phần các trường hợp cho thấy rằng những hậu quả được áp đặt cho đến nay không thực sự tạo ra tác động gì. Ông Cowell cảm thấy mình giống như một người lính phải liên tục chiến đấu với kẻ thù - ngoại trừ việc “kẻ thù” đó là Don, cậu con trai mười bốn tuổi của ông, người quan trọng đối với ông hơn bất kỳ ai khác trên thế giới. Đối với người ngoài, có vẻ như Don có thể thoát khỏi mọi hình thức xử lý đến mức cậu ta hoàn toàn vô kỷ luật. Thực tế là bố cậu ta không phải là một phụ huynh dễ tính. Ông bà Cowell phải vật lộn trong nhiều năm để
giúp con trai mình hòa nhập với xã hội, cũng như nêu rõ những kỳ vọng và thiết lập các quy tắc ứng xử mà Don thường xuyên chế nhạo. Ông Cowell mô tả con trai mình là người lén lút, bướng bỉnh và bạo lực. Don đã đi tiểu vào thùng rác, viết nguệch ngoạc trên tường, nói dối không rõ lý do và không chịu trách nhiệm về bất kỳ hành vi sai trái nào của bản thân. Khi đối mặt với hành vi sai trái của mình, cậu ta cười khẩy và tỏ ra thích thú trước sự thất vọng và tức giận của cha mẹ. Ngay cả khi đối diện với “bằng chứng” cậu ta vẫn phủ nhận hành vi sai trái, đổ lỗi cho anh chị em hoặc đưa ra lời biện minh. Ông Cowell nhận xét, Don tỏ ra thích thú khi có thể thực hiện những việc làm láu cá với mọi người, tỏ ra giỏi giang hơn người khác và không bao giờ hối tiếc về những gì đã làm. Khi bị yêu cầu trở về phòng, Don sẽ từ chối. Cha của cậu bé thường xuyên phải đưa cậu về phòng, nhưng ngay khi người cha quay lưng đi, Don sẽ lẻn ra ngoài. Don phản ứng trước các hình thức kỷ luật của cha mẹ bằng cách la hét, chửi bới, đóng sầm cửa và đập phá đồ đạc, bao gồm cả đồ đạc của chính mình. Những kẻ phạm tội thường xuyên bắt nạt cả anh chị em trong nhà, chiếm đoạt vật dụng cá nhân và đổ lỗi cho họ khi phải đối mặt với hình phạt. Hành vi này cực đoan hơn nhiều so với sự ganh đua thông thường giữa các anh chị em. Những đứa trẻ phạm tội không chỉ chiếm đoạt đồ chơi, đĩa DVD và quần áo của người khác không cần xin phép mà còn phá hủy hoặc làm mất chúng. Cậu ta đe dọa anh chị em để chiếm đoạt tiền. Họ bị ép buộc phải phục tùng, bị cảnh báo phải giữ mồm giữ miệng và bị đe dọa rằng nếu hét lên, họ sẽ phải hối hận. Một số người chịu đựng trong im lặng vì họ duy trì loại ý thức trung thành với anh chị em của mình. Một cậu bé nói với tôi rằng, cậu ấy lo sợ nếu phàn nàn quá nhiều, bố mẹ cậu ấy sẽ gửi anh trai đến ngôi trường dành cho những đứa trẻ hư. Dù anh trai có ngược đãi khủng khiếp đến mức nào thì cậu ta cũng không muốn gánh chịu cảm giác tội lỗi vì để điều đó xảy ra. Chừng nào những kẻ du côn còn sống ở nhà thì chừng ấy anh chị em của anh ta ít có được những giây phút yên bình và riêng tư. Cha mẹ chúng cảm thấy mệt mỏi và lo lắng, do đó ít có thời gian dành cho những việc khác. Họ không thể quan tâm đến mọi thứ và chỉ dành được rất ít thời gian cho những đứa trẻ ngoan ngoãn vì những vấn đề của chúng được xem là ít cấp bách hơn, từ đó khiến chúng cảm thấy thiếu thốn. Gia đình không còn thực sự là một gia đình. Những khoảnh khắc bên nhau thường đầy rẫy xung
đột. Khi kẻ phạm tội bỏ nhà ra đi, thật ngạc nhiên khi thấy một số gia đình từng gặp nhiều khó khăn trở nên yên bình ngay tức thì. Sau khi tôi đứng giảng tại một lớp tâm lý học nhập môn tại một trường đại học, một cô gái trẻ đến gặp tôi và nói rằng cô ấy lớn lên cùng với một người anh trai có tính cách như tôi vừa mô tả. Cô ấy cho biết cô ấy không bao giờ trốn học hoặc bỏ bất kỳ buổi học nào, là một học sinh danh dự và không bao giờ khiến cha mẹ buồn lòng. Khi còn nhỏ, cô đã bực bội và bối rối khi không hiểu tại sao mình gần như không được cha mẹ quan tâm và ghi nhận. Chỉ gần đây, cô mới nhận ra rằng, cha mẹ cô đã gặp phải khó khăn và kiệt sức như thế nào khi phải cố gắng đối phó với người anh trai vô cùng hư đốn của mình. Cô ấy khẩn thiết khuyên các bậc cha mẹ đừng bỏ qua những đứa trẻ luôn vâng lời trong gia đình. Khi gia đình vẫn bị khó khăn bủa vây, các cha mẹ thấy bản thân phải trải qua những cảm xúc mà họ không bao giờ nghĩ có thể xảy ra; đáng báo động nhất là cảm giác ghét bỏ chính con cái. Suy nghĩ phổ biến trong giới chuyên môn và trong xã hội từ lâu cho rằng trẻ em trở thành tội phạm vì bị chính cha mẹ chối bỏ và coi là thù địch. Qua thời gian, tôi càng thấy được một điều ngược lại. Cha mẹ không bao giờ hoàn toàn chối bỏ con cái cho dù nó có phá phách đến đâu. Gần đây tôi tư vấn cho cậu bé Sam, mười bảy tuổi, sống với mẹ và cha dượng là Linda và Max Spence. Cậu thiếu niên này sống trong điều kiện khá giả, theo học một trường tư thục thượng hạng, có thẻ thành viên của phòng tập thể dục nơi cậu thường xuyên rèn luyện sức khỏe và không muốn gì ngoại trừ một chiếc ô tô vì cô Spence đã khôn ngoan từ chối ký xác nhận cho cậu ta thi bằng lái xe. Dù được hưởng những lợi thế về vật chất nhưng cả Sam và các anh chị em đều không được chiều chuộng quá mức. Tuy nhiên, Sam luôn cư xử như thể một nhân vật đặc quyền được miễn áp dụng các quy tắc. Trái ngược với các anh chị em, Sam tự cho mình là trung tâm và liên tục đưa ra yêu cầu cho người khác trong khi từ chối giúp đỡ bất kỳ ai trừ khi điều đó phù hợp với anh ta vào thời điểm đó - một điều hiếm khi xảy ra. Điểm số của Sam sụt giảm. Anh ta bắt đầu lẻn ra khỏi nhà vào ban đêm để tiệc tùng với bạn bè, trở về nhà trong tình trạng “phê” rượu hoặc cần sa. Sam đã cố gắng biến các buổi tư vấn của chúng tôi thành một phiên tòa, trong đó cậu ta đưa mẹ và cha dượng ra xét xử, sau đó cố gắng tranh
thủ tôi làm đồng minh của cậu ta. Cậu ta muốn sống với cha ruột, một người độc thân và có cách nuôi dạy con theo kiểu tự do, hoàn toàn trái ngược với phương pháp tiếp cận con cái của ông bà Spence. Sam tuyên bố trong vài tháng nữa, khi tròn 18 tuổi, cậu ta sẽ ra đi và sống với cha mình. Ông bà Spence đến gặp tôi để xin tư vấn về những việc cần làm trong thời gian sắp tới. Bà Spence, một người chỉ thực hiện các công việc nhỏ nhặt trong nhà, đang nuôi ba đứa con nữa ít tuổi hơn Sam. Bà thấy Sam đã trở thành hình mẫu khủng khiếp cho những đứa em, liên tục tranh cãi và cư xử hết sức thiếu tôn trọng đối với bà. Trong tuyệt vọng, bà ấy đã cố gắng cải thiện mối quan hệ bằng cách đưa Sam đi thăm các trường đại học theo yêu cầu của cậu ta. Bà cảm thấy ngạc nhiên khi thấy họ hợp nhau đến khó tin. Tất nhiên, lý do cho mối quan hệ tốt đẹp đó là bà Spence đã thực hiện một hoạt động do con trai bà lựa chọn. Ngay sau khi trở về nhà, cậu ta trở lại là một con người khó chịu, ngang ngược. Bà Spence cảm thấy tội lỗi khủng khiếp vì không ưa con trai mình. Mặc dù bà ấy luôn luôn yêu thương và lo lắng cho Sam, nhưng sống chung với cậu ta khiến bà không thể chịu đựng được cũng như gây ảnh hưởng xấu đến những đứa trẻ nhỏ tuổi hơn. Bà Spence bắt đầu nghĩ rằng, khi năm học kết thúc, có lẽ đã đến lúc nên cho phép Sam sống với người chồng cũ mặc dù bà biết rằng môi trường trong ngôi nhà với những người đàn ông độc thân là điều không đúng đắn. Linda Spence nói với tôi trong nước mắt rằng bà ấy cảm thấy như đang ném con trai mình ra khỏi nhà và gây nguy hiểm cho tương lai của nó - rằng đây không phải là những gì một người mẹ tốt sẽ làm. Tôi nhắc bà ấy về những thái độ mà Sam đã trải qua khi đặt cả gia đình vào tình thế nguy hiểm, cả về mặt pháp lý và tài chính. Sau khi được cha ruột giúp đỡ, Sam đã đệ đơn khiếu nại lên những người có thẩm quyền rằng cậu ta bị cha dượng bạo hành về thể xác. Gia đình Spence buộc phải thuê luật sư và xuất hiện tại phiên điều trần. Khi thẩm phán hiểu được bức tranh toàn cảnh về những gì đang xảy ra trong gia đình này, ông đã bác bỏ cáo buộc và cảnh cáo Sam vì vu khống hành vi lạm dụng. Trong bối cảnh tất cả những gì đã xảy ra cũng như với viễn cảnh Sam sẽ phá nát cả gia đình suốt mùa hè, bà Spence đã chuẩn bị sẵn sàng để cậu ta rời đi. Tôi đồng ý, vì bà ấy hoặc chồng bà ấy không thể làm gì hơn để giúp Con trai của họ. Trường hợp một người đủ tuổi hợp pháp để sống tự lập nhưng không chịu rời khỏi nhà cha mẹ đẻ cũng là một tình huống không hề dễ chịu. Các bậc cha mẹ có thể sợ rằng nếu ép buộc con cái ra riêng, chúng sẽ gây ra
điều gì đó nghiêm trọng. Một bà mẹ cho biết, “Chúng tôi đã trải qua một vụ tự tử kinh hoàng. Con trai tôi đã cứa vào cổ tay. Tin tôi đi, tôi hy vọng mình sẽ không bao giờ phải trải qua bất cứ điều gì như thế nữa. Cảm giác ghét bỏ vô cùng của tôi sau khi thằng bé ở bệnh viện khiến tôi sợ hãi. Đôi khi tôi nghĩ mình cần một chuyên gia phân tích. Những đứa trẻ này không nhận ra những gì chúng đang làm với cha mẹ của chúng”. Những đứa trẻ phạm tội thực hiện một loạt các chiến thuật kinh khủng để giành được ưu thế khi chúng bị mắc kẹt trong trận chiến với cha mẹ của mình. Chúng thường hiếm khi làm những việc mà những đứa trẻ ngoan ngoãn thường làm. Những cuộc chiến thường xảy ra nhiều hơn là những cuộc trò chuyện. Chiến thuật của chúng được thiết lập để chuyển hướng tập trung từ hành vi vô trách nhiệm của chúng sang những việc làm của cha mẹ, từ đó đẩy cha mẹ vào thế bị động. Những đứa trẻ không quan tâm đến cha mẹ, sau đó lại tuyên bố rằng cha mẹ chưa bao giờ lắng nghe chúng. Chúng nói rằng cảm thấy bối rối vì cha mẹ không cư xử rõ ràng. Chúng buộc tội cha mẹ không lắng nghe hoặc khăng khăng họ đã hiểu lầm. Hết lần này đến lần khác, chúng cáo buộc bị đối xử bất công và yêu cầu một lý do chính đáng cho bất cứ điều gì cha mẹ nói hoặc làm. Chúng giảm thiểu mức độ nghiêm trọng của những việc đã làm bằng cách viện dẫn những ý định tốt đẹp của bản thân. Những đứa trẻ phạm pháp buộc tội cha mẹ luôn mong đợi sự hoàn hảo và gây quá nhiều áp lực lên chúng. Chúng có thể tỏ ra chán nản và tuyên bố rằng chúng không thể thực hiện bất kỳ điều gì đúng đắn và hoàn toàn phải chịu những thất bại. Những lời tuyên bố rằng cha mẹ không quan tâm, không yêu thương chúng và đang hủy hoại cuộc sống của chúng thường gây ra những cảm giác tội lỗi. Khi cảm thấy tội lỗi và kiệt sức, người cha đang giận dữ sẽ vội vàng trấn an con cái, sau đó nới lỏng các hình thức kỷ luật; và hành vi sai trái lại không được giải quyết và đó mới là vấn đề chính. Một số cuộc hôn nhân tan vỡ do hành vi tấn công dữ dội của những đứa trẻ luôn chống đối và bất chấp cha mẹ. Không có gì lạ khi cha mẹ có những nhận thức và cách tiếp cận khác nhau đối với cùng một đứa trẻ. Một người có thể cứng rắn và cố gắng bắt đứa trẻ phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình. Trong khi đó, người còn lại đưa ra những lời giải thích cảm thông, vô tình tạo điều kiện cho hành vi sai trái tiếp tục xảy ra. Khi cha mẹ không có sự thống nhất, đứa trẻ sẽ chia rẽ gia đình và lấn lướt cha mẹ. Cậu
ta sẽ thân thiết với người này hơn người kia, tự mình lựa chọn người cha người mẹ dễ tính hơn trong khi nói xấu người nghiêm khắc hơn. Sau đó, cậu ta tìm kiếm sự đồng cảm từ những người khác, nói với họ rằng cha mẹ cậu ta luôn cãi nhau cũng như than vãn về cuộc sống gia đình tồi tệ như thế nào, nhưng lại không tiết lộ rằng hành vi sai trái của cậu ta chính là nguồn gốc của sự bất hòa. Tôi từng gặp những phụ huynh đổ lỗi cho chính mình và cho nhau do những hậu quả tai hại xảy đến với cuộc hôn nhân của họ. Những thiệt hại về tình cảm và tiền bạc do điều này gây ra cho các bậc cha mẹ thật khủng khiếp. Cảm giác tội lỗi trở nên vô cùng lớn khi cha mẹ có tâm lý tự hành hạ chính mình và băn khoăn liệu họ đã có thể làm điều gì đó khác đi. “Có phải chúng tôi đã gây quá nhiều áp lực lên con cái và tạo ra một con quái vật?”, một bà mẹ hỏi tôi. Một người khác cho rằng cô và chồng đã sai lầm vì chúng tôi không cho con trai mình thời gian vui chơi cần thiết khi nó còn nhỏ. Những cha mẹ này trải qua các triệu chứng về thể chất, trầm cảm và lo lắng. Thay vì là một nơi ẩn náu khỏi áp lực của thế giới bên ngoài, ngôi nhà của họ chứa đầy sự căng thẳng. Mỗi khi chuông điện thoại rung lên, lòng cha mẹ lại chùng xuống. Lần này sẽ là vấn đề gì - một người hàng xóm tức giận, trường học báo một vụ đánh nhau, cảnh sát gọi tới hoặc tệ nhất là bệnh viện thông báo con họ bị thương hoặc đã chết? Rất ít phụ huynh thờ ơ hoặc bỏ cuộc. Họ tiếp tục tìm kiếm giải pháp - dành nhiều thời gian hơn với con cái, chuyển trường cho con, hỗ trợ chúng tham gia các câu lạc bộ và giải thể thao chuyên nghiệp, đưa chúng đến gặp chuyên gia tư vấn hoặc tự mình tìm kiếm lời khuyên. Quá đỗi mong muốn tìm được giải pháp, họ tiếp tục tư vấn lương tâm của chính mình. Những bậc cha mẹ đổ lỗi cho bản thân, cho nhau, cho những người và hoàn cảnh bên ngoài gia đình. Thông thường vì bất an, sợ hãi và cảm giác về nghĩa vụ của bản thân, cha mẹ sẽ cố gắng giúp con cái thoát khỏi khó khăn. Tôi đã gặp một số cha mẹ rơi vào tình trạng nợ nần vì con cái phạm tội, thuê một luật sư bào chữa và đảm bảo các yêu cầu khi đứa con phải đối mặt với các cáo buộc hình sự nghiêm trọng. Ngay cả khi cộng đồng bất bình trước những vụ việc do con cái của họ gây ra, các bậc cha mẹ vẫn tiếp tục ủng hộ con cái. Một người cha chia sẻ với tôi, “Nó vẫn là con trai tôi. Tôi cần phải ủng hộ nó”. Người cha này đã thế chấp căn nhà để thuê một luật sư hàng đầu bào chữa cho cậu
bé mười lăm tuổi. Ông ấy không nhận lại được bất kỳ sự biết ơn nào từ đứa con của mình. Con trai ông mong đợi sự giúp đỡ. “Nó không biết về những khó khăn mà bản thân đã gây ra cho gia đình. Nó nghĩ rằng chúng tôi có trách nhiệm giải quyết vấn đề nó đã gây ra, người cha nhận xét.” Những đứa trẻ này lên âm mưu cho việc ly hôn và khai thác những bất đồng giữa cha mẹ. Cha mẹ của Emily, anh chị Douglas, có quyền giám hộ pháp lý chung đối với đứa con, tuy nhiên Emily chủ yếu sống với mẹ. Chị Douglas, người có hai con nhỏ, vẫn luôn là người mẹ kiên quyết khi đặt ra các quy tắc trong gia đình, yêu cầu trách nhiệm giải thích, giám sát bài tập về nhà và theo dõi nơi của Emily. Cô khẳng định rằng chồng cũ của cô là một người cha dễ dãi luôn “nổi điên và bỏ đi”. Anh Douglas thừa nhận với tôi, “Có lẽ tôi đã quá dễ dàng đặt ra các giới hạn”. Tuy nhiên, đôi khi anh ấy cũng sẽ đạt đến mức độ chịu đựng tối đa, sau đó sử dụng các biện pháp như cất điện thoại của Emily đi và phá bỏ cửa phòng của cô bé. Emily vốn là một đứa trẻ thực sự cộc cằn, sau khi cha mẹ chia tay, cô ấy trở nên bất trị. Cả hai cha mẹ đều liên tục phải đấu tranh với những lời nói dối, bỏ nhà đi bụi, yêu đương lăng nhăng, lừa đảo, phá hoại tài sản, hút thuốc và tấn công anh chị em của cô. Gia đình Douglas theo dõi cô con gái, một đứa trẻ vô cùng thông minh nhưng luôn trốn học, không chịu làm bài tập về nhà và không bao giờ đụng đến cuốn sách để chuẩn bị cho bài kiểm tra. Mẹ cô mô tả Emily là kẻ bạo lực và “ăn nói tục tĩu đến khó tin”. Gia đình Douglas liên tục tranh cãi về cách giúp đỡ và kỷ luật cô bé. Trong khi ông Douglas chuẩn bị gửi Emily vào trường công lập địa phương và coi việc học trường tư là một sự lãng phí thì bà Douglas lại trả tiền để con gái theo học một trường Công giáo tư nhân, ở đó lớp học có quy mô nhỏ hơn và chịu sự giám sát chặt chẽ hơn. Emily thề sẽ không bao giờ đặt chân vào cánh cửa của ngôi trường Công giáo và đời sống với cha của mình. Emily tuyên bố rằng tất cả những gì mẹ cô làm là “sỉ nhục bản thân” và khẳng định cô không muốn tiếp xúc với mẹ. Emily mô tả anh chị em là “những con quỷ nhỏ nịnh bợ mẹ”. Cô bé tố cáo cha mình và khẳng định: “Ông ấy luôn ủng hộ anh chị cháu. Ông ấy la lối và hét vào mặt cháu”. Về việc cha cô được cho là thiên vị đối với những đứa trẻ khác, ông Douglas thừa nhận, “Những đứa trẻ khác khiến tôi vui vẻ khi ở cùng chúng”. Làm cha mẹ của những đứa trẻ đó mang lại cảm giác dễ chịu hơn rất nhiều. Mẹ của Emily đã dẫn cô bé đến gặp một nhà trị liệu và người này cho biết vấn đề chính của cô bé tuổi mới lớn là do “ở trong hoàn cảnh liên quan đến cha
mẹ”. Cô ấy nói rằng Emily không bị “rối loạn nghiêm trọng”, và cho rằng những khó khăn của cô bé gần như hoàn toàn là do “việc làm yếu kém” của cha mẹ. Hoàn toàn có một “hoàn cảnh liên quan đến cha mẹ” - được tạo ra chủ yếu khi Emily cư xử theo cách tính toán và lừa dối, và trở nên cực kỳ thành thạo trong việc thân thiết với bên này để chống lại bên kia. Cô bé thích trong môi trường ít những ngăn cấm hơn. “Đơn thuốc” dành cho cô bé để giải quyết mọi vấn đề là những người khác nên đầu hàng theo yêu cầu của cô. Cả gia đình, đặc biệt những đứa trẻ nhỏ tuổi hơn, đều là tù nhân tâm lý của Emily. Nhà trị liệu đã sai lầm khi cho rằng hành vi của Emily là do bất hòa từ cha mẹ. Mối quan hệ không tốt đẹp giữa ông bà Douglas đã tạo cơ hội cho Emily thúc đẩy sự chia rẽ lớn hơn bao giờ hết giữa họ, tạo ra sự phân tâm, sau đó làm bất cứ điều gì cô ấy muốn trong khi cha mẹ đang bất đồng. Gia đình vẫn trong tình trạng hỗn loạn vì cô bé mới lớn này gần như xâm chiếm các thành viên trong gia đình khi làm tổn thương và lừa gạt mọi người. Các vấn đề của Emily mang tính chất đặc trưng bản thân hơn là mang tính “gia đình”. Tôi khuyên các bậc cha mẹ nên tìm đến các chương trình tư vấn chia sẻ trách nhiệm làm cha mẹ để gia đình có thể hoạt động như một thể thống nhất. Liệu pháp hệ thống gia đình mà bác sĩ trị liệu của cô ấy đề xuất là một sự lãng phí thời gian vô cùng lớn. Nếu cha mẹ không gặp đủ số vấn đề trước khi thực hiện liệu pháp gia đình thì có lẽ họ cũng sẽ phải gặp thêm nhiều vấn đề hơn nữa trong thời gian sau đó. Tôi từng gặp những người phải xin tị nạn khi thực hiện liệu pháp gia đình do tất cả những gì cha mẹ nhận được trong trải nghiệm đó là những hóa đơn khổng lồ và nhiều căng thẳng hơn. Tôi đề nghị Emily nên gặp bác sĩ trị liệu riêng của cô bé, người sẽ giải quyết các kiểu suy nghĩ đang tiếp tục dẫn đến hành vi hủy hoại người khác và sau cùng là đối với chính bản thân cô bé. Một chuyên gia sức khỏe tâm thần luôn có thể xác định một số vấn đề tiềm ẩn và phát hiện xung đột trong tất cả mọi gia đình. Liệu pháp hệ thống gia đình cho rằng các vấn đề của một thành viên là triệu chứng của sự xáo trộn trong toàn bộ gia đình. Một giả thuyết cơ bản cho rằng một đứa trẻ có thể vi phạm pháp luật vì nó đã trở thành vật tế thần mà gia đình vô thức lựa chọn để thực hiện những tưởng tượng và sự bốc đồng bị cấm đoán của các thành viên khác. Có thể hệ thống gia đình bị xáo trộn làm phát sinh các trường hợp cá biệt liên quan đến hành vi chống đối xã hội. Tuy nhiên, vẫn chưa có bằng
chứng thuyết phục nào từ việc nghiên cứu các gia đình cho thấy hệ thống bị xáo trộn là nguyên nhân khiến trẻ em phát sinh và gia tăng các kiểu hoạt động phạm pháp. Trên thực tế, những gì thường xảy ra trong quá trình điều trị là đứa trẻ phạm pháp lấy gia đình làm người giơ đầu chịu báng. Trong khi nhấn mạnh rằng bản thân hoàn toàn bình thường và không cần điều trị, đứa trẻ đó sẽ tận dụng quan điểm của bác sĩ trị liệu rằng gia đình phải chịu lỗi vì đó là “bệnh”. Tôi nhận được vô số thư và email từ những cha mẹ đẻ cũng như cha mẹ dượng đang cảm thấy thất vọng trên khắp nước Mỹ, những người bị giam hãm trong những cuộc đấu tranh không ngừng với những đứa trẻ như Don, Sam, Tom và Emily. Họ cho biết khi đưa con đi tư vấn, nhân viên tư vấn ngay lập tức cho rằng cha mẹ đẻ hoặc cha mẹ dượng là người có lỗi. Họ trở thành tâm điểm của quá trình cố vấn, một trải nghiệm tương tự như khi bị đưa ra xét xử. Trong khi đó, quá trình tư vấn lại gần như không tạo ra tác động tích cực nào đến con cái họ. Rõ ràng, một số cha mẹ cần giúp đỡ. Thật không may, ngay cả khi họ thay đổi, điều này cũng không thể đảm bảo con cái họ sẽ trở thành một người có trách nhiệm. Đôi khi cha dượng, mẹ kế có thể gặp phải khoảng cách tâm lý khiến họ dễ trở thành mục tiêu hơn cha mẹ ruột. Họ phát hiện ra mặc dù bản thân luôn cố gắng hết lòng với con riêng, tuy nhiên những nỗ lực hết mình đó đều bị hắt hủi. Tamara đã phải vật lộn để đối xử tốt với Tony khi mẹ của cậu bé qua đời lúc cậu mới tám tuổi. Cô ngày càng mất tinh thần với con đường mà Tony đang đi - những người bạn cậu ta lựa chọn, không quan tâm đến trường học, lén lút và nói dối cũng như sự thiếu tôn trọng của cậu ta đối với bất kỳ ai yêu cầu cậu ta phải làm gì đó. Cô ấy thấy mình đang trong tình thế vô cùng khó khăn. Trong khi cố gắng nuôi dưỡng và thể hiện tình cảm với đứa trẻ, Tamara nhận thấy rằng Tony đã chống lại hầu hết mọi yêu cầu hoặc đề nghị từ phía cô. Khi tôi nói chuyện với Tony về mối quan hệ của cậu ta với mẹ kế của mình, cậu ta có thái độ khá mỉa mai. Cậu ta phàn nàn, “Bà ấy luôn làm lớn những chuyện rất nhỏ nhặt”, và khẳng định không muốn nói chuyện với cô ấy chút nào. “Bà ấy không tin tưởng tôi cho lắm và tôi cũng không tin tưởng nhiều vào bà ấy”, cậu ta nói. Tamara nhận xét: “Tôi không thể sống với một đứa trẻ không muốn có tôi trong cuộc đời của nó. Tôi đã cố gắng. Tôi đã xem cậu bé như một đứa trẻ cần được yêu thương”. Mối quan hệ của họ trở nên tồi tệ đến mức cô ấy vô cùng buồn bã thừa nhận: “Tôi không thích đứa trẻ này”. Tamara quyết
định liên hệ với Tony bằng thư tay. Bức thư của cô ấy bày tỏ tình cảm tương tự như trong bức thư tôi từng gặp nhiều lần khi cha mẹ kế dũng cảm tiếp cận với nhóm con cái này, nhưng liên tục nhận về những lời từ chối. Tamara thấy rằng cô không chỉ thất bại trong mối quan hệ với con riêng, mà cuộc hôn nhân của cô cũng bị lung lay đến tận cùng. Rõ ràng là mẹ và con sẽ không thể sống cùng nhau trong một mối quan hệ tích cực và hòa bình. Mẹ cảm thấy hối tiếc về tình trạng đáng buồn này hơn là việc mẹ chắc chắn con sẽ tin điều đó. Con có những công cụ để tạo ra những thay đổi trong cuộc sống của mình nhưng dường như con không sẵn sàng sử dụng chúng… Mẹ trở nên bực bội khi thấy con lãng phí tiềm năng to lớn của mình. Đó là lỗi của mẹ, nhưng mẹ sợ bản thân sẽ thực hiện hành động của con một cách cá nhân, cảm thấy những hành động đó đang hướng vào mẹ - một kẻ xâm nhập vào cuộc sống của con. Cảm giác này có thể là chính đáng hoặc không. Thực lòng mẹ không cảm thấy mình đã mong đợi con nhiều hơn những đứa trẻ khác. Hai năm rưỡi mẹ yêu thương con. Hai năm rưỡi trước đâu mẹ đã rất muốn ôm con vào lòng, để con tận hưởng niềm vui, để con khóc trôi đi những nỗi sợ hãi trên đôi vai của mẹ. Mẹ đã rất muốn trở thành một phần tốt đẹp trong cuộc sống của con… Giờ đây, sau hai năm rưỡi, mong muốn của mẹ là đánh cho con một trận để xem liệu điều đó có nhận được phản hồi hay không, bất kỳ phản hồi nào đó từ phía con. Mẹ muốn yêu thương hơn là ghét bỏ, thích những cái ôm để vỗ về. Mẹ muốn tình yêu mà mẹ đã có từ hơn hai năm trước hơn là tức giận và căng thẳng trong mẹ bây giờ. Chúng ta dường như đang tiến gần hơn đến một giải pháp hơn bất kỳ thời điểm nào khác. Mẹ rất mong muốn có được sự bình yên và ấm áp trong cuộc sống và ngôi nhà của mẹ. Quá nhiều tức giận, căng thẳng và thất vọng đang giết chết mối quan hệ giữa bố con và mẹ, cũng như phá hủy chính bản thân mẹ. Con cần phải biết những điều này và mẹ cần con biết những điều này. Mẹ xin chia sẻ trách nhiệm của mình. Bố của con rất yêu con và nhìn thấy những điều tốt đẹp ở con. Mẹ muốn yêu thương con nhưng tình yêu chỉ lớn lên nếu nó được nuôi dưỡng. Mẹ thấy được những điều tốt đẹp trong con người con nhưng cũng cần có một sự chỉ dẫn vững chắc. Có lẽ một ngày nào đó con sẽ quyết định để Chúa dẫn đường cho con và khi đó cuộc sống của con sẽ dễ dàng hơn rất nhiều.
Yêu con… Tamara đã đạt đến điểm quan trọng cả trong mối quan hệ của cô với con riêng và với chồng. Hơn nữa, cô ấy bắt đầu chán ghét bản thân và nhận ra bản thân đang cư xử hoàn toàn trái ngược với những gì cô ấy đã hình dung khi trở thành mẹ kế của Tony. Cố gắng nuôi dưỡng, yêu thương và ủng hộ nhưng cô đã bị từ chối. Và cô cảm thấy tuyệt vọng khi chồng cô nghĩ rằng anh ta phải lựa chọn giữa cô và con trai của anh ta. Cô ấy không muốn từ bỏ cuộc hôn nhân hay Tony và quyết định tham gia buổi tư vấn cho các cặp vợ chồng. Không hiếm những trường hợp cha mẹ ly hôn rồi tái hôn gặp phải khó khăn để được con riêng chấp thuận. Những gia đình có con riêng thường đòi hỏi rất nhiều công việc khác nhau, và đôi khi là sự trợ giúp của chuyên gia. Tuy nhiên, kiểu trẻ nhỏ đang được thảo luận ở đây cố gắng lợi dụng tính cách của cha mẹ kế hoặc sự thực rằng người đó không phải là cha mẹ “thực sự” của nó để biện minh cho hành vi sai trái. Một cậu bé nói với tôi rằng mẹ kế của cậu, người trẻ hơn mẹ ruột của cậu, sẽ bắt cậu hoặc yêu cầu cậu trở về phòng riêng. Cậu bé nói ngắn gọn, “Đôi khi cháu làm theo yêu cầu; đôi khi thì không. Cô ấy không thể làm gì được đâu. Cô ấy không phải mẹ cháu. Không một ai ít tuổi hơn mẹ cháu có thể yêu cầu cháu phải làm điều gì”. Cậu ta chế nhạo giọng nói của mẹ kế và bắt chước nét mặt cũng như cách cư xử của cô ấy. Đôi khi, một đứa trẻ vi phạm cố gắng thuyết phục những người bạn của mình rằng mình là người đáng tin cậy. Cậu ta bất ngờ trở thành người gánh vác trách nhiệm trong gia đình, hiếu thuận với cha mẹ và thể hiện thái độ tổng thể tốt hơn. Như thể mặt trời đã xuyên qua những đám mây đen. Điều này thực tế lại là một trò lừa đảo, một bình phong được tính toán để ru ngủ gia đình và nghĩ rằng cậu ta đang thay đổi tính cách. Nhìn chung, động cơ là đạt được thứ cậu ta mong muốn nhưng từng bị từ chối hoặc bị hủy bỏ do vi phạm. Điều này được gọi là “sửa đổi hành vi” trái ngược. Đứa trẻ tìm cách thay đổi quan điểm của cha mẹ, sau đó “thưởng” cho cha mẹ bằng một hành vi tốt. Cậu ta hy vọng một bước ngoặt tích cực tạm thời có thể xóa bỏ mọi vi phạm trước đó. Tuy nhiên, sự cải thiện trong hành vi không hề kéo dài. Sau nhiều năm bị tấn công bởi những giá trị của bản thân, một số bậc cha mẹ dần chấp nhận những quan điểm mà trước đây họ không thể chấp nhận. Trong một trường hợp, một người mẹ luôn phản đối vấn đề ma túy
bất hợp pháp bắt đầu dịu lại, sau đó trở thành người ủng hộ việc hợp pháp hóa cần sa. Điều này xảy ra sau khi cô ấy bất lực trong việc ngăn cản con mình sử dụng chất cấm này và sau khi bị cậu ta thuyết phục rằng những người khác cũng đang sử dụng nó. Sự thay đổi thái độ như vậy xuất phát từ sự tuyệt vọng của những bậc cha mẹ muốn xích lại gần một đứa trẻ ngày càng tỏ ra rời xa gia đình. Nancy Lanza là mẹ của Adam, kẻ gây ra vụ xả súng tại trường học tại thị trấn Newtown, bang Connecticut. Với thông tin xuất hiện kể từ vụ xả súng năm 2012, dường như bà Lanza đã tìm cách giúp đỡ con trai mình nhưng cũng chính là người kích hoạt bản chất của anh ta. Ruth Marcus, nhà báo chuyên mục của tờ Washington Post mô tả cách mẹ của Adam phục vụ anh ta. “Một số loại bát đĩa không được phép sử dụng cho các loại món ăn nhất định. Không được tổ chức ăn mừng trong ngày Sinh nhật, Giáng sinh và ngày lễ. Người mẹ đã đuổi một con mèo vì kẻ gây ra vụ nổ súng này không muốn nó ở trong nhà”.[42] Bà Lanza luôn là người đi mua sắm và nấu ăn theo yêu cầu của con trai. Và bà ấy thậm chí còn chấp nhận việc Adam từ chối giao tiếp với chính bà ấy ngoại trừ thông qua email dù họ sống chung một nhà. Người mẹ này nuông chiều con trai đến mức bà ấy “khuyến khích anh ta quan tâm đến súng” và đã đưa cho anh ấy một tấm séc để mua một khẩu súng lục cho lễ Giáng sinh. Bà Lanza là một phụ huynh đã thực hiện các biện pháp phi thường để kết nối với con trai mình, “nắm bắt niềm đam mê chung” - súng. Với tư duy tính toán, một đứa trẻ có thể nhẫn tâm lợi dụng mong muốn của cha mẹ để tăng cường mối quan hệ của chúng. Đứa trẻ đó tin rằng thay vì mạo hiểm lùi một bước trong mối quan hệ, cha mẹ sẽ ngừng phản đối tất cả mọi vấn đề. Nếu một phụ huynh từ bỏ quyền kiểm soát nhưng người kia lại không thì mối quan hệ hôn nhân sẽ bị gián đoạn nghiêm trọng. Độc giả có thể kết luận rằng, tôi đang để các bậc cha mẹ trốn tránh trách nhiệm bất kể những thiếu sót của họ là gì. Đó không phải là vấn đề. Cha mẹ ngược đãi, bỏ mặc con cái, quan điểm không nhất quán, tâm lý rối loạn có khả năng ảnh hưởng xấu đến con cái. Tuy nhiên, điều này không có nghĩa là những cha mẹ như vậy sẽ luôn sản sinh ra tội phạm. May mắn cho xã hội là hầu hết trẻ em bị cha mẹ sao lãng hoặc lạm dụng không trở thành tội phạm. Hơn nữa, điều đáng chú ý là một số kẻ phạm tội lại là con
cái của những cha mẹ luôn tận tụy, vững vàng và có trách nhiệm. Thật không may, những nỗ lực của cha mẹ nhằm giúp đỡ và dạy dỗ loại trẻ như vậy có thể và thường thất bại. Cuối cùng, cha mẹ thường là nạn nhân và con cái là kẻ đối xử tàn nhẫn, hoàn toàn không phải là trường hợp ngược lại. Một số khu vực pháp lý áp dụng hình phạt đối với cha mẹ khi con cái của họ thực hiện hành vi sai trái. Nếu một thanh niên vẫn ra đường sau giờ giới nghiêm của luật định, thường xuyên trốn học hoặc tham gia vào các hành vi vi phạm khác, cha mẹ có thể bị phạt hành chính hoặc phạt tù. Tôi đã phỏng vấn những bậc cha mẹ phải đối mặt với rất nhiều chỉ trích, những người đã làm mọi cách có thể để hướng dẫn, ngăn cấm và kỷ luật những đứa con khó bảo nhưng rồi chỉ khiến cậu ta tiếp tục trốn tránh và bất chấp những nỗ lực tận tâm của cha mẹ. Việc trừng phạt các ông bố bà mẹ về hành vi phạm pháp của con cái có thể hữu ích khi áp dụng cho những người vô trách nhiệm và bỏ bê con cái, nhưng sẽ chỉ làm suy yếu và làm mất tinh thần của những bậc cha mẹ tận tâm và cần sự giúp đỡ chứ không phải sự chỉ trích từ cơ quan thực thi pháp luật và tòa án. Tất cả những bậc phụ huynh đọc chương này đều có thể cảm thấy hoảng hốt nếu họ có một đứa con sở hữu những hành vi được nêu ra ở đây. Nhưng trước khi kết luận rằng họ đang có một tên tội phạm mới chớm nở trong gia đình mình thì họ nên tự hỏi bản thân xem liệu con mình có đang thể hiện những biểu hiện hành vi cô lập đã được đề cập hay đang tham gia vào các hình mẫu đang ngày càng mở rộng và gia tăng hay không. Không phải đứa trẻ nào lấy cắp vài đồng xu nằm trên chiếc bàn nhà hay ăn trộm vài viên kẹo từ cửa hàng cũng đều trở thành tội phạm. Chương này thể hiện các hình mẫu về một số ít những đứa trẻ sẽ gây ra thiệt hại to lớn cho xã hội, bất kể cha mẹ hoặc những người khác làm gì để răn đe và giúp đỡ chúng. Ngay cả khi cảm thấy bị chỉ trích, thất vọng và tức giận, các bậc cha mẹ vẫn đau buồn. Nhiều người nói rằng họ không thể ngừng nghĩ về con cái và mọi vấn đề liên quan đến chúng. Một người mẹ đã nói lên hoàn cảnh của nhiều bậc cha mẹ có con nhỏ phạm tội khác: “Tôi cảm thấy rất tiếc cho đứa con mười lăm tuổi của mình khi nó đã nuôi dưỡng quá nhiều hận thù đối với thế giới và những người xung quanh. Tôi sẽ làm bất cứ điều gì để nó quay trở về nhà và tận hưởng cảm giác là một thành viên trong gia đình.
Nếu có thể vung một chiếc đũa thần và biến mọi thứ trở nên tốt đẹp, tôi sẽ bán mọi thứ tôi có để đạt được sức mạnh đó. Tôi không thể chịu đựng việc nhìn đứa con hủy hoại cuộc đời của nó. Tôi rất muốn nghe rằng, dù chỉ là có thể, vẫn còn tia hy vọng giúp thằng bé trở thành một thiếu niên bình thường, hạnh phúc, một người có thể tận hưởng những năm tháng tuổi thơ quý giá này”. Một bà mẹ khác nhận xét khi chia sẻ về cô con gái vô trách nhiệm, thô lỗ và luôn coi mình là trung tâm: “Hết lần này đến lần khác, tôi bắt đầu hy vọng vào con bé, nhưng sau đó nó luôn làm điều gì đó khủng khiếp. Nhưng tôi sẽ trở thành một người mẹ như thế nào nếu không còn hy vọng?” Một số ông bố bà mẹ đã kiệt sức miễn cưỡng kết luận rằng họ đã đạt đến ngưỡng không thể làm gì để cải thiện tình hình. Tuy nhiên, sẽ vô cùng đau đớn nếu thực hiện điều khả thi duy nhất với họ lúc đó - cắt đứt quan hệ với đứa con của mình. “Tôi đang học cách buông bỏ”, một ông bố chia sẻ. “Tôi không muốn trói buộc cuộc đời mình với vấn đề này. Tình trạng đó giống như một người thân bị bệnh nặng. Bạn cần phải sẵn sàng đón nhận cái chết của người đó”. Tuy nhiên, nỗi đau hằng ngày vẫn dữ dội trong khi những sự kiện bình thường trở thành nguồn gốc của sự sỉ nhục. Cha mẹ sẽ phải nói gì khi người bà hỏi về đứa cháu nội của mình? Việc phụ huynh thừa nhận với nhân viên tư vấn học đường rằng họ không thể kiểm soát con cái ở nhà, chứ chưa nói gì đến ở trường thật đáng xấu hổ. Mỗi sự cố như một lời nhắc nhở mạnh mẽ về sự thất bại trong công việc mà họ coi là kinh nghiệm quan trọng nhất trong việc nuôi dạy con trẻ. Sau tất cả, đứa trẻ không có một chút quan tâm hay lo lắng về cảm giác đau đớn của cha mẹ. Khi được hỏi về cảm giác đau khổ của cha mẹ, một cậu bé lạnh lùng trả lời: “Nó giống như một cuộc phẫu thuật. Họ phải sống với nỗi đau. Đó là vấn đề của họ”.
3. ÁP LỰC TỪ BẠN BÈ Không có lời bào chữa nào cho tội phạm “Bạn bè của tôi bắt tôi ăn cắp vặt. Bạn bè khiến tôi nghiện ma túy. Mọi người tôi biết đều làm vậy. Tôi cũng giống như bất kỳ thiếu niên nào khác”. Đây là những câu nói điển hình mà tôi được nghe khi phỏng vấn các phạm nhân trẻ tuổi. Họ cho rằng họ bị gây sức ép, bị bắt nạt, bị lừa dối, hoặc thậm chí bị buộc phải phạm tội. Đây là những gì họ nói với người khác chỉ sau khi họ bị bắt, khi họ đang cố gắng tránh khỏi những hình phạt. Nhiều phụ huynh cũng có cùng quan điểm khi cho rằng về cơ bản con cái họ là một đứa trẻ ngoan nhưng bị lừa dối và hư hỏng do “giao du với nhầm đám đông”. Tuy nhiên thực tế lại hoàn toàn khác. Nhiều nhà quan sát chuyên môn cho rằng việc kết giao với những người đồng trang lứa phạm pháp là một “yếu tố nguy cơ mạnh mẽ” để trở thành tội phạm. Nhưng điều này cũng giống như việc lặn xuống nước sẽ khiến bạn bị ướt. Điều này không biểu lộ gì về quan hệ nhân quả nhưng thể hiện rất rõ về quyết định lựa chọn. Một phạm nhân trẻ tuổi nhận xét: “Những người như chúng tôi sẽ tìm thấy nhau”. Tội phạm tìm kiếm nhau vì mục đích riêng của chúng. Theo kiểu giống như radar, họ thu hút những người khác có cùng mối quan tâm. Họ không bị lôi kéo vào hoạt động phạm tội trái với ý muốn. Nếu một thanh niên có trách nhiệm đưa ra lựa chọn thiếu khôn ngoan và đánh giá sai một thanh niên khác mà anh ta phát hiện ra là không tốt, cuối cùng anh ta sẽ tự giải thoát khỏi tình huống đó và rất có thể là khỏi toàn bộ mối quan hệ đó. Không thể phủ nhận rằng áp lực từ bạn bè thực sự tồn tại từ khi lọt lòng đến lúc chết. Từ những nhóm vui chơi ở cấp mầm non đến cuộc sống khi trưởng thành, chúng ta trải qua nhiều áp lực từ những người xung quanh, đặc biệt là các bạn cùng trang lứa. Mỗi trường trung học đều có các bè phái và nhóm xã hội riêng - những kẻ mọt sách, những kẻ kỳ quặc, những gã khờ khạo, hội con nhà giàu,… Câu hỏi quan trọng là đứa trẻ chọn lựa chơi với những người bạn nào. Ở
Ở các khu vực thành thị và ngoại ô, trẻ em sẽ tụ tập tham gia các hoạt động có tổ chức. Khi gặp gỡ những người mới và khám phá ra những sở thích mới, chúng tham gia vào các hoạt động thể thao, các nhóm tôn giáo, các câu lạc bộ hướng đạo sinh, phục vụ cộng đồng và các câu lạc bộ ở trường. Quá trình hòa nhập xã hội diễn ra khi những đứa trẻ này học hỏi về sự hợp tác, cạnh tranh, chia sẻ và tự chủ. Trong khi những đứa trẻ có trách nhiệm khám phá ra những cơ hội để có được niềm vui và phát triển cá nhân thì đứa trẻ phạm pháp lại trải qua cảm giác bồn chồn và ngày càng chán chường. Một số kẻ phạm pháp không tham gia bất kỳ hoạt động có tổ chức nào. Một số khác tham gia nhưng lại bỏ giữa chừng. Họ bực bội khi phải thực hiện các yêu cầu mà người khác áp đặt. Một cậu bé nói rằng cậu ấy bỏ hội Nam Hướng đạo vì: “Tôi không thích nghe theo người lớn và những gì họ bảo tôi phải làm”. Anh ta tố cáo các thành viên trong hội của mình là “tọc mạch và phiền phức”. Anh ta khẳng định, “Tôi không cảm thấy mình là một