Sứ mệnh Hail Mary

CHƯƠNG 9

CHƯƠNG 9

Tôi để mô hình lơ lửng giữa căn phòng. Xenonit gần như không thể phá hủy, vì vậy tôi không cần phải lo lắng về việc nó va chạm vào bất cứ thứ gì.

Liệu đây có phải là một ý kiến hay? Tôi phải cứu một hành tinh. Thật tuyệt vời khi gặp gỡ những người ngoài hành tinh thông minh nhưng rủi ro này có đáng không?

Người Erid rõ ràng là hiểu về Thực tinh thể. Ít nhất là đủ tốt để tạo ra động cơ từ nó. Và tôi nghĩ họ đang cố nói với tôi rằng họ ở đây vì lý do giống như tôi. Họ có thể có thông tin mà tôi không biết. Họ thậm chí có thể có giải pháp mà tôi đang tìm kiếm. Và họ có vẻ thân thiện.

Nhưng đây là trường hợp tương đương với việc một người lạ ở giữa không gian cho tôi kẹo. Tôi muốn cái kẹo (thông tin) nhưng tôi không biết người lạ.

Lựa chọn khác của tôi là gì đây? Lờ họ đi chăng?

Tôi có thể tiếp tục nhiệm vụ của mình như thể tôi chưa bao giờ nhìn thấy họ. Họ có lẽ cũng sợ hãi khi nhìn thấy tôi cũng như khi tôi nhìn thấy họ. Họ có thể tiếp tục cố gắng nói chuyện nhưng họ sẽ không thù địch, tôi không nghĩ vậy.

Hay là họ sẽ như vậy? Tôi không có cách nào để biết cả.

Không, đây là điều không cần phải bàn cãi. Ít nhất tôi phải có một cuộc trò chuyện với họ. Nếu họ có bất kì thông tin nào về Thực tinh thể, dù nhỏ đến đâu, tôi cũng phải nói chuyện với họ. Đó là một rủi ro, đúng thế nhưng toàn bộ nhiệm vụ này là một rủi ro.

Được rồi. Vậy tôi sẽ làm gì nếu tôi là họ?

Tôi là một người Erid. Tôi muốn xây một đường hầm kết nối với con tàu kỳ lạ của con người. Nhưng tôi không biết về thành phần vật liệu con tàu của con người. Làm thế nào tôi có thể đảm bảo bất kì loại kết nối hay gắn kết nào? Hiểu biết của tôi về xenonit rất là hạn chế nhưng làm sao tôi biết cách kết nó với “humani” hay bất kì thành phần nào cấu thành nên con tàu đó? Tôi đã gửi các mô hình xenonit của con người. Vì vậy, anh ta biết tôi có những gì. Nhưng tôi vẫn không biết thứ anh ta có.

Họ sẽ cần một mẫu thân tàu của tôi. Và họ sẽ cần biết đó là mẫu thân tàu của tôi.

“Đúng rồi”, tôi nói vu vơ.

Tôi không biết đây là một ý tưởng hay hay tồi tệ nữa. Nhưng tôi sẽ đập bỏ một phần thân tàu của mình.

Tôi lấy một bộ công cụ EVA. Chúng nằm trong phòng thí nghiệm ở Ngăn kéo 17E. Tôi tìm thấy chúng cách đây một lúc. Chúng nằm trên một dây đeo công cụ có thể kẹp vào bộ đồ EVA và mọi thứ khác. Stratt và đồng sự đảm bảo rằng chúng tôi có tất cả các thiết bị cần thiết để sửa chữa thân tàu nếu cần. Thường thì công việc của Ilyukhina là sửa đồ nhưng cô ấy đã đi rồi.

Hừ. Ký ức ngẫu nhiên. Ilyukhina là kỹ sư của chúng tôi - cô gái sửa chữa của chúng tôi. Được rồi. Chà, bây giờ tới phiên tôi.

Tôi mặc lại bộ đồ EVA và đi ra ngoài. Lại nữa rồi. Việc đi vào rồi đi ra đang trở nên khá khó chịu. Tôi hy vọng việc làm đường hầm sẽ thành công.

Tôi đi dọc theo thân tàu, điều chỉnh dây buộc một lần. Và tôi nghĩ…

Chính xác thì một đường hầm có lợi gì? Tôi nghi ngờ rằng chúng tôi có môi trường tương thích. Chúng tôi không thể chỉ kết nối các con tàu bằng một đường hầm và bắt tay nhau. Tôi nghĩ có rất nhiều amoniac ở đó.

Và sau đó là nhiệt độ. Những khối trụ đó rất nóng khi tôi lấy chúng.

Tính toán nhanh cho tôi biết rằng khối trụ đầu tiên mà họ gửi đi đáng lẽ đã mất 100 độC trở lên trong chuyến đi kéo dài 40 phút đó (tùy thuộc vào nhiệt độ ban đầu). Và nó vẫn còn nóng khi tôi nhận được nó. Vì thế, nó thực sự nóng khi rời khỏi con tàu của họ. Giống như… cao hơn nhiệt độ sôi của nước.

Tôi cố gắng không suy đoán quá lung tung nhưng thôi nào. Tôi là một nhà khoa học và họ là những người ngoài hành tinh. Tôi sẽ suy đoán.

Liệu người Erid có sống trong môi trường nóng hơn nhiệt độ sôi của nước không? Nếu vậy, điều đó chứng tỏ tôi đã đúng. Sự sống không cần có nước lỏng!

Tôi nên tập trung hơn vào chuyện “lần đầu tiên tiếp xúc với người ngoài hành tinh thông minh” hoặc chuyện “cứu cả nhân loại” nhưng trời ơi, tôi có thể dành một chút thời gian để vui vẻ vì đã đúng khi mọi người nói tôi sai!

Cuối cùng, tôi đã tìm được một vị trí của thân tàu có vẻ phù hợp với công việc. Tôi đang ở phía sau của toàn bộ phần được nén của con tàu, sau phần được mở rộng ra. Nếu tôi đúng, tôi đang đứng trên một cái thùng rỗng lớn từng chứa đầy Thực tinh thể. Nếu tôi phá vỡ thân tàu ở đây, sẽ không thành vấn đề.

Tôi rút ra một cái búa và một cái đục. Không phải là cách thanh lịch nhất để làm điều này nhưng tôi không thể nghĩ ra cách nào tốt hơn. Tôi bắt đầu bằng cách đặt một góc của cái đục trên thân tàu và gõ nhẹ vào nó. Có một vết lõm đáng kể. Không mất nhiều thời gian để đi qua lớp ngoài cùng này.

Tôi sử dụng búa và đục để tách một vòng tròn 15 centimét của vật liệu thân tàu. Có một lớp thứ gì đó bên dưới. Tôi có thể cảm nhận bằng cái đục. Có lẽ là lớp cách nhiệt.

Tôi phải cạy hình tròn ra bằng cái đục. Lớp dưới giữ chắc nhưng sau đó đột ngột nhường bước. Mẫu vật thân tàu bay vào vũ trụ.

“Bay nào!”

Tôi nhảy khỏi tàu. Tôi chạm vào vòng tròn ngay trước khi dây buộc của tôi bị giật lại. Tôi thở trong một giây, nghĩ về việc mình đã ngu ngốc thế nào, rồi kéo mình lại theo dây buộc tàu về tàu. Nhìn vào hình tròn, có vẻ như có một chất xốp nhẹ bám vào mặt dưới. Có thể là nhựa Styrofoam. Có lẽ là một thứ gì đó phức tạp hơn thế.

“Tôi hy vọng các bạn đã xem tất cả những chuyện đó.” tôi nói. “Bởi vì tôi sẽ không làm điều đó một lần nữa.”

Tôi ném phần thân tàu về phía Blip-A.

Bằng cách làm điều này ngay trước mặt họ, họ sẽ biết chắc chắn rằng tôi đang gửi cho họ một mẫu vỏ tàu. Tôi hy vọng nó đủ cho thứ họ muốn làm. Tôi thậm chí không biết liệu họ muốn hay cần nó hay không. Họ có thể đang nhìn vào màn hình của mình lúc này và nói, “Tên ngốc này đang làm gì vậy? Có phải anh ta đang tự chọc một lỗ trên con tàu của mình không? Tại sao chứ?”

Tôi ở trên thân tàu và quan sát khi mảnh vỡ rơi xuống trong ánh sáng Tau Ceti. Con rô bốt nhiều cánh tay trên thân tàu trượt dọc theo đường ray của nó để tiếp nhận. Sau khi được định vị, nó đợi phần thân tàu đến và chụp lấy rất hoàn hảo.

Và sau đó, tôi thể có trời, nó vẫy tay chào tôi! Một trong những cánh tay nhỏ bé của nó vẫy chào tôi!

Tôi vẫy chào lại.

Nó lại vẫy chào.

Được rồi, chuyện này có thể diễn ra cả ngày. Tôi quay lại phía chốt gió.

Đến lượt các bạn rồi đấy.

🚀🚀🚀

Lượt của họ mất nhiều thời gian và tôi dần cảm thấy nhàm chán.

Ồ. Tôi đang ngồi đây trong một con tàu vũ trụ trong hệ Tau Ceti để chờ những người ngoài hành tinh thông minh mà tôi vừa gặp để tiếp tục cuộc trò chuyện của chúng tôi… và tôi thấy buồn chán. Con người có một khả năng đáng kể là chấp nhận những điều bất thường và làm cho nó trở nên bình thường.

Tôi xem qua các điều khiển của bảng điều khiển Rađa để xem nó có những tính năng nào khác. Sau khi tìm hiểu kĩ các hộp thoại tùy chọn, tôi tìm thấy thứ mà tôi đang tìm kiếm: các thông số cảnh báo vùng lân cận. Hiện đang được thiết lập là 100 kilômét. Khá hợp lý. Bạn sẽ mong đợi mọi thứ ở cách xa hàng triệu kilômét. Ít nhất là hàng chục nghìn. Vì vậy, nếu một tảng đá nào đó cách 100 kilômét, đó là một vấn đề lớn.

Tôi thay đổi cài đặt thành 0,26 kilômét. Tôi lo lắng nó sẽ từ chối cài đặt vì giá trị quá thấp nhưng không sao.

Tôi duỗi lưng và thả mình ra khỏi ghế phi công. Con tàu Blip-A cách xa 271 mét. Nếu họ đến gần hơn 260 mét hoặc nếu họ gửi một món quà khác nằm trong phạm vi đó, cảnh báo vùng gần sẽ hoạt động. Tôi không phải ngồi đây và nhìn chằm chằm vào màn hình nữa. Phòng điều khiển sẽ phát ra cảnh báo khi Blip-A làm bất cứ điều gì thú vị.

Tôi trôi xuống vào phòng ngủ.

“Thức ăn,” tôi nói.

Những cánh tay kéo một chiếc hộp ra khỏi đống đồ nhỏ trên trần nhà và dán nó vào giường của tôi. Một ngày nào đó tôi nên nhìn xung quanh đó và xem thứ gì có sẵn. Bây giờ tôi chỉ gọi lên trần nhà và thức ăn trôi xuống. Cái hộp, có ghi NGÀY 10 - BỮA ĂN 1, có một dải giống như miếng dán Velcro ở phía dưới giúp nó giữ nguyên vị trí trên ga trải giường. Tôi mở nó ra và thấy một chiếc bánh burrito.

Không chắc là tôi mong đợi gì nhưng không sao. Đó là burrito.

Hóa ra, đó là một chiếc bánh burrito ở nhiệt độ phòng. Đậu, pho mát, một ít sốt đỏ… tất cả đều khá ngon, thực sự là thế. Nhưng ở nhiệt độ phòng. Hoặc là phi hành đoàn không nhận được những bữa ăn nóng hổi quanh đây hoặc là cỗ máy không tin rằng một bệnh nhân hôn mê gần đây sẽ không tự làm bỏng mình vì thức ăn nóng. Có lẽ là lý do sau.

Tôi trôi lên phòng thí nghiệm và đặt bánh burrito vào lò nung mẫu. Tôi để nó trong đó một vài phút trước khi kéo nó ra bằng kẹp. Các bọt phô mai và một đám hơi nước từ từ tỏa ra theo mọi hướng.

Tôi để bánh burrito lơ lửng trong không khí và nguội đi.

Tôi cười nhạo. Nếu tôi thực sự muốn một cái burrito nóng, tôi sẽ bật các bộ truyền động quay lên, thực hiện EVA và giữ cái burrito dưới ánh sáng phát ra từ nó. Điều đó sẽ làm cho nó nóng rất nhanh. Ý tôi là: nó sẽ hóa hơi cùng với cánh tay tôi và bất cứ thứ gì trong phạm vi vụ nổ, bởi vì—

🚀🚀🚀

“Chào mừng đến với Nước Nga Bé nhỏ!” , Dimitri nói. Anh ấy vẫy tay rất kịch tính ở sàn bên dưới của tàu sân bay. Toàn bộ không gian đã được tái sử dụng thành một loạt các phòng thí nghiệm với đầy đủ các thiết bị công nghệ cao. Hàng chục nhà khoa học trong phòng thí nghiệm miệt mài với nhiệm vụ của họ, thỉnh thoảng nói tiếng Nga với nhau. Chúng tôi đã gọi họ là Những cư dân của Dimitri.

Có lẽ chúng tôi đã nỗ lực để đặt tên cho những thứ nhiều hơn là nên làm.

Tôi nắm chặt lọ mẫu nhỏ của mình giống như Scrooge✻ nắm chặt túi tiền của mình. “Tôi không thích chuyện này.”

“Suỵt,” Stratt nói.

“Cho đến nay, tôi mới chỉ tạo ra 8 gam Thực tinh thể, và tôi phải cho đi 2 gam ư? 2 gam có vẻ không nhiều nhưng đó là 95 tỉ tế bào Thực tinh thể.”

“Cái đó cho một lý do chính đáng, bạn của tôi!” Dimitri nói. “Tôi hứa bạn sẽ thích nó. Đến đây, đến đây!”

Anh ấy dẫn Stratt và tôi đến phòng thí nghiệm chính. Trung tâm được kiểm soát bởi một buồng chân không hình trụ khổng lồ. Buồng đã mở và ba kỹ thuật viên gắn một thứ gì đó vào một chiếc bàn bên trong.

Dimitri nói điều gì đó bằng tiếng Nga với họ. Họ nói lại điều gì đó. Anh ấy nói một số điều khác và chỉ về phía tôi. Họ mỉm cười và tạo ra những âm vui vẻ bằng tiếng Nga.

Sau đó, Stratt nói điều gì đó nghiêm khắc bằng tiếng Nga.

“Xin lỗi,” Dimitri nói. “Giờ chỉ có tiếng Anh thôi, bạn của tôi! Cho người Mỹ!”

“Chào người Mỹ!” một trong những kỹ thuật viên nói. “Tôi nói tiếng Anh vì ông đấy! Ông có nhiên liệu chứ?”

Tôi nắm chặt hộp đựng mẫu của mình hơn. “Tôi có một chút nhiên liệu…”

Stratt nhìn tôi như cách tôi nhìn những học sinh bướng bỉnh trong lớp. “Giao nó đi, Tiến sĩ Grace.”

“Anh biết đấy, máy nhân giống của tôi tăng gấp đôi lượng Thực tinh thể theo thời gian, phải không nào? Lấy đi 2 gam bây giờ cũng giống như lấy đi 4 gam vào tháng sau”.

Cô ấy giật chiếc lọ ra khỏi tay tôi và đưa cho Dimitri.

Anh ấy giơ chiếc lọ kim loại nhỏ lên và chiêm ngưỡng nó. “Hôm nay là ngày tốt lành. Tôi đã mong chờ ngày này. Tiến sĩ Grace, làm ơn để tôi cho anh xem bộ truyền động quay của tôi! “

Anh ấy ra hiệu cho tôi đi theo và đi lên cầu thang vào buồng chân không. Các kỹ thuật viên lần lượt ra ngoài để nhường chỗ cho chúng tôi.

“Tất cả đều được kết nối,” một người trong số họ nói. “Danh sách kiểm tra đã xong. Sẵn sàng cho thử nghiệm.”

“Tốt, tốt,” Dimitri nói. “Tiến sĩ Grace, Bà Stratt, Đến đây, đến đây!”

Anh ấy dẫn Stratt và tôi vào buồng chân không. Một tấm kim loại dày và sáng bóng dựa vào một bức tường. Giữa buồng có một cái bàn tròn với một số loại thiết bị đặt trên đó.

“Đây là bộ truyền động quay.” Dimitri rạng rỡ.

Không có gì nhiều để nhìn. Nó có chiều ngang vài centimét, chủ yếu là hình tròn nhưng với một bên của nó được cắt phẳng. Các cảm biến và các sợi dây được đưa ra từ các lỗ ở khắp nơi.

Dimitri nhấc phần thân trên ra để lộ các phần bên trong. Mọi thứ trở nên phức tạp hơn. Bên trong là một hình tam giác rõ ràng trên một rotor. Dimitri quay nhẹ. “Thấy chưa? Quay. Truyền động quay.”

“Nó hoạt động như thế nào?” Tôi hỏi.

Anh ấy chỉ vào hình tam giác. “Đây là ổ quay - chất liệu polycarbonate trong suốt có độ bền kéo cao. Và cái này” - anh ấy chỉ vào một góc nhỏ giữa ổ quay và vỏ ngoài - “là nơi nhiên liệu đi vào. Bộ phát hồng ngoại bên trong phần đó của khẩu súng ngắn phát ra một lượng nhỏ ánh sáng với bước sóng 4,26 và 18,31 micrômét - đó là các bước sóng thu hút Thực tinh thể. Thực tinh thể đi đến bề mặt đó của ổ quay. Nhưng không quá mạnh. Lực đẩy của Thực tinh thể dựa trên cường độ của ánh sáng hồng ngoại. Ánh sáng mờ thì lực đẩy yếu. Nhưng đủ để khiến Thực tinh thể dính vào bề mặt.”

Anh ấy xoay hình tam giác và căn chỉnh một cạnh với phần phẳng của cái vỏ. “Quay 120 độ, mặt này của ổ quay với Thực tinh thể dính trên đó giờ sẽ hướng về phía sau của con tàu. Tăng cường độ của ánh sáng hồng ngoại bên trong. Thực tinh thể bây giờ rất phấn khích, đẩy rất mạnh về phía ánh sáng hồng ngoại! Lực đẩy của chúng - ánh sáng tần số Petrova - phóng ra phía sau con tàu. Điều này đẩy con tàu tiến lên phía trước. Hàng triệu Thực tinh thể nhỏ đang đẩy phía sau con tàu để làm cho nó đi tới, phải không nào?”

Tôi cúi xuống để nhìn. “Tôi hiểu rồi… theo cách này, không có bộ phận nào của con tàu phải ở trong khu vực ánh sáng phát ra.”

“Đúng, đúng!” Dimitri nói. “Lực Thực tinh thể bị giới hạn bởi độ sáng của ánh sáng hồng ngoại thu hút nó. Tôi đã tính toán rất nhiều và quyết định tốt nhất là làm cho Thực tinh thể cạn kiệt tất cả năng lượng trong 4 giây. Nếu nhanh hơn nữa thì lực sẽ làm vỡ ổ quay.”

Anh ấy quay Ổ quay thêm 120 độ và chỉ vào một phần ba còn lại của vỏ. “Đây là khu vực dọn dẹp. Dọn sạch Thực tinh thể đã chết khỏi ổ quay.”

Anh ấy chỉ vào khu vực làm sạch, sau đó là khu vực tiếp nhiên liệu, và sau đó là mặt thoáng. “Cả ba khu vực hoạt động cùng một lúc. Vì vậy, trong khi khu vực này làm sạch Thực tinh thể đã chết khỏi mặt này, khu vực tiếp nhiên liệu sẽ thêm Thực tinh thể vào mặt kia, và mặt khác hướng ra phía sau tàu, cung cấp lực đẩy. Việc sử dụng quy trình này có nghĩa là phần tam giác chỉ ra phía sau của tàu luôn đang tạo ra lực đẩy.”

Dimitri mở lọ Thực tinh thể của tôi và đặt nó vào buồng tiếp nhiên liệu. Tôi đoán vì Thực tinh thể sẽ tìm đường đến mặt tam giác, nên không cần xử lý đặc biệt nào. Anh ấy chỉ cần… để nhiên liệu nhìn thấy hồng ngoại.

“Đến đây, đến đây nào,” anh ấy nói. “Đến lúc thử nghiệm rồi!”

Chúng tôi rời buồng chân không và Dimitri niêm phong nó lại. Anh ấy hét lên điều gì đó bằng tiếng Nga, và tất cả những người Nga bắt đầu lặp lại điều đó. Mọi người đều tiến về phía xa của boong chứa máy bay, kể cả chúng tôi.

Họ đã sắp xếp một cái bàn gấp. Nó có một máy tính xách tay trên đó với chữ viết Kyrin trên màn hình.

“Bà Stratt. Tàu sân bay này cách vùng đất liền gần nhất bao xa?” Dimitri hỏi.

“Khoảng 300 kilômét,” cô ấy nói.

“Vậy thì tốt.”

“Chờ đã, tại sao thế?” Tôi hỏi. “Tại sao chuyện đó lại tốt?”

Dimitri mím môi. “Cái đó… tốt. Thời gian dành cho khoa học!”

Anh ấy nhấn một nút bấm. Có một tiếng động như một cái bụp từ phía xa của vịnh, theo sau là tiếng ồn, và sau đó không còn gì.

“Thử nghiệm kết thúc.” Anh ấy vươn người tới trước để đọc màn hình. “Lực 60 nghìn Newton.”

Anh quay sang những người Nga khác. “60. 000 ньютонов!”

Tất cả đều hoan hô.

Stratt quay sang tôi. “Chừng đó rất nhiều, đúng không?”

Tôi quá bận rộn nhìn chằm chằm vào Dimitri để trả lời cô ấy. “Có phải anh đã nói 60. 000 Newton?”

Anh ấy vung nắm đấm lên không. “Đúng thế! 60. 000 Newton! Được duy trì trong 100 micrô giây!”

“Ôi trời ơi. Từ thứ nhỏ bé đó ư?!” Tôi bắt đầu bước về phía trước. Tôi phải tự mình nhìn thấy điều này.

Dimitri nắm lấy cánh tay tôi. “Không. Ở lại đây, bạn của tôi. Tất cả chúng ta ở lại đây. 1,8 tỉ Jun quang năng đã được giải phóng. Đó là lý do tại sao chúng ta cần buồng chân không và 1. 000 kilôgam Silicon. Không có không khí để ion hóa. Ánh sáng đi thẳng vào khối Silicon. Năng lượng được hấp thụ bằng cách làm nóng chảy kim loại. Thấy không?”

Anh ấy quay máy tính xách tay về phía tôi. Dữ liệu từ camera bên trong buồng chân không cho thấy đốm sáng từng là một tấm kim loại dày.

“Chà…” tôi nói.

“Đúng thế, đúng thế,” Dimitri nói. “Đó là Ngài Einstein với phương trình E = mc2 của mình. Công cụ rất mạnh mẽ. Chúng tôi để hệ thống làm mát hoạt động trong đó trong vài giờ. Bằng nước biển. Sẽ ổn thôi.”

Tôi chỉ biết lắc đầu ngán ngẩm. Chỉ trong 100 micrô giây - tức là 1 phần 10. 000 giây - bộ truyền động quay của Dimitri đã làm tan chảy một tấn kim loại. Tất cả năng lượng đó đã được tích trữ trong các Thực tinh thể nhỏ bé của tôi. Được máy nhân giống của tôi thu hoạch chậm rãi từ lò phản ứng hạt nhân của tàu sân bay. Ý tôi là, tất cả các tính toán đều đã được kiểm chứng nhưng việc thấy nó thực sự được minh họa như vậy lại là một điều hoàn toàn khác.

“Chờ đã… anh đã sử dụng bao nhiêu Thực tinh thể ở đó?”

Dimitri mỉm cười. “Tôi chỉ có thể ước tính dựa trên lực đẩy được tạo ra. Nhưng gần 20 microgam.”

“Tôi đã đưa cho anh cả 2 gam! Tôi có thể lấy lại phần còn lại được không?”

“Đừng tham lam thế,” Stratt nói. “Dimitri cần nó để thử nghiệm thêm.”

Cô quay sang anh ấy. “Làm tốt lắm. Bộ truyền động thực sự sẽ lớn như thế nào?”

Dimitri chỉ vào dữ liệu video. “Lớn chừng này. Đó là bộ truyền động thực sự.”

“Không, ý tôi là cái trên con tàu cơ.”

“Chừng đó,” anh ta nói, chỉ tay một lần nữa. “Bà muốn dự phòng, an toàn, đáng tin cậy, phải không nào? Vì vậy, chúng tôi không chỉ tạo ra một động cơ lớn. chúng tôi tạo ra hàng nghìn cái nhỏ. Thực ra là 1. 009. Đủ cho tất cả lực đẩy cần thiết và nhiều cái để dự phòng. Một số trục trặc trong chuyến đi? Không thành vấn đề. Thêm lực đẩy từ những cái khác để bù vào.”

“À.” Stratt gật đầu. “Hàng đống bộ truyền động quay nhỏ. Tôi thích thế. Hãy tiếp tục phát huy nhé.”

Cô tiến đến cầu thang.

Tôi nhìn Dimitri chằm chằm. “Nếu anh cho tất cả 2 gam mẫu đó vào cùng một lúc…”

Anh ấy nhún vai. “Phù! Chúng ta bốc hơi. Tất cả chúng ta. Cả con tàu sân bay nữa. Vụ nổ sẽ tạo ra sóng thần nhỏ. Nhưng cách đất liền 300 kilômét thì không sao.”

Anh ấy vỗ lưng tôi. “Và tôi nợ anh một chầu ở thế giới bên kia, được không?! Ha-ha-ha-ha!”

🚀🚀🚀

“Hừ,” tôi tự nhủ. “Vậy đó là cách bộ truyền động quay hoạt động.”

Tôi nhai bánh burrito.

Vì thế, tôi đoán tôi có một nghìn những cái đó (“Một nghìn lẻ chín!” Tôi nghe thấy giọng của Dimitri trong đầu mình). Ít nhất thì đó là lượng thông tin tôi có để bắt đầu. Một số có thể đã bị mất đi trong chuyến đi. Có thể có một thanh trên bảng điều khiển Bộ truyền động quay sẽ cho tôi biết trạng thái của từng cái nhỏ.

Tiếng cảnh báo gần làm gián đoạn suy nghĩ của tôi.

“Cuối cùng cũng đến!”

Tôi “thả rơi” bánh burrito (nó trôi nổi nơi tôi thả ra) và phóng mình lên phòng điều khiển. Cửa sập từ phòng ngủ đến phòng thí nghiệm không thẳng hàng với cửa sập từ phòng thí nghiệm đến phòng điều khiển nhưng có một đường chéo sẽ đưa tôi đi qua cả hai nếu tôi làm đúng.

Lần này thì tôi không thành công. Tôi phải đẩy một bức tường phòng thí nghiệm trên đường đi. Tuy nhiên, tôi đang làm chuyện này tốt hơn.

Tôi kiểm tra bảng điều khiển Rađa và chắc chắn, Blip-A đang đến gần! Lần này thì không phải là khối trụ. Cả con tàu đang tiến lại phía tôi. Từ từ và chậm rãi. Có lẽ họ đang áp dụng một kiểu tiếp cận không đe dọa? Trong mọi trường hợp, gần như là ở đây rồi.

Có vẻ như thân tàu của nó có một vật bổ sung mới. Trong phần kim cương to bằng cả Hail Mary, có một ống hình trụ nhô thẳng lên. Rô bốt thân tàu đang ngồi cạnh đó, với dáng vẻ tự cao. Có thể tôi đang nhân hóa một chút.

Cái ống trông giống như xenonit loang lổ màu xám và nâu với những đường vân sần sùi chạy dọc theo chiều dài của nó. Khó nhận biết từ góc độ này nhưng nó cũng có vẻ rỗng.

Tôi nghĩ rằng tôi biết chuyện gì sẽ xảy ra tiếp theo. Nếu họ làm theo kế hoạch mà họ đã chỉ ra với mô hình, họ sẽ đặt đầu kia của nó vào chốt gió của tôi.

Họ sẽ gắn đường hầm của họ như thế nào? Chốt gió của tôi có khả năng gắn - có thể là cho bất cứ con tàu nào đã đưa tôi và các đồng đội của tôi đến với Hail Mary - nhưng tôi không thể mong đợi người Erid biết được sự phức tạp của một chốt gió phổ thông.

Các cạnh của Blip-A gần hơn bao giờ hết. Nếu có sai sót thì sao đây? Nếu họ tính toán sai thì thế nào? Điều gì sẽ xảy ra nếu họ vô tình chọc thủng một lỗ trên thân tàu của tôi? Tôi là tất cả những gì đứng giữa loài người và sự tuyệt chủng. Liệu một lỗi toán học của người ngoài hành tinh sẽ gây diệt vong toàn bộ giống loài của tôi?

Tôi hối hả lao đến chốt gió và mặc bộ đồ EVA vào. Tôi vào đấy trong thời gian kỷ lục. Cẩn tắc vô ưu.

Con tàu Blip-A hiện đã quá gần, màn hình Kính thiên văn chỉ hiển thị một mảng vỏ lốm đốm. Tôi chuyển sang chế độ camera ngoài. Thân tàu của tôi đầy rẫy những thứ này. Tất cả chúng đều được điều khiển từ một cửa sổ trên bảng EVA. Tôi đoán là luôn tốt khi biết phi hành gia của bạn đang ở đâu khi hướng dẫn cho họ về EVA.

Đường hầm dài khoảng 20 bộ. Hoặc 7 mét. Ôi trời, đôi khi là một nhà khoa học Mỹ thật chán. Nghĩ theo đơn vị ngẫu nhiên, không thể đoán trước dựa trên tình huống.

Rô bốt vỏ tàu đưa ra với những cánh tay co giãn đáng kể. Tôi không biết là nó có thể làm điều đó. Nó vượt xa đường hầm về phía chốt gió của tôi. Không rùng rợn chút nào. Năm cánh tay rô bốt ngoài hành tinh ngày càng dài ra vươn tới cửa trước của tôi. Không có lý do gì để cảnh giác cả.

“Bàn tay” ba ngón của mỗi cánh tay đang cầm… một cái gì đó. Một thanh cong có gắn một tấm phẳng ở hai đầu. Giống như tay cầm cốc cà phê. Ba trong số những cánh tay này chạm tới Hail Mary và gắn những phần phẳng của thiết bị vào thân tàu. Ngay sau đó, hai cánh tay còn lại cũng thực hiện tương tự. Sau đó, tất cả năm cánh tay rút lại, kéo Hail Mary về phía đường hầm.

Được rồi. Vậy là những thứ phẳng đó là tay cầm. Chúng gắn với nhau như thế nào nhỉ? Câu hỏi hay đấy! Vỏ tàu của tôi nhẵn và được làm bằng nhôm không từ tính (sao tự nhiên tôi lại nhớ ra điều đó nhỉ?) Các tay cầm chắc chắn không được kết nối bằng bất kì phương tiện cơ học nào. Phải là chất kết dính.

Và mọi thứ bắt đầu trở nên có ý nghĩa.

Tất nhiên, họ sẽ không tìm ra cách hoạt động của cơ chế lắp ghép. Họ sẽ dán một đầu của đường hầm vào tàu của tôi. Tại sao lại không chứ? Đơn giản hơn nhiều.

Con tàu của tôi rên rỉ. Đó là một thiết bị nặng 100. 000 kilôgam, chắc chắn không được thiết kế để kéo theo chốt gió của nó. Liệu thân tàu có chịu đựng được điều này không?

Tôi kiểm tra kĩ các niêm phong trên bộ đồ EVA của mình.

Phòng điều khiển di chuyển quanh tôi. Không nhanh - chỉ vài centimét mỗi giây thôi. Này, đối với tốc độ nhỏ của tàu vũ trụ, tôi nghĩ theo hệ mét! Tốt hơn nhiều so với “cubit✻ mỗi hai tuần” hoặc tương tự thế.

Tôi để bức tường bắt kịp mình. Ở cấp độ não thằn lằn nào đó, tôi thích ở xa hơn một chút so với chốt gió. Một số thứ đáng sợ đang xảy ra ở đó.

Cạch.

Đường hầm Erid đã đâm vào thân tàu. Tiếp theo là tiếng lách cách và loẹt xoẹt. Tôi xem đường truyền camera thân tàu.

Miệng đường hầm, lúc này được giữ chặt vào lỗ chốt gió, lớn hơn toàn bộ cửa chốt gió. Tôi đoán thế là xong. Giả định rằng keo sẽ chịu được lực. Họ thậm chí không biết áp suất khí quyển của tôi là bao nhiêu. Keo làm bằng gì nhỉ? Rất nhiều câu hỏi.

Tôi không thể vận hành các bảng điều khiển trong phòng điều khiển bằng găng tay EVA của mình. Tôi ước mình có thể phóng to hoặc làm điều gì đó. Tôi liếc nhìn một trong những nguồn cấp dữ liệu hiển thị đường hầm. Đối với tôi, nó chắc chắn trông rất chặt vào thân tàu. Có một chỗ cong đối với thân tàu xung quanh vị trí đó. Đây là một hình dạng phức tạp để tạo ra nhưng người Erid đã sao chép nó một cách hoàn hảo.

Sau một phút, các cánh tay rô bốt buông tay cầm, để chúng trên thân tàu.

Một âm thanh bị bóp nghẹt phát ra từ chốt gió. Một tiếng vù vù. Có phải là luồng gió không nhỉ? Họ đang bơm áp suất vào đường hầm.

Trái tim tôi loạn nhịp. Liệu thân tàu của tôi có chịu nổi không? Nếu không khí của họ hòa tan nhôm thì sao? Điều gì sẽ xảy ra nếu nhôm rất độc đối với người Erid và một hơi thôi sẽ giết chết họ ngay lập tức? Đây là một ý tưởng khủng khiếp!

Tiếng vù vù dừng lại.

Tôi nuốt nước bọt.

Họ đã xong việc rồi. Chưa có gì bị hòa tan cả. Tôi lơ lửng đến chốt gió để nhìn xem.

Tất nhiên, tôi đã bịt kín cả hai cửa chốt gió. Giúp bảo vệ tốt hơn trong trường hợp vi phạm. Tôi mở cánh cửa bên trong và thả mình vào trong. Tôi liếc nhanh ra lỗ trên cửa sổ.

Không gian đen tối biến mất, thay vào đó là đường hầm tối tăm. Tôi bật đèn mũ bảo hiểm và nghiêng đầu để chiếu ánh sáng qua lỗ.

Cuối đường hầm quá gần. Tôi không có ý là tôi thấy phiền vì điều đó. Ý tôi là đầu của nó không còn cách 6 mét. Giống như 3 mét hơn. Và trong khi phần còn lại của đường hầm được làm bằng xenonit màu xám và nâu, bức tường ở cuối là một mô hình lục giác với màu sắc ngẫu nhiên.

Họ không chỉ kết nối với một đường hầm. Họ kết nối chốt gió của tôi với của họ, với một bức tường ở giữa.

Thông minh lắm.

Tôi đóng cửa chốt gió bên trong với tôi ở trong và xả áp. Tôi xoay tay nắm cửa ngoài và đẩy. Nó mở ra mà không có lực cản. Đường hầm là chân không - ít nhất, nó nằm ở phía bên của dải phân cách.

Tôi nghĩ là tôi hiểu rồi. Đây là một thử nghiệm. Họ cũng có cùng mối lo ngại như tôi. Gắn nó vào, để tôi tạo áp suất cho một nửa của mình bằng không khí của mình, và xem điều gì sẽ xảy ra. Hoặc nó hoạt động hoặc không. Nếu hoạt động thì tuyệt vời! Nếu không, họ sẽ thử cách khác. Hoặc có thể yêu cầu tôi thử cái gì đó.

Được rồi. Để xem nào.

Tôi điều khiển chốt gió tạo lại áp suất. Nó từ chối - cánh cửa bên ngoài đang mở. Rất vui khi biết rằng có khóa liên động an toàn nhưng tôi sẽ phải giải quyết vấn đề đó.

Chuyện đó không khó - có một van xả bằng tay sẽ cho phép không khí từ tàu vào chốt khí. Điều đó bỏ qua tất cả điều khiển của máy tính. Bạn không muốn ai đó chết vì trục trặc phần mềm, phải không nào?

Tôi mở van xả. Không khí tràn vào từ Hail Mary và, với chốt gió mở rộng, vào đường hầm. Trong vòng 3 phút, luồng không khí chậm lại và sau đó dừng lại. Các chỉ số ở bộ đồ của tôi cho tôi biết áp suất bên ngoài là 400 hectopascal. Con tàu Hail Mary đã cân bằng với phần đường hầm của tôi.

Tôi đóng van xả và chờ đợi. Tôi xem đồng hồ đo áp suất bên ngoài trên bộ đồ EVA của mình. Áp suất vẫn được đặt ở 400 hectopascal. Chúng được niêm phong tốt.

Người Erid biết cách dán xenonit với nhôm. Tất nhiên là vậy rồi. Nhôm là một nguyên tố, và bất kì loài nào có thể phát minh ra xenonit ngay từ đầu đều phải quen thuộc với bảng tuần hoàn tốt hơn chúng ta hàng nghìn lần.

Đã đến lúc có thêm nhiều niềm tin. Tôi mở các niêm phong của bộ đồ EVA và leo ra phía sau. Mùi amoniac nồng nặc lan tỏa trong không khí nhưng trái lại rất dễ thở. Rốt cuộc thì đó là nguồn cung cấp không khí của bản thân tôi. Tôi đẩy bộ đồ EVA về phía chốt gió. Đèn trên mũ bảo hiểm là nguồn sáng duy nhất của tôi, vì vậy tôi điều chỉnh bộ đồ để ánh sáng luôn chiếu xuống đường hầm.

Tôi lơ lửng trên bức tường bí ẩn và đưa tay ra để chạm vào nó nhưng dừng lại. Tôi có thể cảm nhận được sức nóng ngay cả khi cách xa vài centimét. Người Erid thích nóng.

Trên thực tế, tôi đang bắt đầu đổ mồ hôi. Các bức tường đường hầm đang làm nóng không khí của tôi. Không thoải mái nhưng không quá tệ. Tôi có thể mở cửa chốt gió bên trong của Hail Mary nếu tôi muốn kiểm soát khí hậu của mình. Sau đó, các hệ thống hỗ trợ sự sống của chúng tôi có thể chống lại nó. Họ sẽ giữ nóng cho phía nóng và tôi sẽ giữ lạnh cho phía lạnh.

Ngay cả khi mồ hôi đọng trên chân mày và mùi amoniac nồng nặc khiến mắt tôi chảy nước, tôi vẫn nhấn vào. Tôi tò mò đến mức không thể không làm vậy. Liệu có ai trách tôi không nhỉ?

Có ít nhất hai mươi hình lục giác nhỏ trên bức tường này. Tất cả chúng đều có màu sắc và kết cấu khác nhau và tôi nghĩ một vài trong số chúng có thể trong suốt. Tôi nên lập danh mục từng cái và tìm xem liệu tôi có thể xác định xem thành phần của chúng không. Nhìn kĩ hơn, tôi thấy có một đường nối rõ ràng chạy dọc theo các cạnh của hình lục giác.

Đó là khi tôi nghe thấy một âm thanh phát ra từ phía bên kia:

Cốc, cốc, cốc.

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 10

Đang tải bình luận...