoảng nó làm tôi mất ngủ, nhưng tôi thấy đã khá hơn.” “Anh vẫn thấy giấc mơ đó chứ?” “Hàng đêm, ” người đàn ông trả lời, nhướng đôi mắt mang màu xanh da trời u buồn và sâu thẳm. “Sẽ qua thôi.” “Phải, sẽ qua thôi.” Sự im lặng diễn ra sau đó bị phá vỡ bởi tiếng hú liên tục từ chiếc máy pha cà phê espresso. “Marcus, đã đến lúc rồi, ” người trẻ tuổi hơn nói. “Tôi vẫn chưa sẵn sàng.” “Không thể đợi thêm nữa. Bề trên đang hỏi tôi về anh, họ lo lắng muốn biết anh làm đến đâu rồi.” “Tôi đang tiến bộ mà, phải không?” “Phải, đúng vậy. Anh tiến bộ qua từng ngày, và điều này làm tôi yên lòng, thật đấy. Nhưng vẫn phải chờ. Rất nhiều việc đang phụ thuộc vào anh.” “Nhưng ai quan tâm đến tôi vậy? Tôi rất muốn gặp họ, nói chuyện với họ. Tôi biết mỗi cậu, Clemente.” “Chúng ta đã nói chuyện đó rồi. Không thể được.” “Vì sao?”

“Vì xưa nay vẫn thế.” Marcus lại sờ lên vết sẹo như anh vẫn thường làm mỗi khi lo lắng. Clemente rướn người về phía anh, buộc anh phải nhìn thẳng vào mắt cậu ta. “Đó là vì sự an toàn của anh.” “Ý cậu là vì sự an toàn của họ.” “Cũng phải, nếu anh muốn nghĩ như vậy.” “Tôi có thể trở thành một vật cản đáng tiếc. Và điều đó không được phép xảy ra, đúng không?” Câu nói mỉa mai của Marcus không làm Clemente tức giận. “Vấn đề của anh là gì vậy?” “Tôi không tồn tại.” Anh nói bằng giọng nghẹn ngào đau xót. “Việc chỉ có tôi biết mặt anh giúp anh được tự do, anh không hiểu sao? Họ chỉ biết tên anh và mọi chuyện còn lại đều phó thác cho tôi. Như vậy không có giới hạn nào cho nhiệm vụ của anh. Nếu họ không biết anh là ai, họ cũng không thể gây trở ngại cho anh được.” “Tại sao chứ?” Marcus cương quyết đáp trả. “Vì thứ mà chúng ta đang săn lùng có thể làm tổn hại tới cả họ. Nếu tất cả những biện pháp khác thất bại, nếu những rào cản trở nên vô ích, vẫn phải còn ai đó để trông chừng. Anh chính là người bảo vệ cuối cùng của họ.”

Trong ánh mắt của Marcus lóe lên một tia đầy thách thức: “Cậu trả lời tôi câu hỏi này… Còn có những người khác nữa giống như tôi chứ?” Im lặng trong giây lát, Clemente quả quyết: “Tôi không biết. Tôi không thể biết việc đó.” “Đáng lẽ cậu nên bỏ lại tôi ở cái bệnh viện đó.” “Anh không thể nói điều này, Marcus. Đừng làm tôi thất vọng.” Marcus ngó ra ngoài, nhìn những khách bộ hành tranh thủ cơn bão tạm ngưng mới chui ra khỏi những chỗ trú ẩn may mắn để tiếp tục hành trình của mình. Anh vẫn còn rất nhiều thắc mắc muốn hỏi Clemente. Có những việc liên quan trực tiếp đến anh, có những việc anh không biết nữa. Người đàn ông trước mặt là mối liên hệ duy nhất của anh với thế giới. Thậm chí cậu ta – Clemente – là tất cả thế giới đối với anh. Marcus chẳng nói chuyện với ai bao giờ, anh không có bạn. Nhưng anh biết những việc mà anh không muốn biết. Những việc về con người và về điều tồi tệ mà con người có thể gây ra. Những việc kinh khủng đến mức làm lung lay mọi đức tin, làm vấy bẩn mãi mãi bất cứ trái tim nào. Anh nhìn mọi người xung quanh sống mà không biết tới cái gánh nặng nhận thức đó, anh ghen tị với họ. Clemente đã cứu vớt anh. Nhưng sự cứu vớt đó đồng nghĩa với lối vào một thế giới của bóng tối. “Tại sao lại là tôi?” Anh hỏi và vẫn tiếp tục ngó lơ.

Clemente mỉm cười. “Những chú chó bị mù màu.” Đó là câu nói cậu ta thường dùng. “Thế nào, anh theo tôi chứ?” Marcus quay lại phía người bạn duy nhất của mình. “Được, tôi theo cậu.” Không nói thêm gì nữa, Clemente thọc tay vào chiếc áo mưa vắt trên lưng ghế. Cậu ta lấy ra một chiếc phong bì giấy, đặt lên bàn và đẩy về phía Marcus. Anh cầm lấy, cẩn trọng trong từng động tác, anh mở nó ra. Bên trong có ba tấm ảnh. Tấm ảnh thứ nhất là một nhóm thanh niên trong một bữa tiệc trên bãi biển. Ở tiền cảnh có hai cô gái mặc đồ bơi đang cụng chai bia trước một đống lửa. Trong bức ảnh thứ hai chỉ có một cô gái, tóc buộc túm và đeo kính cận. Cô ấy đang mỉm cười, tay chỉ về phía tòa nhà Văn minh Italia đang ở sau lưng, biểu tượng của trường phái Tân Cổ điển đang được trưng bày tại khu Triển lãm thế giới của Roma. Ở bức ảnh thứ ba, vẫn cô gái đó đang ôm một người đàn ông và một người phụ nữ, có lẽ là bố mẹ cô ta. “Ai vậy?” Marcus hỏi. “Cô ấy tên là Lara. Hai mươi ba tuổi. Học ở Roma nhưng từ nơi khác đến. Sinh viên khoa Kiến trúc, năm thứ tư.” “Chuyện gì đã xảy ra với cô ấy vậy?” “Vấn đề chính là ở đó: Không ai biết cả. Cô ấy đã mất tích được gần một tháng.”

Marcus chăm chú nhìn gương mặt của Lara, quên đi những âm thanh và mọi thứ ở xung quanh. Đây điển hình là một cô gái tỉnh lẻ cắm rễ trong thành phố lớn. Rất xinh xắn, đường nét thanh tú, không son phấn. Anh hình dung rằng cô gái này lúc nào cũng cột tóc vì không đủ tiền tới tiệm làm đầu. Có thể cô chỉ đến đó khi về nhà bố mẹ để tiết kiệm tiền. Trang phục cũng là một sự thỏa hiệp. Cô mặc quần jean và áo phông để không bị buộc chạy theo mốt. Trên gương mặt của cô, người ta có thể nhìn ra dấu hiệu của những buổi thức đêm học bài hay những bữa tối với cá ngừ đóng hộp, nguồn năng lượng cuối cùng của những sinh viên ngoại tỉnh khi họ đã tiêu hết ngân quỹ hàng tháng và đang trông chờ khoản trợ cấp mới từ bố mẹ. Lần đầu tiên xa nhà. Cuộc chiến thường nhật của cô với nỗi nhớ nhà được kìm nén bằng giấc mơ trở thành kiến trúc sư. “Kể cho tôi đi.” Clemente lấy ra một quyển sổ, đẩy tách cà phê sang một bên và bắt đầu đọc những ghi chép của mình. “Vào hôm mất tích, Lara ở cùng với một vài người bạn trong quán bar. Những người đi cùng nói rằng cô có vẻ bình thường. Họ buôn chuyện như mọi khi, rồi khoảng 21 giờ cô ấy nói mệt và muốn về nhà để đi ngủ. Hai trong số họ – một cặp đôi – đã cho Lara đi nhờ xe và đợi cho tới khi cô đóng cổng.” “Cô ấy sống ở đâu?” “Trong một tòa nhà cổ ở trung tâm.” “Có bạn cùng nhà không?”

“Khoảng hai mươi. Chỗ đó thuộc sở hữu của một đơn vị trường đại học cho sinh viên thuê căn hộ. Nhà của Lara ở tầng trệt. Cho tới tháng Tám vừa rồi, cô ấy ở cùng một cô bạn, người này sau đó đã rời đi, cô ấy đang tìm một người ở cùng mới.” “Chúng ta có manh mối đến đâu?” “Lara có mặt ở nhà trong những giờ tiếp theo được tổng đài điện thoại trong vùng xác nhận. Họ đã ghi lại được hai cuộc điện thoại gọi từ máy của cô ấy: một cuộc vào lúc 21 giờ 20 phút và một cuộc vào lúc 22 giờ 12 phút. Cuộc đầu tiên là gọi cho mẹ, kéo dài mười phút, cuộc thứ hai cho cô bạn thân nhất. Vào lúc 22 giờ 19 phút thì điện thoại cô ấy bị tắt. Và nó không được bật lại nữa.” Một cô phục vụ trẻ tiến lại bàn dọn tách cà phê. Cô ta có ý nán lại để họ gọi thêm đồ. Nhưng chẳng ai trong số hai người làm việc đó. Họ chỉ im lặng cho đến khi cô ta rời đi. Marcus hỏi: “Khi nào họ trình báo mất tích” “Tối hôm sau. Không thấy cô ấy ở khoa, những cô bạn đã gọi điện tìm cô ấy cả ngày nhưng chỉ thấy hộp thư tự động. Khoảng 20 giờ họ tới gõ cửa phòng cô ấy nhưng không thấy trả lời.” “Cảnh sát nghĩ sao?” “Trước hôm mất tích, Lara đã rút từ tài khoản bốn trăm euro để trả tiền thuê nhà. Nhưng quản lý tòa nhà chưa hề nhận được khoản tiền đó. Theo bà mẹ, trong tủ thiếu một cái ba lô và vài bộ quần áo. Không thấy tung tích gì của chiếc điện thoại. Vì vậy cảnh sát nghiêng về phương án cô ấy cố ý bỏ đi.”

“Tiện nhỉ.” “Anh biết mọi chuyện sẽ như thế nào rồi còn gì. Nếu không có lý do cho tình huống xấu thì sau một thời gian họ sẽ ngừng tìm kiếm. Và họ chờ đợi.” Có khi một cái xác lại xuất hiện, Marcus thầm nghĩ. “Cô gái có một cuộc sống bình thường,

Đầu truyệnChương Sau

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 1

Đang tải bình luận...