Tâm Lý Học Tội Phạm (Tập 1) - Stanton E. Samenow [eBook]

Phần 3 (Trang 21 - 30)

Phần 3 (Trang 21 - 30)

31 yếu tố nguy cơ, CDC xác định hầu hết mọi nghịch cảnh xã hội hoặc gia đình mà người ta có thể nghĩ đến. Một số “yếu tố” xác định các điều kiện trong cuộc sống mà một người không kiểm soát được, chẳng hạn như “lạm dụng chất kích thích của cha mẹ” hoặc “tập trung đông người dân nghèo”. Một số yếu tố nguy cơ đáng lẽ không nên được coi là “yếu tố nguy cơ vì chúng thực sự chỉ mô tả những kết quả”. “Mối quan hệ với những người bạn phạm pháp” không phải là một yếu tố nguy cơ. Đó là kết quả của sự lựa chọn từ một người và đặc điểm của những người chưa thành niên phạm tội. “Niềm tin và thái độ chống xã hội” không đặt một người vào nhóm có nguy cơ cao. Việc sử dụng từ “nguy cơ” là không cần thiết bởi vì suy nghĩ chống đối xã hội gần như đảm bảo người đó sẽ hành xử gây tổn thương người khác. “Tham gia vào một băng đảng” đòi hỏi việc tham gia vào hoạt động tội phạm. Đây là những gì các băng nhóm thực hiện, do đó không phải là một yếu tố nguy cơ. Sau khi xác định các yếu tố nguy cơ, CDC liệt kê “các yếu tố bảo vệ” để “bảo vệ giới trẻ khỏi nguy cơ trở nên bạo lực”. Về bản chất, đây là những liều thuốc giải độc cho các yếu tố nguy cơ. Rất khó để nhận ra những gì được làm sáng tỏ từ danh sách yếu tố bảo vệ của CDC, bao gồm các mục như “điểm trung bình cao”, “định hướng xã hội tích cực”, và “cam kết với trường học”. Không cần đến một nhà khoa học xã hội thì chúng ta cũng hiểu rằng hầu hết trẻ em học tốt ở trường, kết giao với các bạn đồng trang lứa có trách nhiệm và chia sẻ các hoạt động với cha mẹ sẽ không có khả năng tham gia vào hoạt động tội phạm. Một người có thể biểu lộ nhiều yếu tố nguy cơ nhưng vẫn tuân thủ luật pháp. Ngược lại, một cá nhân sở hữu nhiều hoặc thậm chí tất cả các yếu tố bảo vệ vẫn có thể phạm tội. Tôi đã phỏng vấn những người trưởng thành và người tuổi vị thành niên thể hiện “những yếu tố bảo vệ” sau đây nhưng vẫn có hành vi phạm pháp: “IQ cao, điểm trung bình cao”, “tinh thần mộ đạo”, và “tham gia các hoạt động xã hội”. Yếu tố nguy cơ phạm tội có thể là động cơ thúc đẩy sự tự hoàn thiện và làm việc chăm chỉ. Điều vẫn khiến tôi ấn tượng trong nhiều năm qua không phải là hoàn cảnh và các yếu tố nguy cơ mọi người gặp phải, mà là cách họ lựa chọn để đối phó với mọi vấn đề trong cuộc sống. Tôi đã phỏng vấn nhiều tội phạm lớn lên trong đói nghèo ở những ngôi nhà lộn xộn, sống trong những khu dân cư có thể dễ dàng kiếm được những khẩu súng ngắn và ma túy như thuốc lá vậy. Chắc chắn họ và gia đình phải đối mặt

với những trở ngại mà những công dân với xuất thân được hưởng nhiều đặc quyền hơn không phải đương đầu. Trong hầu hết mọi trường hợp, những cá nhân này đều có anh chị em gặp phải các yếu tố nguy cơ và thách thức tương tự khi sống trong cùng một môi trường, nhưng họ không chọn đi theo con đường phạm tội. Chứng kiến cảnh cha mẹ hoặc anh chị em hủy hoại cuộc sống của mình khi tham gia vào hoạt động tội phạm đã truyền cảm hứng cho nhiều người nắm lấy cơ hội sống có trách nhiệm. Các khái niệm về yếu tố nguy cơ và bảo vệ có thể áp dụng cho bệnh tim hoặc ung thư. Nhưng xét trên khía cạnh tội phạm thì đây chỉ là vấn đề “rượu cũ bình mới”. Những gì được coi là “yếu tố nguy cơ” đưa chúng ta trở lại ngay với suy nghĩ đã tồn tại trong nhiều thập kỷ, một cách hiểu thông thường đã chứng minh sự không hiệu quả. Nếu nghèo đói gây ra tội phạm thì một sự gia tăng tội phạm trong cuộc suy thoái kinh tế nghiêm trọng bắt đầu từ năm 2008 và kéo dài đến năm 2011 có lẽ đã diễn ra. Trên thực tế, tỷ lệ giết người trên khắp nước Mỹ đã giảm mạnh xuống mức thấp nhất kể từ năm 1964, điều này khiến các nhà tội phạm học, kinh tế học và các chính trị gia vô cùng ngạc nhiên và không thể lý giải. (Điều đáng chú ý là sau sự sụp đổ của thị trường chứng khoán năm 1929, tỷ lệ tội phạm cũng giảm đáng kể.) Các vụ trộm cướp cũng giảm mạnh. Nhà bình luận Richard Cohen của tờ Washington Post kết luận, “Các thống kê tội phạm mới nhất cho thấy rõ rằng thời điểm tồi tệ không hẳn sẽ tạo nên những con người tồi tệ. Nhưng tính cách xấu sẽ tạo nên những người như vậy”.[28] Trong các tài liệu chuyên môn, gần đây đã xuất hiện một khía cạnh mới trong mối quan hệ nhận thức giữa nghèo đói và tội phạm, đó là tội phạm gây ra nghèo đói. Ví dụ, nếu nhà của một người bị xâm nhập, cướp mất tài sản có giá trị, và anh ta bị hành hung và thương tật nặng nề, thì tác động kinh tế có thể sẽ rất nghiêm trọng. Bên cạnh việc mất tài sản, chủ sở hữu ngôi nhà có thể phải nghỉ việc hàng tuần hoặc hàng tháng, phải trả tiền chăm sóc y tế tốn kém, sau đó phân bổ nguồn quỹ gia đình vốn khan hiếm để lắp đặt các thiết bị an ninh nhằm bảo vệ họ trong tương lai. Thay đổi trong một môi trường cụ thể có thể làm giảm cơ hội tấn công của tội phạm. Một bài báo trên tờ Washington Post từ tháng 3 năm 2013 đã chỉ ra rằng, trong thời tiết lạnh giá, mọi người thường không để mắt đến những chiếc xe ô tô của mình khi làm nóng động cơ.[29] Một cảnh sát quan

sát thấy rằng việc để lại chìa khóa trong ổ cắm là “cơ hội tốt nhất để ai đó đi ngang qua và nhảy vào”. Các kiến trúc sư, nhà quy hoạch và nhà xây dựng có thể tạo ra môi trường an toàn hơn bằng các biện pháp phòng ngừa như lắp đặt đèn an ninh, lắp chốt khóa và xác định những không gian chung mà mọi người quan sát được toàn cảnh. Khi hệ thống tàu điện ngầm ở Washington, DC. được xây dựng, các nhà quy hoạch đã tránh xây dựng các cột trụ và hốc tường mà phạm nhân có thể ẩn nấp ở đó. Tội phạm sẽ thăm dò những nơi có nhiều cơ hội, bất kể anh ta ở đâu, thậm chí là trong tù. Nếu các điều kiện trong một môi trường cụ thể khiến anh ta khó phạm pháp, anh ta sẽ đi nơi khác. Nhưng nỗ lực thay đổi tội phạm bằng cách thay đổi môi trường vẫn gặp phải thất bại.

Vai trò của yếu tố sinh học với tội phạm Vào cuối thế kỷ 19, Cesare Lombroso, một bác sĩ người Ý, tuyên bố rằng một số cá nhân sinh ra đã là tội phạm, là sản phẩm của các yếu tố di truyền không thể thay đổi. Ông coi tội phạm là những kẻ dị thường về mặt sinh học, những kẻ man rợ trong một thế giới văn minh. Tội phạm phải chịu đựng sự khiếm khuyết về mặt thể tạng. Năm 1924, Richard Loeb, 18 tuổi và Nathan Leopold, 19 tuổi, đã sát hại Bobby Franks mới chỉ 14 tuổi ở Chicago. Tội ác này hội tụ mọi đặc điểm của một vụ giết người “kinh hoàng”, điên rồ. Khi tranh luận tại phiên tòa xét xử để giúp những thanh niên trẻ tuổi này thoát án tử hình, luật sư Clarence Darrow đã mô tả tội ác của họ là “hành động của những bộ não chưa trưởng thành và bệnh hoạn”. Năm 1961, nhà tâm thần học George Thompson tuyên bố, lịch sử của những kẻ rối loạn nhân cách “thể hiện các căn bệnh liên quan đến não bộ trong 75% các vụ án”.[30] Năm 1972, Clarence Jeffrey, một giáo sư xã hội học, dự đoán rằng những thập kỷ tới sẽ chứng kiến “một cuộc cách mạng lớn trong lĩnh vực tội phạm học” khi các khía cạnh sinh học của hành vi được tìm hiểu rõ hơn [31] Trong nhiều thập kỷ qua, việc điều tra xem các yếu tố sinh học đóng vai trò gì trong hành vi phạm tội hay không, thậm chí còn không được xem là phù hợp về mặt chính trị. Điều này là do e ngại rằng việc xác định các gen tội phạm sẽ dẫn đến việc tạo giống có chọn lọc và kỹ thuật di truyền, một hình thức giống với thuyết ưu sinh trước đó của Đức Quốc xã. Giờ đây, dự đoán năm 1972 của Jeffrey đã thành hiện thực khi lĩnh vực mới “tội phạm thần kinh” đang nổi lên. Tiến sĩ Adrian Raine, có lẽ là người phát ngôn hàng đầu trong lĩnh vực tội phạm thần kinh, tuyên bố trong cuốn sách The Anatomy of Violence (tạm dịch: Phân tích nguồn cơn bạo lực) rằng, “Tội phạm thực sự có bộ não khác thường, bộ não khác biệt về mặt vật lý so với phần còn lại của chúng ta”.[32] Trong khi quan sát thấy rằng, tổn thương đối với vùng vỏ não trước trán “có thể trực tiếp dẫn đến hành vi chống đối xã hội và gây hấn”, Tiến sĩ Raine thừa nhận, “tổn thương vùng trước trán không phải lúc nào cũng tạo ra hành vi chống đối xã hội”. Tiến sĩ Raine cũng xác định nhịp tim thấp là “một dấu hiệu sinh học để chẩn đoán chứng rối loạn hành

vi”, sau đó ông lưu ý, “tất nhiên, không phải tất cả mọi người có nhịp tim thấp đều trở thành kẻ phạm tội bạo lực”. Tiến sĩ Raine kêu gọi các nhà khoa học xã hội “thay đổi niềm tin lâu đời của họ và chấp nhận những phân tích chi tiết về sự bạo lực”. Ông khẳng định tập trung vào các yếu tố sinh học là cực kỳ quan trọng đối với việc triển khai chính sách công và hoạt động điều trị “sẽ nhanh chóng và hiệu quả hơn so với việc khắc phục các yếu tố xã hội phức tạp góp phần vào hành vi phạm tội”. Các nhà khoa học và những người hành nghề y khác cho rằng khoa học thần kinh hứa hẹn nhiều hơn những gì nó mang lại. Trong cuốn sách Brainwashed: The Seductive Appeal of Mindless Neuroscience (tạm dịch: Tẩy não: Sự hấp dẫn quyến rũ của khoa học thần kinh không tư duy), bác sĩ tâm thần Sally Satel đã đặt ra những gì mà bà gọi là “một trong những câu đố hóc búa nhất trong tất cả các câu hỏi khoa học”, với nội dung, “Liệu chúng ta có thể hiểu đầy đủ về tâm lý bằng cách đề cập đến nơ-ron không?” [33] Tiến sĩ Satel nhận xét, “Các hoạt động tinh thần không sắp xếp gọn gàng thành các vùng não riêng biệt”, đồng thời đưa ra lời cảnh báo khi đề cập đến “mối quan hệ giữa não và hành vi” rằng, “có rất nhiều mức độ ảnh hưởng đến hành vi của con người ngoài bộ não”. Trọng tâm của khoa học thần kinh mới là tìm hiểu cách thức não bộ định hình tư duy. Tuy nhiên, điều ngược lại cũng đúng: tư duy định hình nên não bộ. Theo David Deitch, giáo sư tại Đại học California, San Diego, những thay đổi trong não có thể đảo ngược.[34] Nếu một người nghiện ma túy ngừng sử dụng ma túy, điều này sẽ ảnh hưởng lớn đến não bộ của anh ta. Liên quan đến nghiên cứu về não bộ và tư duy, Adam Gopnik viết trên tờ The New Yorker vào tháng 9 năm 2013 rằng: “Bài học về nơ-ron là những suy nghĩ sẽ thay đổi não bộ” ở mức độ tương đương như chiều ngược lại. [35] Các nghiên cứu về con nuôi đã minh chứng về tính di truyền của tội phạm. Nghiên cứu trên phạm vi lớn ở Đan Mạch báo cáo năm 1984 của Sarnoff Mednick từ Đại học Nam California là nghiên cứu được trích dẫn nhiều nhất.[36] Tiến sĩ Mednick phát hiện ra con nuôi có cha mẹ ruột là tội phạm dễ trở thành tội phạm hơn so với con nuôi có cha mẹ ruột không phải tội phạm. Các nghiên cứu về việc nhận con nuôi sau đó đã xác nhận phát hiện này của ông.

Sinh học không nhất thiết phải là vận mệnh. Một người có khuynh hướng sinh học nghiện rượu không phải lúc nào cũng trở thành người nghiện rượu. Có những người bị tổn thương não được cho là gây ra hành vi phạm tội, nhưng không có nghĩa là tất cả họ sẽ trở thành tội phạm. Như Tiến sĩ Raine chỉ ra, “Tính khí và khía cạnh sinh học giống nhau có thể dẫn đến các kết quả cuộc sống khác nhau”. Nghiên cứu của các nhà tội phạm học thần kinh xứng đáng nhận được sự quan tâm nghiêm túc. Tiến sĩ Satel cũng cảnh báo rằng chúng ta nên “sử dụng kiến thức do khoa học thần kinh cung cấp mà không đòi hỏi nó giải thích cho tất cả bản chất con người”. Như bạn có thể thấy, các học thuyết về những nguyên nhân tiềm ẩn của tội phạm là vô tận và trải dài trên nhiều lĩnh vực. Tiếp theo đó là một chuyến tham quan vào bên trong tâm trí tội phạm. Nếu bạn cố gắng hiểu được tội phạm bằng một tâm hồn cởi mở, có lẽ bạn cũng sẽ không còn sa lầy vào vô số những học thuyết lý giải tại sao mọi người trở thành tội phạm. Thay vào đó, hãy tập trung vào chính bản thân tội phạm, cách thức suy nghĩ và cư xử trong cuộc sống hàng ngày của anh ta. Điều này có thể giúp bạn tránh mâu thuẫn với những người như vậy trong các mối quan hệ thân mật hoặc kinh doanh. Nắm rõ cách thức hoạt động của tư duy tội phạm sẽ giúp hoạch định chính sách công và giúp tội phạm thay đổi để trở thành những con người có trách nhiệm.

2. CHA MẸ KHÔNG HỀ BIẾN CON CÁI THÀNH TỘI PHẠM    Con cái chối bỏ cha mẹ Các nhà tâm lý học cùng nhiều chuyên gia khác từ lâu luôn đổ lỗi cho phụ huynh về gần như tất cả các vấn đề liên quan đến con cái họ. Có vẻ như nếu bạn có một đứa con vị phạm pháp luật thì chắc chắn một vấn đề nào đó nằm ở bản thân bạn. Các nghiên cứu từ đầu thế kỷ 19 chỉ ra rằng, một số thiếu sót của những người làm cha mẹ có mối quan hệ nhân quả với hành vi phạm pháp của trẻ vị thành niên. Hiện nay, quan điểm đó thường xuyên xuất hiện trong các tài liệu chuyên môn cũng như trong công chúng, không chỉ ở Hoa Kỳ mà còn ở nhiều quốc gia khác. Trẻ em có xu hướng bị coi như những cục đất sét chưa thành hình, chúng bước vào thế giới và được môi trường xung quanh nhào nặn nên, chủ yếu do cha mẹ - những người chúng phụ thuộc không chỉ để đáp ứng nhu cầu về mặt thể chất và tình cảm mà còn là hình mẫu để noi theo. Những lời đổ lỗi cho hành vi sai trái lặp đi lặp lại của đứa trẻ vị thành niên chủ yếu do trách nhiệm của cha mẹ gây ra. Những cha mẹ độc đoán bị chỉ trích vì khiến con cái trở nên hay cáu giận, luôn bực bội và hung hăng. Những cha mẹ dễ dãi bị chỉ trích vì làm hư hỏng con cái và tạo cho chúng cảm giác có thể làm mọi thứ. Và những bậc cha mẹ dân chủ trong việc nuôi dạy con cái bị chỉ trích vì đã nuôi dưỡng ý thức về quyền lợi. Cha mẹ của trẻ vị thành niên vi phạm pháp luật thường mắc phải một hoặc tất cả các khuyết điểm sau: * Khả năng giao tiếp yếu kém. + Không nuôi dưỡng và hỗ trợ con cái đủ đầy. + Không đưa ra hình thức kỷ luật phù hợp. + Không giám sát con cái cẩn thận. * Chối bỏ con cái. * Lạm dụng con cái.

+ Hoàn toàn không nhất quán trong cách đối xử với con cái. Vấn đề gặp phải trong quá trình đánh giá chính xác về một gia đình là những đứa trẻ vị thành niên vi phạm pháp luật thường xuyên nói dối, đặc biệt là khi chúng cố gắng tạo ấn tượng thuận lợi và tránh bị trừng phạt. Cha mẹ của chúng trở thành một mục tiêu thích hợp. Các chuyên gia sức khỏe tâm thần giàu lòng trắc ẩn, không nắm được suy nghĩ thực sự của những kẻ phạm tội và không quen với chiến thuật của chúng, nhanh chóng đồng tình với những câu chuyện của những đứa trẻ này. Tôi đã phỏng vấn một số người vi phạm pháp luật trong tuổi vị thành niên và trưởng thành mô tả cha mẹ họ như những con quái vật. Tuy nhiên, anh chị em của những người này lại cho biết cha mẹ họ là những người giàu lòng yêu thương, biết quan tâm, rộng lượng và tận tụy. Tôi cũng từng gặp một số ông bố, bà mẹ yếu kém trong nuôi dạy con cái dù nhìn theo khía cạnh nào đi nữa. Trong hầu hết mọi trường hợp được đưa ra để xem xét, những kẻ vi phạm pháp luật mà tôi đánh giá đều có một người anh chị em lớn lên trong cùng hoàn cảnh như vậy nhưng không hề thực hiện hành vi phạm tội. Bạn không thể biết trước được một đứa trẻ sẽ phát triển thành con người như thế nào khi chỉ đơn giản là biết về bố mẹ chúng. Trong một cuốn sách có tựa đề Stranger in the Nest (tạm dịch: Người lạ trong tổ), nhà tâm lý học David Cohen lưu ý rằng “khả năng bẩm sinh mạnh mẽ có thể vượt ra ngoài tầm ảnh hưởng của cha mẹ” và kết quả là “con của một người nào đó có thể giống như một người hoàn toàn xa lạ”. Ông lập luận rằng: “Cha mẹ có ít ảnh hưởng đến sự phát triển tâm lý của trẻ hơn nhiều so với người ta thường nghĩ”.[37] Nhà tâm lý học phát triển Richard Trembley từng viết về sự tương đồng giữa một kẻ phạm tội và đứa trẻ mới biết đi[38] Cả hai đều tự cao tự đại và thiếu lương tâm. Cả hai đều rất hung hãn nhằm thực hiện theo cách của riêng mình. Tuy nhiên, đánh đồng tội phạm với trẻ nhỏ là một quan niệm sai lầm. Khi chỉ mới bắt đầu hành trình bước vào đời, hầu hết những đứa trẻ mới biết đi đều có phản ứng tích cực với cha mẹ và những người xung quanh luôn giúp chúng giải quyết vấn đề một cách có trách nhiệm và không dùng đến bạo lực. Trong khi đó, những kẻ phạm tội liên tục tiếp xúc với các ảnh hưởng xã hội và chối bỏ chúng. Nuôi dạy trẻ không phải là con đường một chiều. Đứa trẻ chăm sóc cha mẹ và ngược lại. Tất cả những độc giả của cuốn sách này có hai con

trở lên đều biết rằng, ngay từ khi sinh ra, những đứa trẻ đã sở hữu những tính khí khác nhau. Chúng khác nhau về mức độ hoạt động, cách thức tương tác với môi trường, mức độ sợ hãi cũng như các khía cạnh khác. Trong cuốn sách có tựa đề Understanding Your Child’s Temperament (tạm dịch: Hiểu được tính khí của con bạn), bác sĩ tâm lý William Carey chỉ ra rằng, cha mẹ không thể thay đổi “tính khí cơ bản của con cái”, nhưng họ có thể kiểm soát cách những đứa trẻ phản ứng với nó.[39] Hãy xem xét tình huống sau đây. Tôi là chuyên gia sức khỏe tâm thần thứ mười mà cô Patterson tìm đến để xin tư vấn về cuộc khủng hoảng mới xảy ra giữa cô và cậu con trai tuổi teen, Tom. Mọi chuyện bắt đầu từ một yêu cầu vô thưởng vô phạt: Cô Patterson yêu cầu Tóm tắt bộ phim mà cậu ta đang theo dõi vì cho rằng nội dung không phù hợp với các em của Tom. Cô không cấm cậu ta xem phim nhưng yêu cầu chỉ được xem khi đã trưởng thành hơn và trong không gian riêng tư. Tom từ chối yêu cầu đó và đáp lại bằng một chuỗi những từ ngữ cộc cằn. Trong tình huống căng thẳng này, cậu ta đã dứt đứt chiếc dây điện ra khỏi đầu đĩa DVD, lao về phía mẹ mình, quật ngã cô, rồi túm tóc kéo lê cô trên sàn nhà. Trong khi những đứa trẻ nhỏ hơn khác trong nhà hét lên đầy kinh hoàng, cậu ta xô cô ấy ra khỏi cửa trước khiến cô ấy ngã nhào xuống ba bậc thang bằng xi măng. Khi cô Patterson cố gắng trở lại ngôi nhà, cậu ta đẩy cô ra rồi khóa cửa lại. Sau khi vào nhà bằng cửa khác, cô Patterson ngay lập tức gọi điện cho cảnh sát và đệ đơn tố cáo Tom về tội đe dọa, hành hung và hủy hoại tài sản. Khi kể cho tôi nghe về Tom, cô ấy nhớ lại rằng khi mới sinh ra, cậu ta đã khóc liên tục. Cô Patterson không thể dỗ dành cậu ta dù đã cho bú và chăm sóc cẩn thận trong suốt năm đầu. Cô ấy nhớ bác sĩ nhi khoa của cậu ta khẳng định rằng Tom là “một đứa trẻ điển hình” và không có gì bất thường. Cô ấy hóm hỉnh nhận xét: “Đứa trẻ điển hình này chiếm mất của tôi 55 phút mỗi giờ, cả ngày lẫn đêm”. Tình hình không được cải thiện. Tom thường xuyên xung đột với những đứa trẻ khác ở trường mầm non. Cô giáo lớp một đã xếp cậu ngồi cạnh bàn của cô ấy vì cậu ta khiến những đứa trẻ khác mất tập trung. Một lần nữa, bác sĩ nhi khoa đảm bảo với cô Patterson rằng Tom chỉ là “một cậu bé điển hình”. Tom có thể làm điều gì đó vụng trộm và cũng có thể bướng bỉnh một cách trâng tráo. Gia đình Patterson băn khoăn liệu nên nghiêm khắc hơn hay dễ dãi hơn. Họ không

thể làm gì để thay đổi tình hình. Cha mẹ Tom cảm thấy thất vọng vì cậu ta khiến họ phải chú ý và gây ảnh hưởng đến sự quan tâm dành cho những đứa trẻ khác trong nhà - những đứa trẻ ít gây ra vấn đề về hành vi hơn. Cậu ta khiến cuộc sống trở nên khó chịu đến mức mọi người thường dễ dàng đầu hàng trước những yêu cầu hoặc phớt lờ hành động của cậu ta hơn là tìm cách giải quyết cơn thịnh nộ và sự phá hoại do cậu ta gây ra. Gần đến tuổi vị thành niên, Tom hiếm khi xin phép khi thực hiện bất cứ điều gì và không cho ai biết mình sẽ đi đâu khi ra khỏi nhà. Ông bà Patterson cảm thấy mình giống cảnh sát hơn là cha mẹ. Vào thời điểm mẹ cậu ta gặp tôi lần đầu tiên, cô ấy nói rằng, “Thằng bé vào phòng tôi bất cứ khi nào nó muốn, lấy trộm tiền trong ví của tôi và ném đi những thứ không phải của nó”. Cô và chồng bắt đầu khóa cửa phòng ngủ và cất ví cẩn thận. Tom thường xuyên khiến em trai và em gái phải khóc lóc vì đánh chúng và làm hỏng đồ chơi của chúng. Cậu ta từ chối tham gia các hoạt động của gia đình, và nếu buộc phải đi cùng, cậu ta sẽ phá hỏng cả buổi hôm đó. Với tính khí nóng nảy, cậu ta sẽ ngay lập tức xúc phạm bất kỳ lời khiển trách nào dành cho mình. Có một lần, cậu ta tức giận đến mức đánh cả cha mình khi ông Patterson đang lái xe đến nhà thờ. Đến năm 17 tuổi, Tom đã liên tục thuyết phục cha mẹ cho phép thi bằng lái xe trong hơn một năm. Khi bị từ chối, Tom đã gây ra một cuộc chiến để khiến họ phải thất vọng và thay đổi ý định. Gia đình Patterson rất kiên quyết, họ sẽ không khiến những người vô tội gặp rủi ro hoặc khiến chính họ vướng vào vòng lao lý nếu cho phép đứa con trai vô trách nhiệm của họ lái xe. Không có giấy phép lái xe cũng không thể khiến Tom từ bỏ. Cậu ta lén ra ngoài vào ban đêm, lấy chìa khóa của cha mẹ và đi khắp nơi. Khi gia đình Patterson phát hiện chiếc xe đã bị mang đi suốt cả đêm, họ đã giấu chìa khóa. Sau khi bị bắt vì tội hành hung mẹ mình, Tom phải chịu một thời gian quản chế tại địa phương và sau đó được gửi đến sống với ông bà trong thời gian một năm tại một khu vực nông nghiệp ở vùng Trung Tây. Sống trong một cộng đồng nông thôn nhỏ bé và mọi người đều quen biết nhau, Tom luôn bị giám sát chặt chẽ và có ít cơ hội trốn thoát khi có những hành vi sai trái nghiêm trọng hay các hoạt động tội phạm. Xét về bề ngoài, hành vi của Tom có sự cải thiện nhưng cậu ta vẫn tỏ ra khó chịu và thể hiện sự thách thức đối với ông bà mình. Đó là lần cuối tôi nghe về Tom.

Đầu truyệnChương Sau

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 3

Đang tải bình luận...