Sao Ta Làm Điều Ta Làm

hồi cho người khác. Chẳng hạn, khen

hồi cho người khác. Chẳng hạn, khen

hồi cho người khác. Chẳng hạn, khen ngợi màn thể hiện có giúp ích gì cho động lực nội tại của con người không? Khen ngợi là một phần thưởng từ bên ngoài, nhưng nó khác với những loại phần thưởng khác mà chúng ta đã thảo luận cho đến giờ. Nó không hữu hình như tiền bạc và không được đề nghị ngay từ đầu - bạn sẽ không bao giờ nghe ai đó nói rằng: “Tôi sẽ khen ngợi bạn nếu bạn làm thế này, thế kia”. Dẫu sao thì sự khen ngợi vẫn được sử dụng làm phần thưởng một cách rộng rãi và các chuyên gia thường khuyến khích dùng lời khen như một yếu tố thúc đẩy - ở chỗ làm, ở nhà, trường học và trong cuộc sống hằng ngày. Người ta nghĩ rằng nó hiệu quả. Họ cho rằng nếu khen ngợi ai đó vì một cử chỉ xứng đáng, thì lời khen sẽ khiến người đó cảm thấy vui vẻ hơn, và nhiều khả năng họ sẽ thực hiện lại hành vi đáng mong đợi đó một lần nữa. Wayne Cascio (hiện là nhà tâm lý học công nghiệp tại Đại học Colorado), Judith Krusell (hiện là nhà tâm lý học lâm sàng tại New Jersey) đã cùng tôi tiến hành một thí nghiệm đơn giản khác. Chúng tôi đưa ra những phản hồi tích cực - kiểu như: “Giỏi thật, bạn giải câu này nhanh hơn hầu hết mọi người đấy” - với một nửa số đối tượng; với một nửa còn lại chúng tôi không phản hồi gì cả. Bởi vì trong nhiệm vụ này, người tham gia thật sự không thể nói họ đã làm tốt đến mức nào, nên họ có thể tin vào một phản hồi tích cực dù thực tế họ làm ra sao. Một nửa số đối tượng trong mỗi nhóm thí nghiệm là nam, còn lại là nữ, và kết quả thật sự gây kinh ngạc, hoàn toàn không như mong đợi, nó khiến chúng tôi cảm thấy mình buộc phải làm lại thí nghiệm một lần nữa. Và trong cả hai lần thí nghiệm, kết quả đều chỉ ra rằng việc khen ngợi đã làm tăng động lực nội tại ở Công c qun tr th i gian,s p x p công vic & l u tr d li u cá nhân tích h p T T-C -TRONG-1 https://www.trello.nguyencongthuc.com

nam giới, nhưng lại làm giảm động lực nội tại của nữ giới. Rõ ràng nữ giới bị “mắc câu” bởi những lời khen ngợi, trong khi đối với nam giới, nó chỉ đơn giản khẳng định thành công của họ - nó biểu thị rằng họ có đủ năng lực. Nhưng tại sao lại vậy? Rõ ràng có thể lý giải điều này nếu cân nhắc đến các điều kiện xã hội nói chung của thời gian này. Đó là vào giữa thập niên 1970, và một trong những quan điểm thúc bách nhất vào thời điểm đó - dù tất nhiên ngày nay nó đã khá quen thuộc - là nhận ra rằng nữ giới và nam giới đã được xã hội hóa khác nhau như thế nào xuyên suốt thời thơ ấu. Con trai được mong đợi sẽ phiêu lưu mạo hiểm hơn so với con gái; con trai được mong đợi sẽ tập trung vào thành công, còn con gái tập trung vào sự nhạy cảm liên cá nhân. Những người theo chủ nghĩa nữ quyền, và nhiều người trong chúng ta, tin rằng có những lúc nữ giới bất lợi hơn khi xét đến cơ hội đạt được thành tựu. Qua những thông điệp ngấm ngầm trong môi trường xã hội, nữ giới luôn được dạy rằng việc có năng lực trong nhiều công việc khác nhau không quan trọng với họ như với nam giới, và đồng thời, họ phát triển một kiểu nhạy cảm quá mức với lời khen, bởi vì họ được dạy theo kiểu biến những lời khen thành một khía cạnh trung tâm trong diễn ngôn về con người của họ. Sự nhạy cảm quá mức này rõ ràng đã khiến cho những người phụ nữ trong nghiên cứu trải nghiệm lời khen như một sự kiểm soát, và họ nhanh chóng học được rằng giải đố là một cách để có được lời khen hơn là để tạo ra cảm giác hài lòng từ bên trong. Đương nhiên, những kết quả này đã kích thích và làm dấy lên các cuộc tranh cãi cùng những thí nghiệm chuyên sâu hơn. Chẳng hạn như Ryan, người luôn tự hỏi liệu có phải tất cả các phản hồi tích cực đều làm cho động lực nội tại của nữ giới suy yếu hay không, đã quyết định sử dụng hai bộ phản hồi tích cực khác nhau, một bộ bao gồm những phát biểu mang tính kiểm soát (sử dụng các cụm từ như “đúng với kỳ vọng” và “làm như bạn cần phải làm”), bộ còn lại không hề có những phát biểu mang tính kiểm soát (không đề cập đến những gì “cần phải”, “kỳ vọng”, và không nhắc đến những thông tin so sánh về mặt xã hội, chỉ có những lời khẳng định đơn giản như “Bạn đã làm rất tốt”). Kết quả là những lời khen mang tính kiểm soát đã làm giảm động lực nội tại của tất cả mọi người, cả nam lẫn nữ, trong khi những lời khen không mang tính kiểm soát lại khiến cho tất cả mọi người thích thú và kiên trì hơn nhiều. Kho sách t ng h p Google Drive VIP 800+ GB, 4000+ ebook & sách nói, 38 ch , c p nh t liên t c https://www.usbsach.nguyencongthuc.com

Vậy, vấn đề là sự khen ngợi có thể hoàn toàn không mang tính kiểm soát hoặc hoàn toàn mang tính kiểm soát, như nghiên cứu của Ryan. Hoặc nó có thể phần nào mơ hồ như trường hợp nghiên cứu mà tôi thực hiện cùng với Cascio và Krusell. Nếu lời khen không mang tính kiểm soát, nó sẽ củng cố thêm động lực nội tại của con người; nếu mang tính kiểm soát, nó sẽ làm giảm động lực nội tại của con người; và nếu nó mơ hồ, không rõ có mang tính kiểm soát hay không, thì nam giới và nữ giới có thể diễn giải nó theo những cách khác nhau. Nữ giới có xu hướng coi nó là một sự kiểm soát nhiều hơn so với nam giới. Nghiên cứu này cũng nhấn mạnh sự thật rằng lời khen, ngay cả khi được sử dụng như một phần thưởng liên cá nhân vẫn có thể gây ảnh hưởng tiêu cực đến niềm vui và động lực của người nhận nó, và một lần nữa vấn đề lại là sự kiểm soát. Vì lẽ đó, khi sử dụng lời khen, bạn buộc phải cẩn trọng với những ý hướng của riêng mình. Bạn có đang khen ngợi để cố gắng bắt người đó làm nhiều hơn? Có phải bạn đang cố kiểm soát người khác một cách khôn khéo? Với những lời khen, phần thưởng, với những giới hạn, nếu muốn sử dụng chúng mà không gây xói mòn động lực nội tại, bạn phải dồn hết tâm trí để giảm thiểu ngôn ngữ mang tính kiểm soát, phong cách mang tính kiểm soát, cũng như các kế hoạch kiểm soát hành vi của người khác. Thật không may, các bậc phụ huynh, huấn luyện viên hay các nhà bình luận trên phương tiện truyền thông lại quá thường xuyên áp đặt những tiêu chuẩn bên ngoài mang tính kiểm soát, họ dùng sự phản

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 23

Đang tải bình luận...