Chương MƯỜI BẢY Frank Bishop và Wyatt Gillette đi xuyên qua cổng vòm cổ kính trên lối vào Học viện Thánh Francis, tiếng giày của họ bước trên những viên đá lót đường vang lên lạo xạo. Bishop gật đầu chào Huerto Ramirez, cơ thể to lớn của anh ta choán nửa cổng vào, và hỏi, “Có đúng thế không?” “Đúng vậy, Frank. Xin lỗi. Hắn chuồn mất rồi.” Ramirez và Tim Morgan, hai người đang thẩm vấn các nhân chứng dọc tuyến phố xung quanh ngôi trường, là những người đầu tiên đến hiện trường. Ramirez quay ra và dẫn Bishop, Gillette cùng Bob Shelton và Patricia Nolan theo sau vào trong ngôi trường. Linda Sanchez kéo một vali có bánh to đi theo họ. Bên ngoài là hai xe cấp cứu và hơn chục xe cảnh sát, ánh đèn từ những chiếc xe nhấp nháy trong câm lặng. Một đám đông tò mò đứng trên lối đi bộ dọc con phố. “Chuyện gì xảy ra thế?” Shelton hỏi anh ta. “Như những gì chúng tôi biết, chiếc Jaguar đó đậu ở bên ngoài cổng đằng kia.” Ramirez chỉ ra khoảng sân cách biệt với con phố bằng một bức tường cao. “Chúng tôi đã âm thầm điều động nhưng có vẻ hắn nghe ngóng được chúng ta đang đến nên đã phóng xe hết tốc lực ra khỏi ngôi trường này và bỏ trốn. Chúng tôi đã thiết lập rào chắn đường cách đây tám và mười sáu dãy phố nhưng hắn đều
vượt qua được hết. Có lẽ hắn đã rẽ vào các con hẻm và đường nhỏ.” Khi họ đi xuyên qua dãy hành lang u ám, Nolan bước đi bên cạnh Gillette. Dường như cô muốn nói điều gì đó nhưng lại thay đổi ý định và giữ im lặng. Khi họ bước xuống sảnh, Gillette nhận thấy không có học viên nào ở đó. Có lẽ các giáo viên đang giữ họ trong phòng cho đến khi cha mẹ và những người giám hộ đến. “Khám nghiệm hiện trường có phát hiện được gì không?” Bishop hỏi Ramirez. “Anh thấy đấy. Không tìm được gì cho chúng ta manh mối về nơi ở của hắn.” Họ ngoặt vào một góc tường và ở cuối lối rẽ, họ thấy một cánh cửa đang mở, bên ngoài là hàng chục sỹ quan cảnh sát và vài nhân viên y tế. Raimirez nhìn Bishop rồi thì thầm điều gì đó với anh. Bishop gật đầu và nói với Gillette, “Trong đó không mấy dễ chịu. Giống như Andy Anderson và Lara Gibson. Tên giết người lại sử dụng con dao của hắn - đâm vào tim. Nhưng có vẻ như một lúc sau nạn nhân mới chết. Cảnh tượng khá khủng khiếp. Sao cậu không chờ ngoài này? Khi nào cần cậu xem xét chiếc máy tính tôi sẽ báo.” “Tôi chịu được,” tay hacker trả lời. “Cậu chắc chứ?” “Chắc.” Bishop hỏi Ramirez, “Bao nhiêu tuổi?”
“Thằng bé đó à? Mười lăm.” Bishop nhướng một bên lông mày về phía Patricia Nolan ý hỏi liệu cô có chịu được cảnh chém giết đó không. Cô trả lời, “Không sao đâu.” Họ bước vào trong căn phòng. Dù đã cân nhắc câu trả lời trước câu hỏi của Bishop, Gillette vẫn khựng lại vì sốc. Máu lênh láng khắp nơi. Lượng máu nhiều đáng sợ - trên sàn nhà, các bức tường, hàng ghế, những khung ảnh, chiếc bảng trắng, trên bục giảng. Màu sắc thay đổi tùy theo đồ vật máu bắn lên đó, từ hồng nhạt đến sẫm gần như đen. Trên sàn nhà, cái xác nằm chính giữa căn phòng, dưới một tấm chăn cao su màu xanh lá cây đậm. Gillette liếc nhìn Nolan, hắn nghĩ cô cũng sẽ thoái lui. Nhưng sau khi liếc nhìn những vệt máu đỏ thẫm bắn khắp nơi, đôi mắt cô chỉ quét quanh căn phòng, có lẽ để tìm kiếm chiếc máy tính mà họ sắp phân tích. “Tên thằng bé là gì?” Bishop hỏi. Một nữ Sỹ quan từ Sở cảnh sát San Jose đáp, “Jamie Turner.” Bước vào căn phòng, Linda Sanchez phải hít một hơi thật sâu khi nhìn thấy cái xác và cảnh tượng máu me đó. Có vẻ như cô đang phân vân không biết mình có ngất đến nơi không. Cô lại bước ra ngoài. Frank Bishop bước vào phòng học bên cạnh, nơi một cậu thiếu niên đang ngồi rúm ró, đung đưa trên một chiếc ghế. Gillette theo sau viên thám tử.
“Jamie?” Bishop hỏi. “Jamie Turner?” Cậu ta không đáp. Gillette để ý thấy mắt cậu ta đỏ rực lên và làn da xung quanh dường như bị bỏng. Bishop nhìn thấy một người đàn ông khác trong phòng. Anh ta mảnh khảnh và khoảng hơn hai mươi tuổi. Anh ta đứng cạnh Jamie và choàng tay lên vai cậu bé. Anh nói với viên thám tử, “Phải, đây là Jamie. Tôi là anh của nó. Mark Turner.” “Booty chết rồi,” Jamie đau khổ thì thầm và chậm một miếng vải ấm lên mắt. “Booty?” Một người đàn ông khác khoảng tầm ngoài bốn mươi, mặc quần kaki và áo sơ mi vải phông, tự giới thiệu mình là trợ lý của hiệu trưởng và nói, “Đó là biệt danh bọn trẻ đặt cho ông ấy.” Ông ta hất đầu về phía căn phòng nơi cái xác đang nằm, “Cho ngài hiệu trưởng.” Bishop cúi xuống, “Cháu cảm thấy thế nào, chàng trai trẻ?” “Hắn đã giết ông ấy. Hắn có con dao đó. Hắn đâm ông ấy còn thầy Boethe chỉ biết la hét và chạy quanh, cố tìm cách trốn chạy. Cháu…” Giọng cậu ta nghẹn lại vì thổn thức. Người anh trai siết chặt vai cậu. “Thằng bé ổn chứ?” Bishop hỏi một nữ nhân viên y tế vận chiếc áo khoác với ông nghe đang cầm mấy cái kẹp cầm máu. Cô nói, “Cậu bé ổn. Có vẻ như gã này phun vào mắt cậu ta thứ nước gì đó chứa chút hỗn hợp ammoniac và nước sốt hạt tiêu. Vừa đủ để gây đau nhức, nhưng không đủ để gây ra bất kỳ tổn hại nào.”
“Tại sao?” Bishop hỏi. Cô ta nhún vai, “Ông hiểu ý tôi mà.” Bishop kéo một chiếc ghế và ngồi xuống. “Chú rất tiếc vì chuyện đã xảy ra, Jamie. Chú biết cháu rất buồn. Nhưng việc cháu nói hết với chú những gì cháu biết là vô cùng quan trọng.” Cậu bé bình tĩnh trở lại và giải thích rằng cậu ta đã trốn khỏi trường để đi xem hòa nhạc cùng anh trai. Nhưng ngay lúc cậu ta mở được cửa thì gã này, trong bộ đồng phục của công nhân vệ sinh, tóm lấy cậu và xịt thứ nước đó vào mắt cậu. Hắn nói với Jamie rằng đó là axit và nếu cậu ta dẫn hắn đến chỗ thầy Boethe, hắn sẽ cho cậu ta thuốc giải. Nhưng nếu cậu ta không nghe theo thì thứ axit này sẽ ăn mòn mắt cậu ta. Đôi tay cậu bé run bần bật và nó lại òa khóc. “Đó là nỗi sợ lớn nhất của nó,” Mark tức giận nói, “Nó sợ bị mù. Không biết tại sao tên khốn đó biết được.” Bishop gật đầu và nói với Gillette, “Thầy hiệu trưởng mới là mục tiêu của hắn. Đây là một ngôi trường lớn - Phate cần Jamie để nhanh chóng tìm ra nạn nhân.” “Mà nó rất đau! Thực sự rất đau đớn… Cháu nói với hắn rằng sẽ không giúp hắn. Cháu không muốn, cháu đã cố gắng kháng cự nhưng cháu không thể. Cháu…” Nó im bặt. Gillette cảm thấy Jamie còn muốn nói điều gì đó nhưng nó không thể nói ra. Bishop đặt tay lên vai thằng bé, “Cháu đã làm điều đúng đắn. Cháu chỉ làm những gì mà ta cũng sẽ làm, con trai ạ. Đừng lo lắng
về điều đó. Hãy nói cho chú biết, Jamie, cháu có gửi mail về dự định tối nay của mình cho ai không? Chúng tôi rất cần biết việc này.” Thằng bé nuốt khan rồi nhìn xuống. “Sẽ không có chuyện gì xảy ra với cháu đâu, Jamie. Đừng lo lắng. Chúng tôi chỉ muốn tìm ra gã này thôi.” “Anh trai cháu, hình như thế. Và rồi…” “Cháu cứ nói đi.” “Chuyện là, cháu có lên mạng để tìm mấy mật khẩu và vài thứ khác. Mật khẩu của cổng trước. Hắn hẳn đã hack vào máy cháu và nhìn thấy chúng, nhờ thế mà hắn đột nhập được vào sân trong.” “Thế còn chuyện cháu sợ bị mù?” Bishop hỏi. “Liệu có phải hắn đã đọc được nó ở trên mạng?” Jamie lại gật đầu. Gillette nói, “Vậy là Phate đã biến Jamie thành một Trapdoor, để đột nhập vào trong.” “Cháu rất dũng cảm, chàng trai trẻ,” Bishop tử tế nói. Nhưng dường như điều đó chẳng thể làm thằng bé nguôi ngoai. Những nhân viên y tế của Đội Khám nghiệm Hiện trường đưa cái xác của vị hiệu trưởng đi, những cảnh sát ở lại hội ý ngoài hành lang, Gillette và Nolan tham gia cùng họ. Shelton báo cáo những thông tin từ chuyên viên pháp y, “Chẳng có gì ở hiện trường cả. Hàng tá dấu vân tay rõ ràng - họ đã cho kiểm tra vân tay, nhưng, quỉ thật, chúng ta đều biết đó là Holloway. Hắn đi giầy đế thường. Có
đến triệu sợi vải trong căn phòng đó. Đủ để khiến đội ngũ kỹ thuật viên Phòng thí nghiệm Liên bang bận rộn cả năm. Ồ, họ tìm thấy cái này nữa. Là của cậu bé Turner.” Ông đưa một mảnh giấy cho Bishop, ông ta đọc nó rồi chuyển qua cho Gillette. Có vẻ đó là những ghi chép của thằng bé về việc bẻ mật khẩu và ngắt hệ thống báo động ở cửa. Huerto Ramirez nói, “Không ai nhớ rõ chiếc Jaguar đã đỗ ở đâu. Mà dù sao thì cơn mưa đã xóa đi mọi dấu vết rõ ràng. Chúng ta có cả tấn rác ở lề đường nhưng liệu tên tội phạm của chúng ta có vứt bất kỳ thứ gì trong đó hay không, ai mà biết được?” Nolan nói, “Hắn là một cracker. Tức hắn là một tên tội phạm rất có tổ chức. Hắn sẽ không ném bì thư có địa chỉ nhà mình trên đó trong lúc rình mò nạn nhân đâu.” Ramirez nói tiếp, “Tim vẫn đang rà soát vỉa hè cùng các cảnh sát từ trụ sở nhưng chẳng tìm được gì cả.” Bishop nhìn Nolan, Sanchez và Gillette. “Được rồi, hãy bảo vệ và kiểm tra máy tính của thằng bé.” Linda Sanchez hỏi, “Nó ở đâu?” Trợ lý hiệu trưởng nói anh ta sẽ dẫn họ đến phòng máy của trường. Gillette quay lại căn phòng nơi Jamie đang ngồi và hỏi cậu ta đã sử dụng chiếc máy nào. “Số ba,” thằng bé rầu rĩ đáp rồi lại tiếp tục chậm miếng khăn lên mắt.
Cả đội bước vào hành lang tối tăm. Trên đường đi, Linda Sanchez gọi điện cho ai đó. Từ cuộc hội thoại, Gillette đoán là con gái cô vẫn chưa chuyển dạ. Cô gác máy và nói “Dios[32].” Phòng máy ở tầng hầm, một nơi lạnh lẽo và u ám, Gillette, Nolan và Sanchez bước đến chiếc máy được đánh dấu số 3. Gillette dặn Sanchez đừng vội cho chạy bất kỳ chương trình khai quật nào của cô. Hắn ngồi xuống và nói, “Theo như chúng ta biết thì Trapdoor demon vẫn chưa tự hủy. Tôi sẽ cố gắng tìm xem nó trú ngụ ở đâu trong hệ thống của máy.” Nolan nhìn quanh căn phòng ẩm thấp theo kiểu Gô-tích. “Cảm giác như chúng ta là nhân vật trong bộ phim Quỷ ảm ấy… Không gian ma mị và nỗi ám ảnh quỷ quái.” Gillette khẽ cười. Hắn bật nguồn và kiểm tra bảng menu chính. Sau đó hắn tải vô số ứng dụng - một file word, một bảng tính, một chương trình fax, một