nhiều câu bằng Và và Nhưng. Tôi kết thúc nhiều câu bằng giӟi từ. Tôi dùng từ h͕ trong những ngữ cảnh đáng nhẽ nên dùng từ anh ấy hay cô ấy. Tôi viết như vậy để ngôn từ không trở nên trịnh trọng quá, và để vào thẳng vấn đề cho dễ. Và tôi mong những độc giả khó tính sẽ bỏ qua cho tôi. Một vài lời về bản cập nhật này. Tôi cảm thấy tôi cần phải thêm một số thông tin mӟi vào một vài chương trong cuốn sách này. Tôi đã thêm nghiên cứu mӟi của chúng tôi về tư duy trong doanh nghiệp ở chương 5 (Doanh nghiệp). Phải, doanh nghiệp cũng có thể có Tư Duy. Tôi thêm một phần mӟi về Tư Duy Phát Triển Lệch Lạc ở chương 7 (Phụ Huynh, Giáo Viên và Huấn Luyện Viên) sau khi tôi học được rằng những cách sáng tạo mà mọi người hiểu và ứng dụng Tư Duy Phát Triển không phải lúc nào cũng đúng. Tôi cũng thêm “Hành trình tӟi một Tư Duy Phát Triển Thực Sự” ở chương 8 (Thay Đổi Tư Duy) bởi rất nhiều người đã yêu cầu tôi cung cấp thêm thông tin về cách bắt đầu cuộc hành trình ấy. Tôi mong rằng những cập nhật này sẽ hữu ích cho các bạn. Tôi muốn nhân cơ hội này để cảm ơn tӟi tất cả những người đã giúp đỡ tôi thực hiện các nghiên cứu cũng như hoàn thiện cuốn sách này. Các sinh viên của tôi đã giúp những nghiên cứu này trở nên hết sức thú vị. Tôi mong họ cũng học được từ tôi nhiều như tôi học được từ họ. Tôi cũng muốn cảm ơn các tổ chức đã hỗ trợ các nghiên cứu của chúng tôi: William T. Grant Foundation, National Science Foundation, Department of Education, National Institute of Mental Health, National Institute of Child Health and Human Development, Spencer Foundation, và Raikes Foundation. Những người ở Random House là đội ngũ truyền cảm hứng nhiều nhất mà tôi từng gặp: Webster Younce, Daniel Menaker, Tom Perry, và nhất là Caroline Sutton và Jannifer Hershey, hai nhà biên tập của tôi. Sự hào hứng về cuốn sách và những gợi ý của hai người thực sự đã tạo nên sự khác biệt.
Tôi muốn cảm ơn quản lý tuyệt vời của tôi, Giles Anderson, cũng như Heidi Grant – người đã giúp tôi liên lạc vӟi Giles. Cảm ơn tất cả những người đã cung cấp thông tin và phản hồi cho tôi, nhưng tôi đặc biệt cảm ơn Polly Shulman, Richard Dweck, và Maryann Peshkin vì những bình luận chi tiết và sâu sắc của họ. Cuối cùng, tôi muốn cảm ơn chồng tôi, David, vì tình yêu và nhiệt huyết của anh đã đem lại cho cuộc đời tôi một chiều không gian mӟi. Những giúp đỡ của anh trong việc hoàn thành cuốn sách này là vô cùng lӟn lao. Nghiên cứu của tôi là về sự phát triển, và nghiên cứu này đã giúp tôi bồi dưỡng sự phát triển của riêng mình. Tôi mong rằng nghiên cứu cũng sẽ giúp ích cho bạn.
CHƯƠNG I
HAI LOẠI TƯ DUY Khi tôi còn là một nghiên cứu sinh trẻ tuổi, một điều xảy ra đã thay đổi hoàn toàn cuộc đời tôi. Khi đó, tôi bị ám ảnh vӟi việc phải hiểu cho bằng được cách một người đối mặt vӟi thất bại, và tôi quyết định sẽ nghiên cứu điều này bằng cách quan sát cách những học sinh đối phó vӟi những câu hỏi khó. Tôi bèn đưa một vài đứa trẻ vào trong một lӟp học, cho chúng thư giãn thoải mái, sau đó đưa cho chúng một tập các câu đố cho chúng giải. Những câu đầu tiên tương đối dễ, nhưng càng về sau chúng càng khó hơn. Trong lúc bọn trẻ nhăn nhó, cắn bút suy nghĩ, tôi quan sát, ghi lại cách chúng xử lý các câu đố và phân tích xem chúng đang nghĩ và cảm thấy gì. Mặc dù tôi đã dự liệu từ trưӟc rằng mỗi đứa trẻ sẽ đối phó vӟi khó khăn theo những cách khác nhau, nhưng điều tôi quan sát được lại làm tôi hết sức bất ngờ. Khi gặp phải những câu đố khó, một cậu bé 10 tuổi vò đầu bứt tai, xoa hai tay vӟi nhau, liếm môi và kêu lên sung sưӟng: “Con cực thích mấy câu khó khó kiểu này!”. Một cậu bé khác, cũng đang chật vật vӟi câu hỏi khó, nhìn tôi cười hài lòng và nói: “Mấy câu này khó thật, đúng như con mong đợi”. Điều gì đã xảy ra vӟi hai cậu bé này? Trưӟc đó tôi luôn nghĩ rằng hoặc là bạn sẽ tránh gặp thất bại, hoặc là bạn sẽ thất bại. Tôi chưa từng nghĩ có người sẽ thích thất bại. Chẳng lẽ mấy đứa trẻ này đến từ hành tinh khác hay sao? Mỗi người trong chúng ta đều có một tấm gương nào đó để noi theo, một người quan trọng sẽ chỉ ra cho bạn đường đi nưӟc bưӟc vào những giây phút quan trọng. Những đứa trẻ này chính là tấm gương của tôi. Rõ ràng là
chúng biết điều mà tôi không biết, và tôi quyết phải tìm cho ra điều đó là gì – để hiểu lối tư duy nào có thể biến thất bại thành cơ hội. Vậy điều những đứa trẻ này biết là gì? Chúng hiểu rằng, những phẩm tính của con người, ví dụ trí thông minh, đều có thể trau dồi được. Và đó là điều mà chúng đang làm – chúng đang trở nên thông minh hơn (bằng cách làm những câu hỏi khó). Không những chúng không bị nản lòng vì thất bại (không giải được câu đố), mà chúng còn không nghĩ rằng chúng đang thất bại. Chúng nghĩ rằng chúng đang học hỏi. Mặt khác, tôi đã luôn nghĩ rằng phẩm chất của con người mãi bất biến như được khắc vào đá. Bạn nếu không thông minh thì sẽ là đần độn, và thất bại tức là bạn không thông minh. Đơn giản vậy thôi. Nếu bạn có thể lên kế hoạch để thành công và tránh thất bại hết mức có thể, bạn sẽ luôn giữ được sự thông minh của mình. Mắc sai lầm, kiên trì hay phải vất vả làm điều gì đó là những điều tôi cố gắng không bao giờ làm. Phẩm chất con người là thứ bồi dưỡng được hay bất biến là vấn đề đã được bàn luận từ lâu. Ý nghĩa của những ý kiến này vӟi bạn mӟi là điều mà ít ai đặt câu hỏi: Điều gì sẽ xảy ra khi bạn cho rằng trí thông minh, hay tính cách là thứ mà bạn có thể phát triển; và điều gì sẽ xảy ra khi bạn cho rằng điều ngược lại mӟi đúng? Trưӟc tiên, hãy cùng nhìn lại về bản chất con người, sau đó hẵng quay lại những câu hỏi này nhé.
TẠI SAO CHÚNG TA KHÁC NHAU? Từ thời xa xưa, con người đã nghĩ khác nhau, làm khác nhau, và phát triển khác nhau. Chắc chắn đã có người đặt ra câu hỏi tại sao chúng ta khác nhau – tại sao lại có người thông minh hơn, đạo đức hơn – và liệu có điều gì làm những sự khác biệt đó bất biến không? Các chuyên gia đứng đều về hai phía. Một số cho rằng những khác biệt này bắt nguồn từ sự khác nhau về mặt thể chất, vì thế khác biệt là không thể tránh khỏi và cũng không thể thay đổi được. Hàng nhiều năm liền, những tuyên bố về sự khác biệt trong thể chất này bao gồm sự lồi lõm ở xương sọ, kích thưӟc và hình dạng của xương sọ, và ngày nay, người ta thêm vào yếu tố gen di truyền nữa. Số còn lại lại cho rằng, môi trường nuôi dưỡng, những trải nghiệm, viêc luyện tập hay cách thức học tập mӟi làm nên sự khác biệt giữa người vӟi người. Có thể bạn sẽ ngạc nhiên khi biết rằng một trong những người cực kỳ ủng hộ quan điểm này là Alfred Binet, người phát minh ra bài kiểm tra trí thông minh IQ. Chẳng phải bài kiểm tra IQ vốn là để đưa ra một giá trị nhất định cho trí thông minh của một người hay sao? Thực tế không phải thế. Binet, một người Pháp làm việc ở Paris vào những năm đầu của thế kỉ 20, đã thiết kế ra bài kiểm tra này để lọc ra những đứa trẻ nào không tiếp thu được nhiều kiến thức từ các trường công, tͳ đó thiết kế ra nhͷng chương trình giáo dͭc mới có thể giúp chúng bắt k͓p với giáo trình h͕c. Mặc dù không phủ nhận có sự khác biệt về trí thông minh giữa những đứa trẻ, Binet tin rằng học tập và rèn luyện có thể đem lại những thay đổi rất lӟn về trí tuệ. Dưӟi đây là đoạn trích từ một trong những cuốn sách thành công nhất của ông, Modern Ideas about Children - trong đó ông đã tổng hợp những nghiên cứu của ông vӟi hàng trăm trẻ nhỏ gặp khó khăn trong việc học tập:
Một vài nhà triết học hiện đại… tin rằng trí tuệ của một người là một con số cố định, không thể phát triển. Chúng ta phải phản đối và đứng lên chống lại sự bi quan đầy bi quan này… Bằng việc rèn luyện, luyện tập, và quan trọng nhất là phương pháp đúng đắn, chúng ta có thể tăng cường sự tập trung, trí nhӟ, khả năng đánh giá để trở nên thông minh hơn. Ai mӟi là người đúng? Ngày nay, phần lӟn các chuyên gia đều đồng ý rằng vấn đề này không hoàn toàn đúng mà cũng không hoàn toàn sai. Trí thông minh không hoàn toàn do gen, cũng không hoàn toàn dựa vào môi trường nuôi dưỡng. Ngay từ khi một người mӟi sinh ra, cả hai yếu tố này đều liên quan tӟi nhau, cùng đóng góp xây dựng nên một con người. Trong thực tế, như Gilbert Gottlieb, một nhà thần kinh học lừng danh, đã nói, không những gen và môi trường phải “hợp tác” vӟi nhau trong sự phát triển cá nhân, mà gen còn đòi h͗i dữ liệu được đưa vào từ môi trường thì mӟi có thể hoạt động được tốt. Cùng vӟi đó, trái vӟi các hiểu lầm cũ kỹ trưӟc đây, các nhà khoa học đang nhận ra rằng con người có khả năng học tập, cũng như bộ não con người có khả năng phát triển trong suốt cuộc đời của họ. Đương nhiên, mỗi người có một mã gen độc nhất. Mọi người có thể có điểm xuất phát khác nhau về tính cách hay khả năng, nhưng sự thật là kinh nghiệm chúng ta thu được, sự rèn luyện và những cố gắng chúng ta bỏ ra sẽ đưa ta đi nốt phần đường còn lại. Robert Sternberg, nhà nghiên cứu nổi tiếng ngày nay về trí thông minh, từng viết rằng yếu tố quan trọng quyết định xem ta có giỏi một thứ gì đó hay không “không phải là một thứ gì đó bẩm sinh hay cố định, mà
là sự nỗ lực có chủ đích”. Hay, như Binet từng nói, những người sinh ra đã thông minh chưa chắc đã là người thông minh nhất ở cuối chặng đường.
TẤT CẢ NHӲNG ĐIỀU NÀY CÓ Ý NGHĨA GÌ VӞI BẠN?
HAI LOẠI TƯ DUY Nghe các chuyên gia trình bày những kiến thức này là một chuyện. Việc hiểu những kiến thức này ứng dụng thế nào vào bạn là một chuyện khác. Trong suốt 30 năm, nghiên cứu của tôi chỉ ra rằng hướng quan điểm mà bạn ch͕n để áp dͭng sẽ có ảnh hưởng lӟn lao tӟi hưӟng đi của bạn trong cuộc sống. Nó có thể quyết định liệu bạn có thể trở thành con người mà bạn mong muốn hay không, hay liệu bạn có thể đạt được thứ mà bạn khao khát hay không. Tại sao lại như thế? Làm thế nào mà một niềm tin đơn giản (về trí thông minh) lại có sức mạnh có thể thay đổi tâm lý và cuộc sống của bạn tӟi vậy? Khi bạn tin rằng những phẩm chất của mình như chữ được khắc trên đá – Tư Duy Cố Đ͓nh – niềm tin này sẽ tạo ra trong bạn mong muốn được chứng tỏ bản thânhết lần này tӟi lần khác. Nếu bạn chỉ có một “lượng” trí thông minh nhất định, một tính cách nhất định, và một “cái tôi” nhất định, rõ ràng bạn sẽ muốn chứng tỏ rằng bạn rất thông minh, một tính cách rất dễ mến, và một cái tôi riêng biệt. Bạn cảm thấy không an tâm nếu những đặc điểm đó chỉ là vừa đủ trong mắt những người xung quanh. Một số người trong chúng ta bị gieo lối tư duy này vào đầu từ khi còn rất nhỏ. Ngay từ khi còn là một đứa trẻ, tôi đã luôn tập trung vào việc trở nên thông minh hơn, nhưng lối Tư Duy Cố Định này được ghi sâu vào tâm trí tôi bởi cô Wilson, giáo viên lӟp 6 của tôi. Không như Alfred Binet, cô tin rằng kết quả bài kiểm tra IQ của một người quyết định tương lai người ấy sẽ trở thành người thế nào. Cô xếp chỗ cho chúng tôi dựa theo điểm IQ, và chỉ những bạn nào có điểm IQ cao mӟi được đứng đầu hàng, mӟi được phân công trực nhật, hay đem giấy tờ tӟi cho thầy hiệu trưởng. Ngoài những câu đánh giá khá khó chịu, cô còn tạo ra cho cả lӟp một tư duy rằng mọi người