Sự Im Lặng Của Bầy Cừu

phần của tầng hầm ngay dưới bếp. Tiếng

phần của tầng hầm ngay dưới bếp. Tiếng

phần của tầng hầm ngay dưới bếp. Tiếng những bước chân đang đi qua nền bếp, tiếng nước chảy. Tiếng chó cào móng vào vải sơn lót sàn. Im lặng và rồi sau đó là một vòng ánh sáng vàng yếu ớt chiếu qua miệng hố mở khi đèn trong tầng hầm được bật lên. Sau đó là ánh sáng chói mắt trong hố, và lần này thì cô ngồi vào luồng ánh sáng, tấm thảm trên hai chân, riết ráo nhìn ra xung quanh, cố gắng nhìn qua kẽ ngón tay để đôi mắt điều tiết, cái bóng của cô lắc lư xung quanh khi cái đèn chiếu được thả xuống hố đu đưa trên sợi dây ở cao tít bên trên. Cô co rúm người lại khi thấy cái xô dùng đi vệ sinh của mình chuyển động, bị nhấc lên, đu đưa lên trên cao với sợi dây mỏng mảnh, chầm chậm xoay trong lúc được kéo lên gần ánh sáng. Cô cố gắng nuốt nỗi sợ, do vậy hít vào quá nhiều không khí nhưng cũng gắng nói được nên lời. “Gia đình tôi sẽ trả tiền,” cô nói. “Tiền mặt. Mẹ tôi sẽ trả tiền ngay, không cần hỏi thêm câu nào. Đây là số… ôi!” Một cái bóng đen chạm vào cô, chỉ là một cái khăn mặt. “Đây là số điện thoại riêng của bà ấy. Là 202…”

“Tự rửa ráy đi.” Vẫn là giọng nói khác thường cô đã nghe nói chuyện với con chó. Một cái xô khác được thả xuống bằng một sợi dây nhỏ. Cô ngửi thấy mùi nước xà phòng ấm. “Cởi ra và tự lau người đi, nếu không mày sẽ bị phun nước đấy.” Và nói với con chó, giọng nhỏ dần, “Phải, nó sẽ bị xối nước, phải không nào Tình yêu, nó sẽ bị xối nước đấy.” Catherine Martin nghe thấy tiếng chân và tiếng móng chó trên nền nhà bên trên tầng hầm. Những hình ảnh nhòe nhoẹt cô nhìn thấy ngay sau khi đèn tắt đã biến mất. Cô có thể nhìn được. Miệng hố cao bao nhiêu, cái dây treo ngọn đèn chiếu có chắc không? Liệu cô có thể với tới nó bằng bộ quần áo này không, hay dùng khăn mặt vin vào được cái gì đấy. Làm gì đó đi chứ, chết tiệt. Bức tường thật nhẵn, một cái ống nhẵn thín dựng đứng. Có một khe nứt trong xi măng phía trên tầm với của cô khoảng 30cm, khiếm khuyết duy nhất mà cô có thể nhìn thấy. Cô cuộn tấm thảm chặt hết sức và lấy khăn mặt buộc lại. Đứng lên trên đó, loạng choạng với cái khe nứt, cô bấm móng tay vào đó để giữ thăng bằng và nhìn lên chỗ có ánh sáng. Liếc nhìn vào chỗ sáng. Đấy là một cái đèn chiếu có chao đèn, treo cách miệng hố chỉ khoảng 30cm và cao hơn tầm với của cô chừng 3m, nó cách xa cứ như mặt trăng, và hắn đang đến, thảm lại chao đảo khiến cô phải bấu vào khe nứt trên tường để giữ thăng bằng. Lúc nhảy xuống, một mảnh vụn rơi sượt qua mặt cô. Một thứ gì đó nữa được đưa xuống qua chỗ sáng, một cái vòi.

Một lần xịt nước lạnh như băng, một lần dọa dẫm. “Tự lau người đi. Hết cả người.” Trong xô có một cái khăn lau người và trên mặt nước nổi một cái chai nhựa đựng kem dưỡng da nước ngoài đắt tiền. Cô làm theo, tay và đùi nổi gai ốc còn hai núm vú đau nhức, và co rúm người trong không khí lạnh giá, cô ngồi xuống cạnh xô nước ấm gần sát vào tường và tắm. “Giờ thì lau người và bôi kem đi. Bôi cả người.” Kem đã ấm lên nhờ nước tắm. Chất ẩm của nó làm bộ áo liền quần dính vào da cô. “Giờ thì nhặt rác và lau sàn đi.” Cô cũng làm theo, thu gom chỗ xương gà và nhặt chỗ hạt đậu. Cô cho chúng vào xô và thấm những vết mỡ nhỏ trên xi măng. Có thứ gì khác nữa gần tường. Những mảnh vụn rơi xuống từ vết nứt bên trên. Đấy là một cái móng tay người, được sơn bóng và bị bật rất sâu vào thịt trong lúc vội vàng. Cái xô được kéo lên. “Mẹ tôi sẽ trả tiền,” Catherine Martin nói. “Mà không hỏi han gì. Bà ấy sẽ trả đủ để tất cả các người thành giàu có. Nếu đó là vì sự nghiệp, Iran hay Palestine hay Giải phóng người da đen, bà ấy sẽ trả tiền. Các người chỉ cần…” Đèn tắt. Bóng tối bất thình lình và hoàn toàn. Cô co rúm người lại rồi “uuuuuu!” khi chiếc xô vệ sinh được thả xuống cạnh cô. Cô ngồi lên tấm thảm, đầu óc quay cuồng. Giờ thì cô tin rằng kẻ bắt cô có một mình, rằng hắn là một người Mỹ da trắng.

Cô cố tạo ra ấn tượng là cô không biết hắn là người thế nào, da màu gì hay có bao nhiêu người, rằng ký ức của cô về bãi đỗ xe đã bị xóa sạch vì những cú đánh vào đảu. Cô hy vọng hắn tin rằng hắn có thể an toàn khi thả cô. Đầu cô liên tục làm việc, làm việc và ít nhất là nó làm việc quá tốt. Cái móng tay, ai đó đã từng ở đây. Một phụ nữ, một cô gái đã ở đây. Giờ thì cô ta ở đâu? Hắn đã làm gì cô ta? Nếu không bị sốc và mất phương hướng thì cô cũng không mất nhiều thời gian lắm để hiểu ra. Và lọ kem dưỡng da đã giúp cô. Da. Cô đã biết kẻ bắt cô là ai. Nhận thức đó rơi xuống cô như một thứ khủng khiếp bỏng rát nhất trên đời, và cô la hét, la hét mãi bên dưới tấm thảm, đứng dậy để cố trèo lên, cào cấu vào tường, la hét cho tới khi bật ho ra thứ âm ấm và mằn mặn trong miệng, hai tay bưng mặt, máu dinh dính trên mu bàn tay và rồi cô nằm co quắp bất động trên tấm thảm, hai tay ôm đầu.

Đ 24 ồng 25 xu của Clarice Starling rơi vào hộp điện thoại trong phòng nghỉ tồi tàn dành cho hộ lý. Cô quay số gọi chiếc xe tải. “Crawford.” “Tôi đang gọi điện thoại công cộng bên ngoài trại giam an ninh tối đa,” Starling nói. “Bác sĩ Lecter hỏi tôi xem con côn trùng ở Tây Virginia có phải bướm không. Hắn không nói gì thêm. Hắn nói Bill Bò mộng cần Catherine Martin vì, tôi trích nguyên văn, ‘hắn muốn một cái áo vest có núm vú.’ Bác sĩ Lecter muốn trao đổi. Hắn muốn ‘một đề nghị thú vị hơn’ từ thượng nghị sĩ.” “Hắn có dừng ở đó không?” “Có.” “Theo cô thì mất bao lâu nữa hắn mới nói chuyện lại?” “Tôi nghĩ vài ngày nữa, nhưng tôi nghĩ nên tấn công hắn ngay bây giờ nếu tôi có được một đề nghị dạng khẩn cấp nào đó từ phía bà thượng nghị sĩ.” “Phải khẩn cấp thôi. Chúng ta đã xác định được căn cước cô gái ở Tây Virginia, Starling à. Một tấm thẻ dấu tay của người mất tích từ Detroit đã đánh động bộ phận Nhận dạng khoảng nửa tiếng trước. Kimberly Jane Emberg, 24 tuổi, mất tích ở Detroit từ ngày 7 tháng

Hai. Chúng ta đang tìm kiếm nhân chứng tại nơi cô ấy ở. Nhân viên giám định pháp y ở Charlottesville nói cô ấy chết trước ngày 11 tháng Hai, có thể là trước đó một ngày, ngày 10.” “Hắn chỉ giữ cô ta sống có ba ngày,” Starling nói. “Chu kỳ của hắn ngày càng ngắn hơn. Tôi không nghĩ điều đó có gì ngạc nhiên.” Giọng Crawford đều đều. “Hắn đã bắt Catherine Martin khoảng 26 giờ đồng hồ. Tôi nghĩ nếu Lecter có thể nhả được tin gì thì hắn sẽ nhả ra trong cuộc nói chuyện tới với cô. Tôi đang ở văn phòng chi nhánh Baltimore, chiếc xe chỉ chuyển cuộc gọi của tôi đến cho tôi thôi. Tôi có một phòng cho cô tại Hojo, cách bệnh viện hai dãy nhà nếu cô cần chợp mắt.” “Hắn ranh mãnh lắm, ông Crawford. Hắn không tin ông sẽ để cho hắn có thứ gì đó tốt đẹp. Hắn chỉ chịu nói về Bill Bò mộng khi tôi trao đổi thông tin cá nhân cho hắn. Tôi không nghĩ là ở đây có bất cứ mối liên hệ trực tiếp nào giữa những câu hỏi của hắn và vụ án… Ông có muốn biết những câu hỏi ấy là gì không?” “Không.” “Có phải đấy là lý do mà ông không bắt tôi phải đeo máy không? Ông nghĩ rằng như thế sẽ dễ dàng hơn cho tôi, tôi sẽ thoải mái nói cho hắn nghe chuyện của tôi và làm hắn hài lòng, nếu không có ai khác nghe được.” “Đây là một khả năng khác cho cô: nếu tôi tin vào nhận định của cô thì sao hả Starling? Nếu tôi nghĩ cô là phát súng tốt nhất của tôi và tôi muốn tránh cho cô phiền hà từ những kẻ đoán già đoán non thì sao? Liệu như thế thì tôi có bắt cô phải đeo máy không?” “Không, thưa ông.” Ông nổi tiếng về khả năng dùng quân, phải

không thưa ông Tôm càng?⦾ “Vậy chúng ta có đề nghị gì cho bác sĩ Lecter?” “Có vài thứ tôi gửi đến cho cô đây. Năm phút nữa là có thôi, trừ phi cô muốn nghỉ ngơi một chút trước đã.” “Tôi muốn làm ngay bây giờ,” Starling nói. “Ông bảo họ chuyển lời cho Alonzo. Nói với Alonzo là tôi sẽ gặp anh ta ở hành lang ngoài Ban 8.” “Năm phút,” Crawford nói. Starling đi đi lại lại trên lớp vải lót sàn của gian phòng nghỉ tồi tàn sâu dưới đất. Cô là vật sáng duy nhất trong phòng. Không mấy ai trong chúng ta chuẩn bị sẵn sàng khi ở ngoài đồng cỏ hay trên các lối đi rải sỏi; chúng ta thường làm việc đó một cách vội vàng ở những nơi không có cửa sổ, trong hành lang bệnh viện, trong những căn phòng như căn phòng này với chiếc ghế sofa nhựa nứt vỡ và gạt tàn Cizano, nơi những tấm rèm lửng che đi lớp bê tông trần trụi. Trong những căn phòng như thế này, có rất ít thời gian, chúng ta chuẩn bị sẵn những cử chỉ, tập chúng đến thuần thục để chúng ta có thể thực hành khi bị số phận làm cho kinh hãi. Starling đủ lớn để biết điều đó. Cô không để cho căn phòng ảnh hưởng đến mình. Starling đi đi lại lại. Cô ra dấu vào không khí. “Đừng nản chí, cô gái,” cô nói thành tiếng. Cô nói câu đó với Catherine Martin và cô nói câu đó với chính mình. “Chúng ta hơn căn phòng này nhiều. Chúng ta tốt hơn cái chỗ khốn kiếp này nhiều,” cô nói ra miệng. “Chúng ta tốt hơn bất cứ chỗ nào mà hắn nhốt em. Giúp tôi. Giúp tôi. Giúp tôi đi.” Trong một thoáng cô nghĩ đến cha mẹ đã khuất. Cô tự hỏi liệu

họ có xấu hổ vì cô lúc này không — chỉ câu hỏi ấy thôi, không phải là sự phù hợp của nó, không phải sự thích đáng — mà chỉ là câu hỏi người ta hay hỏi vậy thôi. Câu trả lời là không, họ sẽ không phải xấu hổ vì cô. Cô rửa mặt rồi đi ra hành lang. Hộ lý Alonzo đã đứng ở hành lang với một bưu phẩm dán kín từ Crawford. Bên trong là một bản đồ và những chỉ đạo. Cô đọc nhanh chỉ đạo trong ánh đèn hành lang và bấm nút để Barney cho cô vào.

B 25 ác sĩ Lecter đang ngồi ở bàn xem xét thư từ. Starling thấy thoải mái đến gần cái xà lim hơn khi hắn không nhìn cô. “Bác sĩ.” Hắn giơ một ngón tay lên ra hiệu im lặng. Đọc xong bức thư, hắn ngồi trầm ngâm, ngón tay cái của bàn tay sáu ngón đỡ cằm, ngón tay trỏ đặt cạnh mũi. “Cô nghĩ thế nào về chuyện này?” hắn nói, đặt bức thư vào khay thức ăn. Đó là bức thư từ Văn phòng Bằng sáng chế Mỹ. “Là về cái đồng hồ Chúa bị đóng đinh trên thập ác của tôi,” bác sĩ Lecter nói. “Họ không cấp bằng sáng chế cho tôi, nhưng họ khuyên tôi đăng ký bản quyền mặt đồng hồ. Cô xem đi.” Hắn đặt một bản vẽ to bằng chiếc khăn ăn vào khay và Starling kéo ra. “Hẳn cô biết là trong hầu hết các bức đóng đinh thập giá thì cánh tay chỉ, ờ, 3 giờ kém 15 hay 2 giờ kém 10 là sớm nhất, trong khi đó chân thì chỉ 6 giờ. Trên mặt cái đồng hồ này thì Jesus đang ở trên thập giá, như cô thấy đấy, và cánh tay thì quay để chỉ giờ, giống như những cánh tay trên những cái đồng hồ rất phổ biến của Disney. Chân vẫn chỉ 6 giờ và ở trên cùng là một kim giây nhỏ quay trong vầng hào quang. Cô thấy thế nào?”

Bản phác thảo cơ thể người rất đẹp. Cái đầu là đầu cô. “Ông sẽ bị mất nhiều chi tiết khi thu nhỏ nó thành mặt đồng hồ đeo tay,” Starling nói. “Đúng vậy, thật không may, nhưng nghĩ tới đồng hồ treo tường xem. Cô có nghĩ là nó sẽ an toàn nếu không có bằng sáng chế chứ?” “Ông sẽ mua đồng hồ đeo tay chạy pin, phải không? Và chúng cũng đã được bảo hộ sáng chế rồi. Tôi không chắc lắm, nhưng tôi nghĩ bằng sáng chế chỉ áp dụng cho những thiết bị cơ khí độc đáo còn bản quyền thì áp dụng cho thiết kế.” “Nhưng cô không phải luật sư, phải không? FBI không đòi hỏi như vậy nữa.” “Tôi có một đề nghị cho ông,” Starling nói và mở cặp tài liệu. Barney đang đến. Cô lại đóng cặp tài liệu vào. Cô ghen với sự binh thản cao độ của Barney. Mắt anh ta không có biểu hiện dùng ma túy và đằng sau đó là trí thông minh không tồi. “Xin lỗi,” Barney nói. “Nếu cô cần xử lý nhiều giấy tờ thì trong tủ kia có một cái bàn học sinh mà các bác sĩ tâm thần vẫn dùng. Cô cần chứ?” Trường học, hình ảnh. Có hay không? “Giờ ta có thể nói chuyện được chứ, bác sĩ Lecter?” Gã bác sĩ giơ bàn tay lên. “Được, Barney. Cảm ơn anh.” Cô đã yên vị còn Barney ở một khoảng cách đủ an toàn. “Bác sĩ

Lecter, bà thượng nghị sĩ có một đề nghị đáng xem xét đấy.” “Còn phải xem thế nào đã. Cô nói chuyện với bà ấy sớm thế à?” “Vâng. Bà ấy không tiếc thứ gì hết. Đây là tất cả những gì bà ấy làm được, nên kỳ kèo cũng vô ích. Một đề xuất cuối cùng, lấy hoặc bỏ.” Cô ngước nhìn lên từ chiếc cặp tài liệu. Bác sĩ Lecter, kẻ đã giết hại chín người, chống ngón tay dưới mũi và đang nhìn cô. Đằng sau đôi mắt hắn là màn đêm không đáy. “Nếu ông giúp chúng tôi kịp tìm ra Bill Bò mộng và cứu được Catherine Martin an toàn, ông sẽ có những thứ dưới đây: được chuyển sang bệnh viện Quản lý Cựu chiến binh ở Oneida Park New York, sang một xà lim có cửa sổ nhìn ra cánh rừng quanh bệnh viện. Các biện pháp an ninh tối đa vẫn được áp dụng. Ông sẽ được yêu cầu đánh giá các bản trắc nghiệm tâm lý của một số tù nhân liên bang, và đó có thể là những người không bị giam ở chỗ ông. Ông sẽ đánh giá mà không biết người đó là ai. Không danh tính. Ông sẽ được đọc một lượng sách hợp lý.” Cô ngẩng đầu. Im lặng cũng có thể chế nhạo người ta. “Điều tốt nhất, đáng kể nhất: mỗi năm ông được ra khỏi bệnh viện để tới đây một tuần.” Cô để bản đồ lên khay thức ăn. Bác sĩ Lecter không kéo vào. “Đảo Plum,” cô nói tiếp. “Mỗi buổi chiều trong tuần đó ông được đi dạo trên bãi biển hoặc tắm biển mà không bị giám sát trong phạm vi 70m, nhưng đội đặc vụ sẽ chịu trách nhiệm theo dõi. Vậy đấy.” “Nếu tôi từ chơi?” “Có thể ông được treo vài bức rèm lửng ở đó. Có thể sẽ hữu ích.

Chúng tôi không có gì để đe dọa ông cả, bác sĩ Lecter. Cái mà tôi có là một cách để ông có thể nhìn thấy ánh sáng ban ngày.” Cô không nhìn hắn. Cô không muốn chơi trò đấu mắt vào lúc này. Đây không phải là cuộc xung đột. “Catherine Martin có đến nói chuyện với tôi không — chỉ về kẻ bắt cóc cô ta thôi — nếu tôi đồng ý? Chỉ nói chuyện độc quyền với tôi thôi.” “Có. Ông có thể coi đó là chuyện đương nhiên.” “Sao cô biết là đương nhiên? Ai cho phép?” “Chính tôi sẽ đưa cô ấy đến.” “Nếu cô ấy chịu đến.” “Vậy ta phải hỏi cô ấy trước, đúng không?” Hắn kéo khay vào. “Đảo Plum.” “Ở mũi của Long Island nhìn ra, về phía Bắc ấy.” “Đảo Plum. Trung tâm Bệnh truyền nhiễm súc vật đảo Plum (Liên bang, nghiên cứu bệnh lở mồm long móng). Nó viết thế. Nghe hấp dẫn đấy.” “Đấy chỉ là một

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 16

Đang tải bình luận...