Sachvui.Com-su-hien-hoa-cua-soi-stef-penney

Chương 9

Chương 9

Ông nhìn tôi với vẻ thương hại: “Chó sói không tấn công người. Chúng có thể hiếu kỳ, nhưng chúng không tấn công bà.”

Tôi kể cho ông nghe về các cô con gái tội nghiệp bị chó sói ăn thịt. Ông lắng nghe mà không ngắt lời, rồi nói: “Tôi đã nghe qua những chuyện này. Không có dấu hiệu gì cho thấy các cô gái bị chó sói ăn thịt.”

“Nhưng không có chứng cứ cho thấy họ bị bắt cóc, và người ta không tìm thấy gì cả.”

“Chó sói không ăn hết cả xác chết. Nếu chó sói tấn công, chúng sẽ để lại dấu vết - những mảnh xương - và chừa lại nội tạng.”

Tôi không biết phải nói gì về chuyện này. Tôi không rõ ông đã nhìn thấy hay sao mà biết được mấy chi tiết rùng rợn ấy.

Ông tiếp: “Nhưng tôi chưa từng biết chó sói tấn công mà không bị khiêu khích. Chúng tôi chưa từng bị tấn công, và chó sói thường rình mò chúng tôi.”

“Ông Parker, có phải ông đang thử làm cho tôi sợ phải không?” Tôi nói với nụ cười vu vơ, dù ông đi phía trước và không thấy vẻ mặt của tôi.

“Không có lý do để sợ. Các con chó sẽ phản ứng nếu có chó sói chung quanh, đặc biệt là vào ban đêm. Và chúng ta vẫn còn bình an.”

Ông vừa nói vừa nhìn ngoái lại như là để bất chợt quan sát thời tiết, nhưng tôi hay liếc nhìn phía sau mình để xem có con vật gì đi theo hay không, và tôi càng muốn đi gần chiếc xe trượt tuyết hơn.

Khi ánh nắng nhạt dần, tôi cảm nhận những bóng tối di chuyển đến gần chung quanh mình. Tôi ước gì đã không nêu ra chuyện kia. Tôi ngồi gần đống lửa, cơn mệt mỏi thể chất vẫn không trấn áp trạng thái thần kinh của tôi bị tác động từ mỗi cành lá xào xạc và cơn gió tuyết. Tôi hốt tuyết gần đống lửa và làm món súp với sự lơ đãng. Khi Parker đã khuất bóng để chặt cành cây, tôi dõi mắt nhìn theo, và khi các con chó kích động lên tiếng sủa, tôi gần như nhảy dựng lên.

Sau đó, khi đang nằm co mình như thỏi xúc xích trong căn lều, có cái gì đấy khiến cho tôi tỉnh dậy. Tôi có thể nhận ra khoảng không màu xám bao phủ quanh lều, vì thế hoặc là trời gần sáng hoặc là có ánh trăng.

Thế rồi, tiếng nói của Parker cất lên sát bên tôi khiến cho tôi giật nẩy mình: “Bà Ross, bà đang thức phải không?”

“Vâng.” Cuối cùng tôi thì thầm, quả tim như thể chặn trên cổ họng, tôi tưởng tượng đến mọi chuyện kinh hoàng bên ngoài các tấm vải bạt.

“Nếu muốn, bà quay đầu qua khe hở mà nhìn ra ngoài. Đừng hoảng hốt. Không có gì đáng sợ. Có thể bà muốn biết.”

Vì lẽ sau buổi tối đầu tiên tôi đã ngủ với đầu hướng về khe hở nên tôi dễ dàng quay đầu qua nhìn. Tôi thấy Parker đã tạo một lỗ hổng trên tấm vải ở ngăn bên tôi, nên tôi nhìn ra.

Chưa phải là bình minh, nhưng có ánh sáng lạnh mát, xám nhạt, có lẽ từ vầng trăng mà tôi không nhìn thấy, phản chiếu từ lớp tuyết soi rọi quang cảnh, dù cây cối trông vẫn còn tối và lờ mờ. Trước mặt tôi là đốm đen của đống lửa đã tắt, và xa hơn, hai con chó đang đứng, thân hình trông căng thẳng, hướng về cái gì đó giữa đám cây cối. Một trong hai con chó kêu ư ử; có lẽ tiếng kêu này làm cho tôi tỉnh giấc.

Thoạt đầu tôi không nhìn thấy gì thêm, rồi sau một hoặc hai phút tôi thấy những chuyển động trong bóng tối. Tôi giật mình nhận ra có một hình thù trông giống như chó, màu xám giữa nền tuyết xám nhạt hơn. Con thứ thứ ba đang nhìn hai con chó, đôi mắt và mõm hơi đậm hơn bộ lông. Các con vật đang nhìn nhau chăm chú, không tỏ ra hung hăng, nhưng cũng không muốn quay đầu hướng khác. Một tiếng ư ử lại nổi lên, có lẽ từ con sói. Nó trông nhỏ, nhỏ hơn con Sisco. Có vẻ như nó chỉ có một mình. Tôi thấy nó tiến đến gần vài bước, rồi lại lùi ra xa, giống như một đứa trẻ nhút nhát muốn tham gia một trò chơi nhưng e không được tiếp nhận.

Trong khoảng mười phút tôi quan sát sự truyền thông giữa chó nhà và chó sói, và trong khi đó tôi quên cả sợ hãi. Tôi nhận ra ở kế bên tôi Parker cũng đang quan sát. Dù tôi không quay đầu qua ông, ông ở thật gần đến nỗi tôi nhận ra mùi hương của ông. Chỉ dần dần tôi mới nhận ra; bình thường không khí giá lạnh đến nỗi khứu giác tôi bị tắt hẳn. Nhưng trong khi tôi quan sát các con thú, có cái gì đấy tỏa mùi hương của sự sống - không phải mùi của chó hoặc thậm chí của mồ hôi, nhưng cái gì đấy giống như cây lá, như mùi nồng nồng ẩm ướt trong nhà kính. Tôi cảm thấy buốt như chạm phải gai, và đấy là hoài niệm: hoài niệm về nhà kính ở bệnh viện tâm thần nơi chúng tôi thường trồng cà chua, và về mùi hương giống như bác sĩ Watson khi tôi ép mặt mình vào lớp vải áo hoặc làn da của ông. Trước đây tôi chưa từng biết người đàn ông nào có mùi hương như thế, ngoại trừ mùi thuốc lá và nước hoa của cha tôi, hoặc mùi khó chịu do cơ thể hoạt động và trang phục chưa giặt, như của phần lớn người giúp việc.

Mùi hương duy nhất giống Watson và nhà kính giữa khu rừng giá lạnh này chính là Parker.

Đến đây, tôi không đặng đừng mà quay đầu một chút qua ông và hít vào một hơi, để lấy lại thêm một ít hoài niệm ấy, có phần thu hút chứ không phải khó chịu. Tôi cố hành động một cách lén lút nhưng cảm thấy ông nhận biết được, và tôi ngước mắt lên để xem có đúng không, và thấy ông đang nhìn tôi từ khoảng cách chỉ dăm bảy phân. Tôi giật mình, và rồi mỉm cười, để che giấu nỗi ngượng nghịu. Tôi lại nhìn các con vật, nhưng con sói đã biến mất như một bóng ma màu xám, và bây giờ tôi không biết nó đã đi xa hoặc chỉ vừa mới rời đi vài phút trước.

Tôi nói một cách hiểu biết: “Đấy là chó sói.”

“Bà đã không thấy sợ.”

Tôi lại nhìn để xem ông có ý đùa bỡn hay không, nhưng ông đang thu người về phía phân nửa căn lều của mình.

“Cảm ơn ông,” tôi nói, và rồi bực bội với chính mình. Đấy không phải như ông đã dàn xếp cho con sói đến tìm tôi, thế nên nói ra như thế là việc ngốc nghếch. Tôi lại nhìn hai con chó. Con Sisco vẫn còn nhìn chăm chăm qua khu rừng cây dõi theo kẻ xâm nhập, nhưng con Lucie đang nhìn tôi với hàm mở rộng và lưỡi thè ra, như thể đang cười cợt với tôi.

***

Các toán tìm kiếm không thấy dấu vết của kẻ đào tẩu, còn ông Ross tỏ ra kiên cường nên giúp lắng dịu nỗi lo về việc vợ ông đã biến mất. Mọi người đều đoán bà sẽ gặp Moody và đứa con trai. Mackinley không xuất hiện tham gia vào hai việc này, và giam mình trong phòng hầu như cả ngày. Gần ba ngày sau khi hai người biến mất, Mackinley lui tới nhà ông Knox như là bóng ma muốn trả thù. Ông tỏ ra tức giận với thái độ chua cay của một người vốn đã nắm bắt được con mồi trong tay nhưng lại bị sổng mất.

Gia đình ông Knox không nói ra tên Mackinley như thể xem ông này không hiện diện mà mong cho ông biến đi. Knox đề nghị ông trở lại Pháo đài Edgar để chờ đợi tin tức của Moody. Mackinley từ chối, ông nhất quyết lưu lại trong khi các liên lạc viên được phái đi với mô tả nhân dạng của kẻ đào tẩu. Ông bị ám ảnh về nhiệm vụ của mình, hoặc là về việc ông đang làm; còn Knox thì không biết chắc.

Sau bữa ăn tối hôm nay, Mackinley lại bắt đầu nói về cơ may. Ông trở lại với các chủ đề mình yêu thích, các anh hùng của Công ty, và lại tiêu khiển Knox với câu chuyện mà ai cũng đã biết về một người tên James Stewart đã thúc giục nhân viên của mình đi trên lớp tuyết mùa đông để vận chuyển hàng tiếp liệu cho một thương điếm, hoàn tất chuyến đi gây kinh ngạc trong thời tiết kinh khủng. Mackinley đã say. Ánh mắt ông long lanh vẻ nham hiểm khiến cho Knox chột dạ. Nếu đúng là con người Mackinley thì đấy không phải là do rượu vang của Knox; ông ta hẳn đã uống rượu trong phòng mình.

“Nhưng làm thế nào ông biết được chuyện đó?” Mackinley đang hỏi Knox, nhưng mắt nhìn ra lớp tuyết mềm mại bên ngoài mà xem dường ông thấy có ác cảm. Giọng ông cũng dịu đi; ông cố không to tiếng, cố không ra vẻ nhỏ mọn. Điều kỳ lạ là cho dù Knox nhận ra đấy là thái độ màu mè, ông vẫn thấy ớn lạnh.

“Ông biết họ đã làm gì đối với anh ấy không - một nhân viên giỏi như vậy? Và tất cả chỉ vì thiếu may mắn một chút? Anh ấy là một trong những người giỏi nhất. Một nhân viên Công ty xả thân hết mình. Đáng lẽ bây giờ anh ấy phải được giao quyền quản trị, nhưng họ đã đẩy anh ấy đến một vùng hoang vu giữa chốn không người - không có lông thú gì cả, vùng đất trơ trụi. Tất cả chỉ vì thiếu may mắn một chút. Như vậy là không phải. Không phải chút nào, đúng không?”

“Đúng là không phải.” Cũng là điều không phải khi ông phải gánh lấy Mackinley đến làm khách trong nhà, nhưng ông không than phiền với ai được. Chỉ ước gì Mackinley đã đi tìm anh con trai Ross và để Moody lưu lại đây. Susannah cũng sẽ vui hơn.

“Tôi sẽ không để cho họ gạt mình qua một bên. Họ sẽ không làm như vậy đối với tôi.”

“Tôi tin chắc chuyện đó sẽ không xảy ra. Đó không phải là lỗi của ông.”

“Nhưng làm thế nào họ nghĩ về tôi như vậy? Tôi có trách nhiệm về pháp luật và trật tự ở pháo đài và vùng phụ cận. Có lẽ nếu ông viết một bức thư... nêu ra những sự kiện, đại loại như vậy...” Mackinley mở to mắt nhìn Knox như thể ý tưởng này mới chớm trong đầu mình.

Knox cố nén thở dài vì cảm thấy khó tin. Ông đã tự hỏi liệu Mackinley sẽ yêu cầu như thế hay không, nhưng rồi nghĩ việc này là quá trơ tráo. Ông im lặng một khoảnh khắc để cân nhắc câu trả lời.

Ông nhìn Mackinley, cố giữ nét mặt mình được ôn hòa: “Ông Mackinley ạ, nếu phải viết bức thư như vậy, theo lẽ công bằng thì tôi phải nêu ra mọi sự kiện mà tôi biết, để tránh gây hoang mang.

“À dĩ nhiên rồi...” Mackinley ngưng lại, mắt mở to: “Ý ông nói gì? Adam đã nói gì?”

“Adam không nói gì hết. Chính mắt tôi đã thấy ý tưởng của ông về công lý được thực hiện ra sao.”

Mackinley trân trối nhìn ông với vẻ giận dữ, nhưng không nói gì thêm. Knox cảm thấy thỏa dạ đã làm ông ta câm miệng.

Khi cuối cùng Knox rời khỏi nhà, tuyết và mây mù kết hợp lại để tạo ra một thứ ánh sáng lạ lùng, một quang cảnh nhợt nhạt trong bóng tối nhá nhem khiến không khí như trở lạnh thêm. Dù cho ngày ngắn, đêm dài và mặt trời di chuyển thấp qua đường chân trời, người ta có cảm giác được bù đắp - có lẽ đấy là dấu hiệu báo trước màn trình diễn của cực quang - giúp cho bước đi ông được nhẹ nhàng hơn. Điều lạ lùng là ông cảm thấy thảnh thơi trong khi đang chuốc lấy nỗi nhục nhã.

Thomas Sturrock mở cánh cửa và một luồng không khí ẩm mốc tràn vào hành lang. Rõ ràng ông là người tin rằng không khí trong lành phải ở bên ngoài.

“Tôi tin tối nay chúng ta sẽ bị chộn rộn. Đã có xung đột nội bộ, và những người chủ nhà của tôi can dự theo cách khác.”

Knox không biết trả lời ra sao. Nhưng ông không muốn giáp mặt với John Scott khi ông này đang uống rượu. Có lẽ trút nỗi bực bội lên bà vợ rồi ra ngoài tạo bộ mặt của một công dân tốt thì tốt hơn. Ông lấy làm xấu hổ vì ý nghĩ này, nên gạt bỏ nó trong đầu.

“Tôi nhận được tin nhắn của anh, và nóng lòng muốn biết anh nói gì.” Ông tự nhắc nhở mình phải cảnh giác, ngay cả đối với Sturrock.

“Tôi đang nghĩ tới Jammet, khi chúng ta đang tìm kiếm dọc bờ hồ.” Sturrock rót hai ly whisky và khẽ lắc làm cho thứ chất lỏng màu hổ phách sóng sánh. “Và tôi đang nghĩ tới một người quen trước kia, khi tôi làm nghề dò tìm. Tên anh ấy là Kahon’wes.”

Knox im lặng chờ nghe tiếp.

“Tôi không chắc có nên nêu chuyện này ra hay không... Tôi tự hỏi, lại sao một thương nhân như Jammet lại bị giết - với mục đích gì? Tuy tôi không chắc, dĩ nhiên là như vậy rồi, nhưng tôi nghĩ đó có thể là do tấm thẻ bằng xương.”

“Tấm thẻ bằng xương mà trước đây ông nói tới phải không?”

“Phải. Tôi đã nói với ông tôi cần nó cho việc nghiên cứu mà tôi đang theo đuổi vào lúc đó, và có lẽ ông nghĩ tôi cố chiếm nó cho bằng được, những người khác cũng muốn bằng mọi cách. Tuy nhiên... à, mặc xác, thậm chí tôi còn không biết nó đúng là thứ tôi nghĩ trong đầu hay không.” Khuôn mặt ông trong ánh sáng đèn trông khô khan và già cỗi.

“Ông nghĩ nó là cái gì?”

Sturrock nốc một hớp rượu rồi nhăn mặt như thể đó là dược phẩm.

“Điều này nghe ra ngớ ngẩn, nhưng... này, tôi tin nó có thể là chứng cứ của một thứ chữ viết thời xa xưa của người Da Đỏ.”

Knox muốn bật cười. Đúng là nghe ra ngớ ngẩn - một chuyện phiêu lưu của trẻ con. Ông chưa từng nghe chuyện gì nực cười như thế.

“Điều gì làm cho ông tin như vậy?” Ông không hề nghĩ Sturrock là người người ngu dốt, dù cho ông này có khuyết điểm. Có lẽ Sturrock đã sai lầm và đó là thiếu sót của ông ta; đó cũng là lý do tại sao ở tuổi lục tuần ông vẫn mặc chiếc áo choàng kiểu cổ xưa với khuy măng sét sờn.

“Tôi có thể thấy điều ông nghĩ là ngớ ngẩn. Tôi có lý do. Tôi đã nghiên cứu vấn đề này hơn một năm.”

Knox không thể dừng: “Nhưng ai cũng biết không có chuyện đó! Không có một tí bằng chứng gì cả. Nếu đã từng có thứ chữ viết như vậy, thì phải có vết tích... phải có tài liệu hoặc ghi chép, hoặc chứng cứ truyền khẩu... nhưng mà không có gì cả.”

Sturrock nhìn ông một cách nghiêm túc.

Giọng nói của Knox mang ý hòa giải: “Tôi xin lỗi nếu mình có ý bác bỏ, nhưng chuyện này là... quái dị.”

“Có lẽ vậy. Nhưng một số người vẫn tin là chuyện đó có thể đúng. Ông có nhìn nhận như vậy không?”

“Có. Có, dĩ nhiên là họ có thể tin.”

“Và nếu tôi đi tìm kiếm nó, những người khác cũng đi tìm.”

“Điều này có lẽ cũng đúng.”

“Vậy thì, điều mà tôi thường nghĩ là như thế này: người mà tôi nói tới, Kahon’wes, là một nhà báo, một nhà văn. Người Da Đỏ, nhưng là người có thiên bẩm. Có học thức, thông minh, có tài viết ra một câu văn nghe hay ho, đại loại như thế. Tôi vẫn nghĩ anh ấy có thể lai dòng máu da trắng, nhưng tôi chưa từng hỏi. Anh ấy có niềm hãnh diện một cách cuồng tín; bị ám ảnh bởi ý niệm cho rằng người Da Đỏ, vốn có một nền văn hóa vĩ đại của riêng họ, thì theo mọi mặt là ngang hàng với người da trắng. Anh ấy có niềm tin sôi sục giống như một số tín đồ tôn giáo. Anh ấy nghĩ tôi là người thông cảm với quan điểm của anh; mà đúng thế, đến một mức nào đó... Tinh thần anh ấy không được vững vàng, anh chàng tội nghiệp - sa vào tật uống rượu khi làm chuyện gì đó không gây tiếng vang như mong muốn.”

“Ông muốn ám chỉ điều gì?”

“Ý tôi nói là anh ấy, hoặc người nào đó giống anh ấy, vốn nồng nhiệt tin vào sắc tộc và văn hóa Da Đỏ, sẽ làm bất cứ việc gì để nắm được một chứng cứ như vậy.”

“Người này quen biết Jammet không?”

Sturrock lộ vẻ hơi ngạc nhiên: “Tôi thực sự không biết. Nhưng nhiều người nghe chuyện - ông không nhất thiết cần phải biết ai đó muốn cái họ đã có. Chỉ tới lúc tôi nghe Jammet nói về tấm thẻ trong một quán cà phê ở Toronto thì tôi mới quen biết anh ấy. Jammet không phải là người kín tiếng.”

Knox nhún vai. Ông tự hỏi liệu có phải Sturrock thực sự kéo ông ra khỏi nhà mình chỉ để kể câu chuyện lạ lùng này hay không. “Bây giờ cái anh Kahon’wes đó sống ở đâu?”

“Việc này thì tôi không biết. Lần cuối cùng tôi gặp anh ấy là nhiều năm về trước. Tôi biết anh ấy đang đi đây đi đó trên bán đảo, viết các bài báo. Như tôi đã nói, anh ấy sa vào tật nghiện rượu rồi biệt tăm biệt tích. Tôi chỉ nghe nói anh ấy đi qua bên kia biên giới.”

“Ông kể cho tôi nghe chuyện này vì ông nghĩ anh ấy là nghi phạm phải không? Không đủ cơ sở vững chắc, ông có nghĩ vậy không?”

Sturrock nhìn vào ly rượu đã cạn. Bụi đã rơi vào ly, khiến cho một ít rượu còn sót lại trở nên sánh đặc.

“Có một lần, Kahon’wes nói với tôi về một thứ chữ viết cổ xưa. Ý tôi nói là điều khả dĩ có thứ chữ viết này. Trước đó, tôi chưa từng nghe nói tới.” Sturrock cười hiu hắt, vành môi mím lại: “Dĩ nhiên là tôi nghĩ anh ấy điên khùng.” Ông nhún vai trong dáng điệu khiến cho Knox nhận rằng ông xem dường bi ai một cách lạ kỳ.

“Rồi tôi đối mặt với tấm thẻ. Tôi còn nhớ anh ấy nói gì. Điều tôi đã kể cho ông có thể bất lợi cho tôi, nhưng tôi nghĩ ông cần biết tất cả sự kiện. Có lẽ nó không quan trọng, tôi chỉ kể cho ông những gì tôi biết. Tôi không muốn hung thủ không bị trừng phạt chỉ vì tôi không nói ra.”

Knox nhìn xuống, cảm thấy lại có thêm một chuyện phi lý: “Tiếc là ông không tiết lộ thông tin này sớm hơn, trước khi tù nhân trốn thoát. Có lẽ ông đã có thể nhận dạng được hắn.”

“Thực vậy sao? Ông nghĩ... À, à.”

Nhìn vẻ mặt của Sturrock, Knox không hề tin ông này vừa mới nhận ra sự việc. Knox bắt đầu nghi ngờ toàn bộ câu chuyện. Có lẽ Sturrock có một động lực nào khác để kéo sự chú ý đến người có hai dòng máu, hầu đánh lạc hướng chú ý về mình. Thực tế là, càng suy nghĩ ông càng thấy câu chuyện trở nên khó tin. Knox thắc mắc liệu thực sự có tấm thẻ hay không; chỉ có Sturrock đề cập đến nó chứ không ai khác.

“À, Ông Sturrock ạ, cảm ơn ông đã cho tôi biết. Chuyện này có thể… hữu ích. Tôi sẽ thảo luận với Ông Mackinley.”

Sturrock dang hai tay: “Tôi chỉ muốn giúp mang kẻ giết người ra trước công lý.”

“Dĩ nhiên rồi.”

“Còn có một chuyện khác.”

Knox nghĩ: À, bây giờ chúng ta đi đến chủ đề chính yếu.

“Tôi đang tự hỏi có thể nào ông bao cho tôi thêm một ít đồng tiền nhơ bẩn không?”

Trên quãng đường ngắn, lạnh lẽo bước về nhà, Knox chợt nhớ ra, thật rõ ràng đến mức gớm ghiếc và nhức buốt, câu ông đã nói với Mackinley lúc trước: “Chính mắt tôi đã thấy ý tưởng của ông về công lý được thực hiện ra sao.”

Ông đã bảo Mackinley (hoặc ít nhất đã cho phép Mackinley tạo ấn tượng) rằng ông đã không trở lại để gặp tù nhân sau khi Mackinley đã tra vấn. Ông chỉ có thể hy vọng rằng Mackinley đã quá say hoặc quá chộn rộn nên không để ý.

Trong những tình huống này thì đấy là hy vọng khổ sở.

***

Trong khi ăn sáng, Parker nói về khách thăm viếng trong đêm. Con chó sói mà chúng tôi thấy là con cái, còn nhỏ tuổi, có lẽ mới hai tuổi và chưa trưởng thành hoàn toàn, ông nghĩ nó đã dõi theo chúng tôi cả vài ngày nay vì lý do hiếu kỳ, luôn đi cách xa khỏi tầm mắt chúng tôi. Có lẽ nó muốn giao phối với con Sisco, và thật ra đã làm thế rồi.

Tôi hỏi: “Nếu ta không có chó thì nó có đi theo không?”

Parker nhún vai: “Có thể.”

“Làm thế nào ông biết đêm qua nó ở đấy?”

“Tôi đã không biết điều này. Tôi chỉ đoán.”

“Tôi mừng vì ông đã cho biết.”

“Vài năm trước…” Parker ngưng lại, như thể lấy làm ngạc nhiên với chính mình vì nói ra mà không được hỏi. Tôi chờ đợi.

“Vài năm trước, tôi tìm thấy một con sói non. Tôi đoán mẹ nó đã bị giết, hoặc nó bị đuổi khỏi bầy. Tôi cố nuôi nó như chó nhà. Trong một thời gian, nó sống sung sướng. Nó giống như thú cưng, bà biết chứ... trìu mến với chủ. Nó liếm tay tôi rồi lăn tròn, ra chiều muốn chơi đùa. Nhưng rồi nó lớn lên, và không chơi đùa nữa. Nó nhớ rằng nó là sói, không phải là thú cưng. Nó nhìn chăm chăm vào khoảng xa xa. Rồi một ngày nọ, nó bỏ đi. Sắc tộc Chippewa có một cụm từ gọi việc này - có nghĩa ‘chứng bệnh suy tư cật lực’. Bà không thể thuần hóa một con thú hoang dã, bởi vì nó luôn nhớ gốc gác của nó và khát khao muốn quay về.”

Dù cố gắng, tôi không thể hình dung ra việc anh trai trẻ Parker chơi đùa với một con sói non.

Suốt bốn ngày, bầu trời ngả xám và hạ xuống thấp, không khí ẩm như thể chúng tôi đang đi qua đám mây mù mịt. Chúng tôi dần dần đi lên, lúc nào cũng băng qua rừng cây, dù cho cây cối thay đổi: tán cây thấp hơn, thông và liễu nhiều hơn, tuyết tùng ít hơn. Nhưng bây giờ cây rừng thưa thớt hơn, cây cối thu lại thành lùm bụi, và điều khó tin nhưng có thật là chúng tôi đã đến bìa rừng; điểm cuối của rừng vốn có vẻ như không có điểm cuối.

Chúng tôi đi ra một bình nguyên rộng khi mặt trời chiếu qua trần mây và soi sáng cả quang cảnh. Chúng tôi đang đứng trên rìa một biển trắng trên đó từng làn sóng tuyết lan đi đến chân trời theo hướng bắc, đông và tây. Từ lúc đứng bên bờ Vịnh Georgian, tôi chưa từng thấy những khoảng xa như thế, khiến cho tôi chóng mặt. Phía sau chúng tôi là rừng cây; phía trước là một quang cảnh khác mà tôi chưa từng thấy bao giờ, sáng lấp lánh, trắng và mênh mông dưới ánh mặt trời. Nhiệt độ đã hạ xuống vài độ; không có gió, riêng cái lạnh thì giống như bàn tay nhẹ nhàng nhưng cương quyết đè chặt lên lớp tuyết.

Tôi cảm thấy bấn loạn giống như lần đầu tiên đối mặt với rừng nguyên sinh ở Sông Dove: quá bao la, quá trống trải cho con người, và nếu mạo hiểm đi ra trên bình nguyên này, chúng tôi sẽ dễ bị nguy khốn như đàn kiến trên một đĩa thức ăn. Ở đây, đúng là không có chỗ nào để ẩn núp. Tôi cố ngăn chặn ước muốn quay trở lại dưới tán cây như tôi đã đi theo dấu chân của Parker khỏi vùng rừng quen thuộc, thân thiện. Tôi thấy mình gần gũi với những con thú đào bới dưới lớp tuyết trong mùa đông, để sống dưới đất, trong hang hốc.

Thật ra khu bình nguyên không phải là bằng phẳng, mà có đầy những gò đống đất và tuyết che giấu các bụi cây và đá tảng. Parker nói với tôi rằng cả bình nguyên là một đầm lầy, và là địa ngục phải vượt qua trước khi đông cứng. Ông chỉ đến một khoảnh trống đang nổi bọt, nơi ai đấy đã bị chìm xuống: là một trong những người chúng tôi đang theo dấu. Hiển nhiên là chúng tôi đã được dễ dàng hơn. Ngay cả thế, mặt đất nhấp nhô đến nỗi sau hai tiếng đồng hồ tôi hầu như không thể cất thêm bước nào được nữa. Tôi cắn răng mà chú tâm đến việc nhấc từng chân một, nhưng càng lúc tôi càng tụt lại phía sau. Parker phải dừng lại chờ cho tôi đi theo kịp.

Tôi bực tức. Việc này là quá khó khăn. Mặt mũi và tai tôi đã lạnh cóng, nhưng dưới lớp trang phục tôi đang đổ mồ hôi. Tôi muốn nơi trú ẩn và nghỉ ngơi. Tôi khát nước đến nỗi lưỡi có cảm giác như bọt biển khô khốc trong miệng.

Tôi la lên: “Tôi không thể!”

Parker bước lại phía tôi.

“Tôi không đi tiếp được. Tôi cần nghỉ.”

“Chúng ta chưa đi xa đủ để nghỉ. Thời tiết này có thể thay đổi.”

“Tôi không màng. Tôi không cử động được.” Tôi chìm xuống đến đầu gối trong tuyết, như là cách phản đối. Tôi cảm thấy thật thoải mái đến nỗi tôi nhắm mắt trong cơn sướng thỏa.

“Vậy thì bà phải ở đây.”

Vẻ mặt và giọng nói của Parker không hề thay đổi, nhưng ông quay người bước đi. Tôi nghĩ ông có ý định ấy, khi ông đi đến chiếc xe trượt tuyết và hai con chó đang bồn chồn và vướng víu nhau, ông không hề nhìn ngoái lại. Ông giật dây hai con chó và chúng bắt đầu chạy đi.

Tôi nổi giận, ông sẵn sàng bỏ đi và để tôi ở lại đây. Mắt đẫm lệ điên tiết, tôi cố nhấc chân và bắt đầu bước đi một cách đau đớn theo sau chiếc xe trượt tuyết.

Nỗi giận dữ thúc đẩy tôi đi tới trong một tiếng đồng hồ, đến lúc ấy tôi đã quá mệt nên không có cảm giác gì. Và rồi, cuối cùng, Parker dừng lại. Ông pha trà và sắp xếp lại các chiếc túi trên chiếc xe trượt tuyết, rồi ra dấu cho tôi ngồi lên. Ông đã sắp các chiếc túi thành một kiểu chỗ ngồi cho tôi tựa lưng. Bây giờ tôi cảm động sâu sắc.

“Các con chó xoay xở được không?”

“Chúng ta có thể xoay xở.”

Tôi không hiểu ông nói gì, cho đến khi ông cột một sợi dây nữa vào chiếc xe trượt tuyết để hỗ trợ hai con chó. Ông quấn một vòng da quanh trán, rồi dựa người vào sợi dây kéo, thét tiếng ra lệnh cho hai con chó, cho đến khi chiếc xe trượt tuyết được kéo lên khỏi lớp tuyết đông cứng, ông kéo và kéo căng thêm rồi bắt nhịp bước như trước. Tôi xấu hổ vì làm gánh nặng cho ông, vì làm khó khăn thêm trong khi đã đến gần mức giới hạn của sự chịu đựng. Ông không than phiền. Tôi đã cố cũng không than phiền, nhưng không thể nói mình đã làm tốt như ông.

Bám vào chiếc xe trượt tuyết khi nó trồi lên hụp xuống qua các đụn tuyết, tôi nhận ra rằng khu bình nguyên quả là đẹp. Quang cảnh sáng rỡ khiến cho tôi chảy nước mắt, và tôi lóa mắt không phải theo thể chất, mà vì có ấn tượng mạnh đối với sự thuần khiết rộng lớn, trống không. Chúng tôi đi qua những bụi rậm có nhánh lá mang tuyết giăng thành mạng, và đi qua những hòn băng bắt lấy ánh nắng rồi phản chiếu lại thành những cầu vồng. Bầu trời là một mầu xanh da đồng được đánh bóng; không có một gợn gió, không có một tiếng động của bất cứ loại gì. Sự im lìm tạo cảm giác thật đè nặng.

Không như nhiều người, tôi không bao giờ cảm thấy thoải mái trong vùng hoang dã. Không gian trống rỗng khiến cho tôi nghẹt thở. Tôi nhận ra những triệu chứng của cơn kích động mới chớm và cố trấn áp chúng. Tôi cố nghĩ về đêm tối, và sự thoải mái từ tầm nhìn mù lòa này. Tôi cố nghĩ mình là người bé nhỏ và chẳng quan trọng gì cả, không đáng cho ai để ý. Tôi luôn cảm thấy điều này là dễ chịu, bởi vì khi tôi là không đáng kể thì còn ai muốn làm khổ tôi?

Có một lần, tôi biết một người đàn ông được Thượng đế tiếp xúc. Dĩ nhiên là có nhiều đàn ông và phụ nữ như thế trong bệnh viện tâm thần tôi đang sống - đến mức tôi thường tưởng tượng là nếu một người lạ từ miền đất khác đến nhà chúng tôi, ông ta hẳn sẽ nghĩ mình đã lỡ sa vào nơi chốn mà tất cả nhân vật linh thiêng nhất của xã hội chúng tôi tựu tập. Matthew Smart bị dằn vặt về cuộc trò chuyện. Ông là một kỹ sư đã nảy sinh ý tưởng là năng lượng của hơi nước lớn đến nỗi nó có thể cứu thế giới tránh khỏi tội lỗi. Chính ông đã được Thượng đế giao phó công việc chế tạo chiếc máy ấy, và đã bỏ ra nhiều nguồn lực để khởi động dự án này. Khi ông cạn tiền, dự kiến và sự điên rồ của ông bị phát hiện, nhưng bị bứt ra khỏi chiếc máy là cách tra tấn mà ông không chịu nổi, bởi vì ông nghĩ rằng nếu mình bỏ phế công việc thì tất cả chúng tôi sẽ sa vào Địa ngục, ông biết cá nhân mình quan trọng như thế nào trong dự kiến của mình, và luôn tóm lấy mỗi người trong chúng tôi để cầu khẩn giúp ông trốn thoát hầu có thể tiếp tục công việc thiết yếu của mình. Trong số những linh hồn bị đày đọa ấy, hầu như tất cả đều than van nỗi khổ riêng tư, thì lời cầu khẩn của ông là lời đau lòng nhất mà tôi đã từng nghe. Đã một hoặc hai lần tôi muốn liều chích cho ông một mũi thuốc để giúp ông thoát khỏi nỗi thống khổ (nhưng dĩ nhiên là không liều đến mức không chịu đựng nổi). Đấy là nỗi dằn vặt khi biết cá nhân mình là quan trọng.

Parker thét ra lệnh cho hai con chó, và chúng tôi lập tức dừng lại. Chúng tôi vẫn ở trong vùng đồng không nhà trống, không còn trông thấy rừng cây, và tôi không chắc mình còn có thể chỉ ra điều này.

Ông bước về phía tôi: “Tôi nghĩ tôi biết họ đã đi đâu.”

Tôi nhìn quanh, dĩ nhiên là không thấy gì cả. Khu bình nguyên trải dài theo mọi hướng. Nó thật sự trông như biển cả. Không có ánh mặt trời, tôi không biết mình đang đi theo hướng nào.

Ông chỉ về một hướng ngược chiều với mặt trời hiện đang lặn xuống bên tay trái chúng tôi: “Đằng kia là một thương điếm của Công ty gọi là Nhà Hanover. Còn cách vài ngày đường. Dấu vết chỉ đường đi tới đó. Có một địa điểm được gọi là Himmelvanger - một ngôi làng tôn giáo. Người nước ngoài. Tôi nghĩ họ là người Thụy Điển.”

Tôi dõi mắt theo ngón tay của ông và săm soi nhìn khoảng cách kéo dài đến hướng tây, nghĩ về bệnh viện tâm thần và những bệnh nhân mộ đạo náo động.

“Thế là, Francis...” Tôi khó nói ra hy vọng của mình, vì cảm thấy nghèn nghẹn ở cổ họng.

“Khi đêm tối xuống, chúng ta sẽ tới đó.”

“À…”

Tôi không thể nói gì thêm, e mình sẽ phá hủy món quà may mắn lớn lao này. Trong ánh sáng ban ngày, thình lình tôi để ý là mái tóc của Parker không phải đen, mà có những vết màu nâu đậm nhạt, và không có vết trắng nào.

Ông lại thét ra lệnh cho hai con chó, một tiếng thét hoang dã vang dội quanh vùng đồng bằng trống không như tiếng hú của một con thú, và theo đó ông giật sợi giây kéo, rồi chiếc xe trượt tuyết phóng về trước. Hơi thở xộc ra từ người tôi, nhưng tôi không màng.

Tôi đang biểu lộ lòng tri ân của mình, theo cách của riêng tôi.

***

Espen biết rằng vợ mình, Merete, đã nghi ngờ điều gì đó. Anh đề nghị hai người không gặp nhau trong một thời gian, chờ cho tình hình ổn thỏa. Line làm việc trong nỗi giận dữ, đá các con gà khi chúng đến gần, chọc mạnh đầu kim vào tấm chăn đang thêu, kéo các sợi chỉ quá mạnh và làm cho mối thêu nhăn nhúm. Chỉ còn có một việc làm cho cô vui là chăm sóc cậu trai trẻ. Dĩ nhiên là mọi người đều biết anh đang bị giam lỏng vì một vụ án kinh hoàng. Hôm nay, anh trông nhợt nhạt và bất động khi cô đến thay tấm trải giường cho anh.

“Bây giờ cô không còn sợ tôi nữa chứ?”

Line đang nhìn qua khung cửa sổ. Anh nhận ra cô đang quanh quẩn bên mình.

Cô mỉm cười: “Không, dĩ nhiên là không. Tôi không hề tin có chuyện đó. Đúng ra, tôi nghĩ họ đều ngu ngốc.”

Cô nói ra với giọng điệu sôi nổi khiến cho anh cảm thấy sốc.

“Tôi đã nói vậy với cái anh người Scotland, nhưng anh ấy cho là mình đang làm nhiệm vụ. Anh ấy nghĩ tiền bạc là tất cả chứng cứ mà anh ấy cần. Tôi đoán họ sẽ mang tôi về và sẽ có phiên tòa. Vì thế, mọi việc không phải tùy vào anh ấy.”

Line đã thay xong tấm trải giường; anh lại nằm xuống. Cô nhận thấy các khuỷu chân và khuỷu tay của anh thật mảnh mai. Đang mảnh mai thêm. Trông anh thật non trẻ và thật chơ vơ đến nỗi máu cô sục sôi lên: “Nếu có thể được thì tôi sẽ rời khỏi nơi này. Tin tôi đi, sống ở đây cứ như là đã chết.”

“Tôi nghĩ cô đang có cuộc sống tốt đẹp ở đây, lánh xa tất cả cám dỗ và tội lỗi.”

“Không đúng như vậy.”

“Cô sẽ trở về Toronto không?”

“Không thể được. Tôi không có tiền. Chính vì lý do này mà tôi đã đến sống ở đây. Cuộc sống khó khăn đối với một phụ nữ đơn độc có con cái.”

“Nếu cô có tiền thì sao? Liệu cô trở về được không?”

Line nhún vai: “Không ích gì mà nghĩ đến chuyện này. Trừ khi chồng tôi thình lình trở về, với một gia sản bằng vàng. Nhưng anh ấy sẽ không về.” Cô mỉm cười với vẻ chua xót.

“Line...” Francis cầm lấy tay cô, khiến cho cô ngưng lại nụ cười. Anh có dáng vẻ nghiêm túc, làm cho tim cô đập mạnh. Khi đàn ông thể hiện dáng vẻ ấy trên khuôn mặt thì chỉ có một ý nghĩa.

“Line, tôi muốn cô nhận lấy số tiền này. Tôi không có việc gì phải cần tiêu tiền. Dù sao đi nữa thì Per sẽ không cho phép họ tịch thu, nên nếu cô nhận lấy thì cô có thể cất giấu, rồi ra đi vào lúc nào đó - có lẽ là vào mùa xuân.”

Line nhìn anh mà cảm thấy kinh ngạc lạ lùng: “Không, chắc anh không có ý... Đó là... không, tôi không thể…”

“Tôi nghiêm túc mà. Bây giờ cô nhận lấy đi. Nếu không thì chỉ uổng phí thôi. Đó là tiền của Laurent - tôi biết hẳn anh ấy cũng muốn cô nhận hơn là để cho những người kia lấy đi. Rồi nó sẽ đi về đâu? Có phần chắc là sẽ đi vào túi của họ.”

Tim cô đập nhanh lan đến cổ họng. Quả là một cơ may!

“Anh không biết anh đang nói gì.”

“Tôi biết chính xác mình đang nói gì. Cô không được hạnh phúc ở đây. Hãy dùng số tiền đó mà bắt đầu cuộc sống mới. Cô còn trẻ, còn đẹp, cô không nên giam mình ở đây với mấy ông đã có vợ... Cô phải được hạnh phúc.” Francis nói nhỏ dần.

Line nắm lấy bàn tay kia của anh: “Anh nghĩ tôi đẹp hay sao?”

Francis mỉm cười, có phần ngượng nghịu: “Dĩ nhiên. Ai cũng nghĩ vậy.”

“Đúng vậy sao?”

“Cô có thể nhận ra theo cách họ nhìn cô.”

Cô cảm nhận niềm vui sướng dâng trào, và vào lúc ấy cô cúi xuống đặt môi mình lên môi anh. Môi anh nồng ấm nhưng bất động, và dù đang nhắm mắt, lập tức cô biết mình đã sai lầm khủng khiếp. Có vẻ như đôi môi anh co lại vì kinh tởm, như thể bị một con ốc sên hoặc một con giun đất chạm phải. Cô mở mắt ra và thu người lại một chút, cảm thấy hoang mang. Anh đang nhìn đi hướng khác, khuôn mặt lộ vẻ kinh sợ.

Cô cố giãi bày: “Tôi...” Cô không thể hiểu được mình đã làm gì sai trái. “Tôi nghĩ anh đã nói tôi đẹp.”

“Cô đẹp. Nhưng tôi không có ý... Đó không phải là lý do tôi trao tiền cho cô. Tôi không có ý đó.”

Có vẻ như anh muốn tránh càng xa cô càng tốt đến mức tấm chăn cho phép.

“Ôi... Chúa tôi.” Line cảm thấy nóng bừng bừng và buồn nôn vì hổ thẹn. Làm thế nào chính cô có thể gây ra chuyện tồi tệ hơn thế nữa? Như thể sáng nay cô đã thức dậy và nghĩ về tất cả những việc thực sự điên rồ mình sẽ làm hôm nay, rồi bác bỏ việc bày tỏ cảm nghĩ của mình đối với Espen trong các buổi cầu nguyện sáng sớm, và chọc mũi kim vào cái mông tròn lẳn của Britta (hai việc chỉ mới có trong ý nghĩ), mà thay vào đó lại hôn một anh trai trẻ đã bị bắt giữ về tội giết người. Cô bắt đầu cười, và rồi cũng thình lình như thế, cô khóc.

“Tôi rất tiếc. Tôi không biết chuyện gì đã xảy ra với mình. Bây giờ tôi không còn là chính mình nữa. Tôi cứ làm chuyện điên rồ.” Cô quay mặt đi.

“Line, cô đừng khóc. Tôi rất tiếc. Tôi mến cô, tôi thực sự mến. Và tôi thực sự nghĩ cô đẹp. Nhưng tôi không phải là... đó là lỗi của tôi. Đừng khóc.”

Line dùng tay áo lau đôi mắt và sống mũi, giống như bé Anna hay làm như thế. Một hoặc hay ý nghĩ vừa chớm trong đầu. Cô không muốn quay lại vì nếu anh vẫn còn lộ vẻ kinh tởm thì cô không chịu nổi.

“Anh đúng là tử tế. Tôi sẽ nhận món tiền, nếu anh thực sự có ý đó, bởi tôi nghĩ mình không thể sống ở đây. Tôi biết chắc như vậy.”

“Tốt. Cô nhận đi.”

Bây giờ cô mới quay lại. Francis đang ngồi dậy trên giường, đang cầm chiếc túi da. Cô nhận lấy cuộn giấy bạc và cố ngăn ước muốn đếm nó, bởi vì như thế là tỏ ra vô ơn. Tuy nhiên, dường như ít nhất là bốn mươi đô la (bốn mươi đô la! Mà lại là đô la Mỹ), rồi cô nhét cuộn tiền vào bên trong áo blouse.

Dù sao đi nữa, anh có thấy việc này hay không thì cũng chẳng hề gì.

Sau đó, cô ngồi trong gian bếp, đang lén lút ăn phó mát đầy miệng, thì Jens chạy vào, mặt đỏ bừng vì kích xúc.

“Đoán ra chuyện gì không? Có thêm khách tới đây!”

Jens và Sigi chạy ra, Line giận dỗi chạy theo, rồi thấy hình dạng của hai người và một chiếc xe trượt tuyết. Những người Na Uy tụ tập chung quanh và đỡ người ngồi trên xe xuống. Người này lảo đảo và phải được nâng đỡ. Line thoáng thấy một gương mặt trông dữ dằn và đen đúa, rồi cô nhìn qua người kia và nhận ra đó là một phụ nữ da trắng. Quả là bất thường khi trông thấy một phụ nữ như thế - dù qua lớp trang phục dày, bà vẫn có phong thái tao nhã - lại đi cùng người bản địa trông hung ác như thế, đến nỗi thoạt đầu không ai biết phải nói hay làm gì. Rõ ràng là người phụ nữ đã kiệt sức nên Per phải trao đổi với người bản địa. Line không nghe rõ các câu đầu, nhưng rồi nghe tiếp câu sau, bằng tiếng Anh: “Chúng tôi đang đi tìm Francis Ross. Bà này là mẹ anh ấy.”

Ý nghĩ đầu tiên của Line, thật xấu hổ, là Francis sẽ muốn đòi lại khoản tiền. Cô cũng cảm nhận một nỗi ghen tị. Ngay cả sau sự kiện bối rối ban chiều, cô vẫn nghĩ mình có mối quan hệ độc nhất với anh trai trẻ; anh là người bạn và cũng là đồng minh của cô - người duy nhất ở Himmelvanger không có thái độ bề trên với cô. Cô không muốn mình bị thay thế, cho dù trong tình cảm của một nghi phạm về tội giết người.

Line ép bàn tay vào người, bên ngoài cuộn giấy bạc và giữ ở đó.

Cô thầm thề nguyện với mình là bây giờ không ai được lấy đi món tiền này.

***

Những người đàn ông và phụ nữ với vẻ mặt háo hức và phấn khích nâng tôi dậy, đỡ cho tôi đứng lên khi tôi loạng choạng. Tôi không hiểu được tại sao họ tỏ ra vui mừng đến thế khi gặp chúng tôi, và rồi tôi cảm thấy kiệt sức, hai tai lùng bùng với những rung động và tiếng ca hát kỳ lạ. Khi những người bao quanh gật đầu và mỉm cười và líu lo đáp lại lời Parker nói gì đấy, tôi không hiểu được gì ngoài tiếng nói lao xao và sự kiện là đôi mắt tôi, dù đang nóng bỏng, vẫn ráo hoảnh. Có lẽ tôi đã bị mất nước; có lẽ tôi đã ngã bệnh. Không can gì; Francis còn sống và chúng tôi đã tìm được nó, đấy là điều quan trọng nhất. Thậm chí tôi còn cảm tạ Thượng đế, nếu những kênh thông tin với Người han rỉ từ lâu vẫn còn để mở.

Tôi nghĩ mình thành công trong việc kiềm chế cảm xúc khi trông thấy con tôi. Đã hai tuần trôi qua kể từ khi nó rời khỏi nhà; nó trông xanh xao, tóc xem dường đen hơn bao giờ hết; và nó mảnh mai, một thân hình trẻ con dưới tấm chăn. Tuồng như tim tôi đập mạnh đến mức gần vỡ toang, khiến tôi gần bị tắc nghẹn. Tôi không nói năng gì được, chỉ nghiêng người xuống để ôm lấy nó và cảm nhận xương xẩu nó sắc nhọn dưới lớp da. Hai cánh tay nó choàng qua hai bờ vai tôi, tôi có thể ngửi mùi của nó, khiến cho tôi hầu như không chịu nổi. Rồi tôi phải thu người lại vì tôi không còn nhìn được nó nữa, mà tôi cần nhìn nó. Tôi vuốt tóc nó, mặt nó. Tôi ôm chặt hai bàn tay nó trong hai bàn tay tôi. Tôi không thể dừng vuốt ve nó.

Nó nhìn tôi, đã chuẩn bị cho sự hiện diện của tôi - tôi nghĩ thế - nhưng có vẻ như nó vẫn ngạc nhiên, và bóng ma của một nụ cười lập lờ trên khuôn mặt của nó.

“Ma-man. Mẹ đã đến. Làm thế nào mẹ đến được?”

“Francis, cha mẹ rất lo lắng...”

Tôi vuốt ve hai bờ vai và hai cánh tay nó, cố kiềm chế dòng lệ. Tôi không muốn làm cho nó bối rối. Hơn nữa, tôi không cần phải khóc nữa; không bao giờ nữa.

“Mẹ ghét đi xa mà.”

Hai mẹ con tôi cùng cười to, run rẩy. Trong một khoảnh khắc, tôi cho phép mình nghĩ đến việc khi về nhà chúng tôi sẽ bắt đầu lại; sẽ làm thế nào để không còn có những cánh cửa đóng sập, không còn có nỗi nín lặng âm ỉ. Sau đó, chúng tôi sẽ được hạnh phúc.

“Pa-pa cũng đến đây không?”

“À... cha con không thể đi xa khỏi trang trại. Cha mẹ nghĩ chỉ một người đi thì tốt hơn.”

Francis nhìn xuống tấm vải giường. Đấy nghe như là lời giải thích khập khiễng. Tôi ước gì mình đã đưa ra một lời dối trá có tính thuyết phục hơn, nhưng việc anh ấy vắng mặt thì nói lên nhiều điều hơn là bất kỳ giải thích nào. Francis không rút hai bàn tay về khỏi hai bàn tay tôi, nhưng có vẻ như tay nó đang tuột ra. Nó vẫn thất vọng, dù có những chuyện khác diễn ra.

“Cha sẽ rất vui được gặp lại con.”

“Ông ấy sẽ nổi giận.”

“Không phải, đừng ngớ ngẩn.”

“Mẹ đến đây bằng cách nào?”

“Với một người chuyên nghề dò tìm tên là Ông Parker. Ông đã tử tế muốn dẫn mẹ đi, và...”

Dĩ nhiên là từ khi con tôi rời khỏi Sông Dove, nó không biết những chuyện đã diễn ra. Nó không biết Parker đúng là ai, hoặc có thể là ai.

“Họ nghĩ con đã giết Laurent Jammet. Mẹ biết điều này, phải không?” Giọng nói của nó nghe thản nhiên.

“Con yêu ạ, đó là nhầm lẫn. Mẹ thấy anh ấy… Mẹ biết con không làm chuyện ấy. Ông Parker quen biết

Monsieur

Jammet. Ông ấy có một ý tưởng...”

“Mẹ thấy anh ấy à?” Nó nhìn tôi, mắt mở tròn, mà tôi không biết với dáng vẻ bị sốc hay là thông cảm. Dĩ nhiên là nó ngạc nhiên. Cả nghìn lần mỗi ngày từ lúc ấy, tôi vẫn nghĩ lại lúc tôi đứng ở khung cửa ngôi nhà gỗ của Jammet, cho đến khi hồi ức của quang cảnh kinh khiếp này đã bị bào nhẵn. Nó không còn làm cho tôi bị sốc nữa.

“Mẹ đã tìm thấy anh ấy.”

Francis khép mắt lại, như thể có một cảm nghĩ khác thình lình xâm chiếm lấy nó. Trong một khoảnh khắc tôi nghĩ nó tức giận, cho dù không có lý do nào khiến cho nó phải tức giận.

“Con đã tìm thấy anh ấy.”

Nó nhấn mạnh ngôn từ một cách nhẹ nhàng nhưng không nhầm lẫn được. Như tuồng nó thấy cần phải vạch rõ.

“Con đã tìm thấy anh ấy, và theo dõi theo người đã gây án, nhưng rồi con mất dấu. Ông Moody không tin con.”

“Francis à, anh ấy sẽ tin. Mẹ đã thấy các dấu chân mà con theo dõi. Con phải kể cho anh ấy tất cả những gì con thấy, rồi anh ấy sẽ hiểu.”

Francis thở hắt ra - dấu hiệu khinh thường mà nó hay biểu lộ ở nhà mỗi khi tôi tỏ ra ngu ngốc: “Con

đã

kể cho ông ấy tất cả.”

“Nếu con... đã tìm thấy anh ấy, tại sao không nói cho cha mẹ biết? Tại sao lại một mình theo dõi hắn? Nếu hắn tấn công con thì sao?”

Francis nhún vai: “Bởi vì nếu chần chừ, con sẽ mất dấu hắn.”

Tôi không nói ra - bởi vì nó hẳn có cùng ý nghĩ - rằng thế nào đi nữa thì nó cũng mất dấu.

“Pa-pa có nghĩ con làm chuyện đó không?”

“Francis... dĩ nhiên là không. Làm thế nào con nói như thế được?”

Nó lại mỉm cười - một nụ cười méo mó, đau khổ. Tuổi nó còn quá nhỏ nên đáng lẽ nó không nên có cách cười như thế, và tôi biết đấy là do lỗi của tôi. Tôi đã không thể giúp cho tuổi thơ của nó được hạnh phúc, và bây giờ khi nó đã lớn lên thì tôi không thể bảo vệ nó chống lại những khổ ải và khó khăn trên trần thế.

Tôi đưa một bàn tay vuốt má nó: “Mẹ xin lỗi.”

Nó chẳng hỏi tôi xin lỗi về việc gì.

Tôi tiếp tục trò chuyện với nó, về việc tôi sẽ nói với anh Moody như thế nào để anh hiểu anh đã sai lầm. Tôi nói về tương lai, và nói làm thế nào để không phải lo lắng gì nữa. Nhưng đôi mắt nó vẫn nhìn lên trần nhà, nó không lắng nghe tôi, và cho dù hai bàn tay tôi nắm lấy hai bàn tay nó, tôi biết mình đã đánh mất nó. Tôi mỉm cười, cố tạo thái độ vui tươi trên gương mặt và trong cử chỉ, nói thao thao về chuyện nọ chuyện kia, bởi vì hai mẹ con tôi còn có thể làm được gì khác?

***

Hôm nay, vùng Vịnh yên ắng. Cả ngày hôm qua, trong cơn bão tuyết, tiếng nước gào thét đập vào bờ đá tạo ra tiếng rầm rì lan tỏa cả thị trấn. Lúc trước Knox đã nghĩ rằng bờ đá hẳn phải có hình dạng lạ lùng để trong điều kiện thời tiết nào đó phát ra âm thanh gầm gừ trầm lắng nhưng không dứt như thế. Theo tầm mắt người ta có thể thấy qua màn tuyết cuồn cuộn - vốn không xa lắm - con Vịnh có màu xám và trắng, mặt nước bị gió thổi xé toạc và nổi sóng mạnh mẽ. Vào những thời khắc như thế này, người ta mới hiểu được tại sao cư dân đã chọn đúng địa điểm để xây nhà ở Sông Dove, tránh xa con Vịnh rộng lớn và không lường trước được.

Khi màn đêm xuống, ít người đi ra khỏi nhà. Lớp tuyết đã dầy lên gần nửa mét, nhưng ẩm ướt, và đang rắn chắc lại. Những vết chân người và bánh xe chạy ngang dọc con đường, những làn đường đông đúc nhất tạo nên những rãnh sâu dơ bẩn trên nền tuyết trắng. Những làn đường ít người đi thì chỉ có dấu vết lờ mờ. Dấu vết chạy dài từ nhà đến cửa hàng, từ nhà nọ đến nhà kia. Bạn có thể nhận biết những ai ở Caulfield được yêu thích và những ai ít đi ra ngoài.

Bây giờ Knox đang đi theo một vết lờ mờ, chân ông ướt và lạnh thêm sau mỗi bước đi. Điều gì trên cõi đời này đã ám ảnh ông khiến cho ông đi ra ngoài mà không mang giày ủng cao su? Ông cố nhớ lại khoảnh khắc trước khi mình bước ra khỏi nhà, để tìm ra mình đã nghĩ gì, nhưng không nhớ được. Một lỗ đen trong tâm trí ông. Trong thời gian gần đây ông thường có lỗ đen như thế. Ông thấy đó là điều đáng bận tâm.

Khi đến ngôi nhà, tất cả đều yên ắng. Ông bước vào phòng khách nơi đứa con gái Susannah liến thoắng hay hiện diện, nhưng ngạc nhiên thấy Scott và Mackinley đang ngồi trên ghế bành. Không thấy bóng dáng người nào trong gia đình ông. Ông có cảm tưởng hai người đang ngồi đợi mình.

“Chào hai vị... À, John, tôi xin lỗi, chúng tôi nghĩ không có khách tối nay.”

Scott hạ tầm mắt xuống, lộ vẻ ngượng nghịu, cắn môi lại.

Mackinley lên tiếng. Giọng nói ông ta bây giờ nghe rắn rỏi và tỉnh táo: “Chúng tôi không cùng nhau đến đây tối hôm nay.”

Knox hiểu ý, đóng cánh cửa lại sau lưng ông. Trong một khoảnh khắc ngắn, ông chợt nghĩ mình phải phủ nhận tất cả; phải chỉ rõ rằng vì say rượu mà Mackinley nghe mấy chuyện không có thực, nhưng rồi gạt bỏ ngay ý nghĩ này.

Mackinley bắt đầu: “Ít ngày trước, ông nói rằng ông đã không quay lại kho chứa hàng, rằng Adam và tôi là hai người cuối cùng gặp tù nhân. Adam đã bị trừng phạt vì đã không khóa cửa kho chứa hàng. Nhưng hôm nay, ông lại nói với tôi rằng chính mắt ông đã nhìn thấy tù nhân sau khi tôi đã gặp hắn rồi trở về.”

Mackinley ngả người dựa vào lưng ghế bành, lộ vẻ tự mãn của một thợ săn đã giăng một chiếc bẫy chuẩn xác.

Knox liếc qua Scott; ông này nhìn ông một thoáng rồi quay nhìn qua hướng khác. Knox cảm nhận một nỗi khao khát muốn gian dối để cười to đang dâng lên trong ông. Có lẽ đúng thực là cuối cùng thì ông đã đãng trí. Ông băn khoăn nếu bây giờ bắt đầu nói ra sự thật thì mình có thể dừng lại được không.

“Điều tôi thực sự nói là chính mắt tôi đã thấy ý tưởng của ông về công lý được thực hiện ra sao.”

“Thế thì ông không phủ nhận việc này phải không?”

“Tôi đã thấy, và việc đó làm cho tôi kinh tởm. Vì thế tôi đã có động thái nhằm tránh trò hề của công lý. Đấy là việc ông hẳn sẽ làm.”

Scott nhìn Knox, như thể lúc trước không tin nhưng bây giờ thu can đảm để đối đầu: “Ý ông muốn nói là ông... phóng thích tù nhân?” Giọng ông này nghe căm phẫn.

Knox hít một hơi thở sâu: “Đúng. Tôi quyết định rằng đấy là việc tốt nhất phải làm.”

“Ông điên rồi hay sao? Ông không có thẩm quyền để làm việc như vậy.” Câu này là do Scott nói ra, đang lộ vẻ khó chịu như vừa ăn phải khoai tây xanh.

“Tôi vẫn còn là quan tòa ở đây, tôi tin như thế.”

Mackinley đằng hắng nhẹ: “Đây là vụ việc của Công ty. Tôi đang nắm quyền chỉ đạo. Ông đã cố tình làm sai lạc quy trình của công lý.”

“Đây không phải là vụ việc của Công ty. Ông chỉ tìm cách làm ra vẻ như vậy. Nhưng nếu Công ty có liên quan gì đến vụ việc, thì công lý càng phải tỏ ra không thiên vị. Điều này không xảy ra được trong khi ông bắt giam người kia.”

Sắc mặt Mackinley đỏ bừng, hơi thở sâu và gấp gáp: “Tôi sẽ báo cáo về chuyện của ông.”

Knox săm soi móng ngón tay cái của mình khi trả lời: “À, ông cứ làm theo cách ông nghĩ cần phải làm. Tôi sẽ không đi đâu hết. Mặt khác, ông... tôi nghĩ đã đến lúc ông đi tìm chỗ ở khác trong thị trấn này. Tôi tin ông Scott có thể giúp ông trong việc này, cũng như trong những việc khác. Chào hai ông.”

Knox đứng dậy và giữ cho cánh cửa mở ra. Hai người đàn ông đứng dậy và đi ngang qua ông, đôi mắt Mackinley chiếu ra một điểm cố định ngoài hành lang, Scott đi theo sau và nhìn xuống đất. Knox nhận biết hai người dừng lại bên ngoài và xì xào to nhỏ với nhau, rồi bước đi. Ông không thấy tiếc việc mình đã làm, mà cũng không sợ hãi. Đứng trong hành lang không có ánh đèn, Andrew Knox cùng lúc nhận ra ba điều: một trạng thái chùng xuống, run rẩy, như thể một sợi dây buộc suốt đời thình lình được thả lỏng; một ước muốn được gặp Thomas Sturrock, vào lúc này là người duy nhất có thể hiểu ông; và sự kiện là lần đầu tiên trong nhiều tuần lễ, ông không còn bị đau nhức ở các khớp xương nữa.

***

Tuyết rơi không ngớt trong hai ngày kế tiếp, và ngày sau lạnh hơn ngày trước. Một buổi sáng, Jacob và Parker ra đi rồi trở về với ba con chim và một con thỏ. Có trời mà biết được làm thế nào hai người nhìn ra các con vật trong thời tiết như thế này. Không phải là nhiều, nhưng hai người có động thái tốt, bởi vì người Na Uy có thêm các miệng ăn phải chăm lo.

Tôi bỏ thời giờ để ngồi cùng Francis, cho dù nó ngủ nhiều hoặc giả vờ ngủ. Tôi lo lắng cho nó; và lo cho vết thương ở đầu gối nó đang sưng lên và hẳn là gây đau. Per cho biết mình có ít kiến thức về y khoa, và nói xương không bị gãy, chỉ bị sai khớp, và chỉ cần thời gian để lành lại. Sau khi đã kiên nhẫn hỏi han - Francis không tự nói ra gì cả - tôi biết được đôi điều về chuyến đi của nó, và tôi lấy làm ngạc nhiên lạ lùng lẫn cảm động được biết nó đã đi được xa như thế. Tôi tự hỏi khi biết được thì Angus sẽ hãnh diện vì nó hay không. Trước khi tôi đến, có một phụ nữ tên Line chăm sóc cho nó, nhưng bây giờ tôi đảm nhận tất cả nghĩa vụ. Xem dường cô ấy không vui khi thấy tôi đến và muốn lánh mặt tôi, cho dù tôi thấy cô trò chuyện với Parker một cách mê mải trong nhà kho phía đối diện. Tôi không thể mường tượng ra hai người có chuyện gì mà trao đổi với nhau. Tôi phải thú nhận rằng có một ý nghĩ len lỏi vào đầu óc mình: dù sao chăng nữa, cô ấy chỉ là một phụ nữ không chồng, cho dù đấy không phải do lỗi của cô. Và phải công nhận là cô trông khá đẹp theo hình thức da ngăm ngăm của người nước ngoài. Khi được giới thiệu với nhau, cô chào tôi với ánh mắt kém thân thiện. Tôi cảm ơn cô đã chăm sóc tốt cho Francis, và cô thoái thác, bằng tiếng Anh sõi, nhưng với vẻ sưng sỉa mà tôi không hiểu được. Rồi tôi nhận ra rằng khi đến đây, tôi đã chiếm lấy vị trí của cô và đẩy cô trở lại công việc thường ngày mà cô bị các phụ nữ có chồng sai khiến, có lẽ vì cô ở góa. Francis nói cô rất tử tế, và nói nó mến cô.

Moody - hoặc Jacob thì thường xuyên hơn - ngồi canh bên ngoài cánh cửa, như thể họ chờ cho tôi kêu thét là Francis đang tấn công tôi, rồi họ sẽ xông vào mà cứu sống tôi. Tôi đã có cái nhìn khác đối với anh Moody. Ở Sông Dove, anh xem dường tử tế và rụt rè, một người thực thi pháp luật bất đắc dĩ. Ở đây, anh lộ vẻ thiếu kiên nhẫn và nóng nảy. Anh đã nhận lấy bộ áo quyền lực và khoác lên người mà không có vẻ biết điều. Tôi đã yêu cầu nói chuyện với anh trong riêng tư. Anh luôn từ chối, viện cớ đang bận bịu với nhiều nhiệm vụ cấp bách. Nhưng sau hai ngày tuyết rơi không dứt, ai cũng biết anh chỉ chờ đợi chứ không có việc gì làm, và tôi có thể nhận ra điều này trong mắt anh khi anh cố đưa ra lời giải thích khác.

“Được rồi, Bà Ross. Chúng ta nên đi đến... à, phòng tôi.”

Tôi đi theo anh dọc hành lang, và người phụ nữ tên Line đang đi ngang qua chúng tôi, ném ánh mắt xấu xa về phía Moody.

Phòng của Moody cũng có không khí chủng viện như phòng của tôi, chỉ có điều vật dụng của anh nằm la liệt trên bàn ghế và sàn nhà, trông như vừa có kẻ trộm lẻn vào. Anh vơ lấy quần áo của mình trên các chiếc ghế rồi vứt lên mặt giường. Khi ngồi xuống, tôi nhìn thấy trên mặt bàn bên cạnh mình một phong thư đề người nhận là Cô S. Knox. Tôi thấy thú vị về điều này. Tôi chắc chắn anh không cố ý cho tôi xem; và một lúc sau điều này được xác nhận khi anh quơ các món trên mặt bàn lại thành một đống lộn xộn. Anh tất bật với các món bừa bộn một lúc, và tôi nhận ra rằng trong những tình huống khác thì mình có thể cảm thông với anh. Anh chỉ lớn hơn Francis vài tuổi, cô đơn, và chỉ mới đến đất nước này không lâu.

Anh hắng giọng vài lần, trước khi mở lời: “Bà Ross, tôi hoàn toàn hiểu được bà quan ngại về Francis. Đó là lẽ tự nhiên, vì bà là mẹ nên mới cảm thấy như vậy.”

“Và cũng là lẽ tự nhiên mà anh phải tìm ra thủ phạm của tội ác kinh khiếp này.” Tôi nói một cách nhẹ nhàng, nhưng vẻ mặt của anh biến thành tức tối phiền hà. “Francis cũng muốn tìm ra kẻ chịu trách nhiệm, như nó đã kể cho anh nghe.”

Moody kiềm chế thái độ để ra vẻ kiên nhẫn và chịu đựng trong hoàn cảnh thử thách: “Bà Ross, tôi không thể nói cho bà biết tất cả lý do của tôi để cho rằng con trai bà là nghi phạm, nhưng những lý do này là rất bức xúc. Bà phải tin tôi.”

“Tôi vẫn nghĩ rằng, đối với tất cả những người khác thì tôi không nói đến, nhưng với

tôi

anh nên cho biết những lý do ấy là gì.”

“Bà Ross, đây là việc của công lý. Có những lý do chính đáng cho hành động của tôi. Giết người là tội ác rất nghiêm trọng.”

Tôi nói: “Các dấu chân. Dấu vết kia. Chuyện này thì sao?”

Anh thở dài: “Một sự trùng hợp. Dấu vết mà kẻ... con trai bà đi theo để tìm một nơi an toàn.”

“Hoặc là dấu vết của kẻ giết người.”

“Tôi hoàn toàn hiểu bà muốn tôi tin con trai bà vô tội. Đó là lẽ tự nhiên và đúng lý. Nhưng anh ấy bỏ trốn khỏi Sông Dove với số tiền của nạn nhân để dõi theo kẻ giết người, và rồi khai gian về việc này. Các sự kiện đều quy về một kết luận. Tôi sẽ bị kết tội bỏ bê nhiệm vụ của mình nếu không có động thái đối với việc này.”

Tôi nín thở trong một khoảnh khắc, cố gắng không lộ vẻ ngạc nhiên. Francis đã không kể cho tôi nghe về khoản tiền nào bị mất cắp.

“Nếu không theo đuổi những điều khả dĩ khác thì chắc chắn cũng là bỏ bê nhiệm vụ. Dấu vết đó có thể là của kẻ giết người; hoặc có thể không phải. Làm thế nào anh biết được nếu anh không lần theo nó?”

Moody thở dài qua đường mũi, rồi đưa tay xoa hai sống mũi nơi gọng kính đè xuống thành hai lõm màu đỏ. Anh không muốn làm bất kỳ việc gì liên quan đến dấu vết kia.

“Trong những điều kiện hiện nay, nhiệm vụ của tôi là đưa nghi phạm đến nơi chắc chắn. Việc điều tra thêm sẽ phải chờ cho đến khi thời tiết được thuận lợi.”

Xem dường anh tỏ ra hài lòng về câu phát biểu của mình, sau khi đã đặt gánh nặng lên nhiệm vụ của mình thay vì lên chính cá nhân mình. Thậm chí anh còn nở một nụ cười nhẹ, như thể lấy làm tiếc đã để sự việc vuột khỏi tầm tay của mình. Tôi cũng mỉm cười vì sự việc tiến triển theo cách như thế, nhưng tôi không còn cảm thông với anh cho dù anh cô đơn hay không.

“Anh Moody, đấy không phải là lý do chính đáng. Chúng ta phải theo dõi dấu vết ấy, bởi vì khi thời tiết được thuận lợi - như cách anh nói - thì không còn gì để theo dõi nữa, trong khi nhiệm vụ của anh là phải tìm ra sự thật chứ không phải là việc gì khác. Anh có thể để Francis cho những người ở đây trông nom, hoặc nếu anh không tin tưởng họ thì để người đồng nghiệp của anh trông chừng nó. Parker sẽ dõi theo dấu vết, rồi anh và tôi sẽ biết nó dẫn đến đâu.”

Moody lộ vẻ kinh ngạc và tức giận: “Bà Ross à, bà không có quyền bảo tôi phải làm nhiệm vụ của tôi như thế nào.”

“Mọi người đều có quyền chỉ ra tình trạng bỏ bê nhiệm vụ trong một vụ việc quan trọng như thế này.”

Anh trừng trừng nhìn tôi, ngạc nhiên vì phải nghe ngôn từ như thế. Tôi đoán hẳn mình đã chạm phải vấn đề cân não; có lẽ anh đã nghĩ đến dấu vết kia và nó làm cho anh lo lắng. Tôi nghĩ anh có một đầu óc quy củ, và những dấu chân dẫn ra vùng hoang dã ấy là chuyện tồn đọng gây rối rắm cho anh.

“Dù sao chăng nữa, nếu anh đúng...” Tôi thấy khó mà đồng lòng khi nói lời này. “Nếu anh đúng, anh sẽ biết rằng anh đã loại bỏ tất cả điều khả dĩ, rồi lương tâm anh sẽ thanh thản. Mặt khác, nếu vụ việc được đưa ra trước phiên tòa, sự hiện hữu của dấu vết và khả năng nó dẫn đến... à, ít nhất nó sẽ khiến cho kết luận của anh bị chất vấn, có phải thế không?”

Moody nhìn tôi chăm bẳm, rồi hướng đôi mắt ra ngoài khung cửa sổ. Ngay cả ở đấy, có vẻ như anh vẫn không tìm ra câu trả lời.

Khi tôi hỏi Francis về khoản tiền, nó từ chối trả lời. Nó thở hắt, ngụ ý rằng câu trả lời là hiển nhiên và tôi đã ngu xuẩn mà không thấy ra. Tôi nhận thấy nó tỏ ra bực bội như từ trước đến giờ.

“Mẹ cố giúp con. Nhưng mẹ không giúp được nếu con không nói cho mẹ biết đã xảy ra chuyện gì. Moody cứ cho rằng con ăn cắp khoản tiền đó.”

Francis nhìn lên trần nhà, nhìn đến các bức tường, bất kỳ thứ gì ngoại trừ đôi mắt tôi: “Con ăn cắp.”

“Gì cơ? Tại sao thế?”

“Bởi vì con cần tiền nếu đi xa. Con có thể cần sự giúp đỡ để tìm ra kẻ giết người. Con có thể phải chi trả cho việc này.”

“Con có sự giúp đỡ ở nhà. Tiền có ở nhà. Tại sao con không dùng?”

“Con đã nói là con không thể quay về nhà.”

“Nhưng... dấu vết không biến mất nhanh như thế.”

“Thế là mẹ cũng nghĩ đấy chính là con, phải không?”

Nó đang mỉm cười, vẫn nụ cười chua xót như trước đây.

“Không... dĩ nhiên là mẹ không nghĩ thế. Nhưng - mẹ ước gì con nói cho mẹ biết tại sao con có mặt ở đấy vào lúc nửa đêm.”

Francis mím môi lại. Một hồi nó không nói gì, đủ lâu cho tôi nghĩ mình sẽ bỏ cuộc và đi ra ngoài.

“Laurent Jammet...” nó ngập ngừng, “… là người duy nhất mà con có thể trò chuyện. Bây giờ không còn ai nữa. Con không màng nếu con không bao giờ trở về.”

Sau một chốc, tôi nhận ra mình đã ngừng thở. Tôi tự nhủ nó chỉ nói thế mà không suy nghĩ, hoặc nó cố tình làm cho tôi đau khổ. Francis vẫn luôn làm cho tôi đau khổ hơn là bất cứ ai khác.

“Mẹ tiếc con đã mất một người bạn. Lại còn trong tình huống như thế. Mẹ ước chừng sẽ cho bất kỳ thứ gì để con không trông thấy cảnh ấy.”

Cơn giận dữ của nó ập đến tôi, cơn giận dữ của trẻ nít đến mức suýt rơi lệ: “Mẹ chỉ có thể nói thế thôi sao? Mẹ ước con không thấy hở? Có hề gì không? Tại sao không ai nghĩ đến Laurent? Anh ấy là người bị giết. Tại sao mẹ chẳng ước anh ấy không bị giết?”

Nó buông người trở lại trên chiếc gối, đôi mắt ráo hoảnh, và cơn giận dữ nguội đi, cũng thình lình như khi bùng phát.

“Mẹ xin lỗi, con yêu ạ. Mẹ xin lỗi. Dĩ nhiên là mẹ ước thế. Không ai phải chết như thế. Anh ấy là người tử tế. Có vẻ như anh ấy... yêu mến cuộc sống.”

Tôi tự nhắc nhở mình rằng tôi biết anh ấy rất ít, nhưng lời nói ấy xem ra là điều chắc chắn. Tuy thế, nếu tôi nghĩ mình đang an ủi Francis hoặc nói điều mà nó muốn nghe, thì tôi lại lầm, như bao lần tôi đã lầm.

Giọng của nó thì thầm: “Anh ấy không phải là người tử tế. Anh ấy chai lì. Anh ấy thích tìm ra điểm yếu của người và lấy đó để đùa cợt. Bất kỳ chuyện gì cho người khác cười theo, không cần biết đó là chuyện gì. Anh ấy không màng.”

Tôi không theo kịp câu chuyện quay ngoắt này. Bỗng dưng tôi lo sợ kinh khiếp rằng Francis sắp thú nhận với tôi chuyện gì đấy. Tôi vuốt trán nó và nói “suỵt”, như thể nó vẫn còn là một đứa bé, nhưng tôi không biết mình nghĩ gì. Vì thế tôi nói vẩn vơ, nói bất kỳ điều gì, chỉ mong Francis đừng mở miệng mà nói ra điều gì khiến cho tôi sẽ hối tiếc.

Parker đang ở trong nhà kho cùng với Jacob và một người Na Uy. Có lẽ họ đã tách khỏi bi kịch đang diễn ra bên kia khoảnh sân, và đang bàn về một chứng bệnh vẩy nến

[35]

nào đó, theo cách tôi nghe lõm bõm. Tôi cảm thấy bối rối mà yêu cầu trao đổi một mình với Parker, khi bây giờ chúng tôi đã trở về với xã hội văn minh. Tôi thoáng nhìn thấy người Na Uy nhìn tôi với vẻ dò xét, mà tôi biết chắc là họ dò xét về tình trạng hôn nhân của tôi và việc tôi chọn người đồng hành kỳ lạ này. Trong bóng tối của nhà kho, tôi nhớ lại kho chứa hàng lạnh lẽo tối tăm. Xem dường đấy là đã lâu lắm rồi.

Tôi nói với Parker: “Anh Moody không quan tâm đến việc theo dõi dấu vết kia. Hai chúng ta có thể sẽ phải đi theo dõi.”

“Đây là việc rất khó. Tốt hơn là bà nên lưu lại đây với con trai bà.”

“Nhưng, phải cần đến... nhân chứng.”

Tôi nghĩ mình đã nói ra một cách cẩn trọng - mà không nói thẳng là tôi không tin tưởng ông, nhưng dù sao ông không tỏ vẻ bị xúc phạm.

“Bà không biết tôi sẽ trở về hay không.”

“Phải cho Moody thấy... bất cứ cái gì ta tìm ra. Nếu ta chỉ có thể dẫn Francis…”

Parker nhún vai: “Nếu con trai bà là kẻ giết người, anh ấy sẽ muốn đổ tội cho ai đó. Moody sẽ không chấp nhận việc này.”

Tôi biết Parker nói đúng. Lần đầu tiên, tôi nhận ra nỗi vô vọng, nhận ra sự mệt mỏi cùng cực. Tôi đã cố gắng leo lên một quãng dốc trơn trượt, và đã leo được. Bây giờ mặt đất đang bắt đầu chuồi đi dưới chân tôi, và tôi không biết phải làm gì. Tôi không biết rằng mình có thể trông mong Parker giúp tôi. Tôi không biết tại sao ông phải giúp tôi. Nhìn vào mắt ông, tôi không thấy vẻ trắc ẩn nào - không có vẻ gì mà tôi nhận ra được. Tuy nhiên, nếu có thể van xin thì tôi vẫn sẵn lòng van xin. Hoặc thêm nhiều việc khác nữa.

“Ông phải dẫn tôi đi. Tôi phải tìm ra bằng chứng là nó vô tội. Không ai khác quan tâm họ bắt được ai miễn là bắt được ai đấy. Tôi van ông.”

“Nhưng nếu không tìm ra được gì thì sao? Bà đã nghĩ đến việc này chưa?”

Tôi đã nghĩ đến việc này, nhưng không có câu trả lời. Tôi chăm chăm nhìn khuôn mặt dửng dưng của ông, nhìn đôi mắt mà không thấy rõ tròng đen và đồng tử mà chỉ thấy toàn vẻ đen tối, và cảm thấy ớn lạnh khắp cả người.

***

Không có loại rượu nào làm cho say ở Cánh đồng của Thiên đường. Người được chọn lên Thiên đường không cần đến chất kích thích nhân tạo hoặc con đường đi đến quên lãng. Lúc nào họ cũng luôn hạnh phúc và thanh thản. Sau khi bị Bà Ross thuyết giảng, Donald suy tính mình sẽ cho cái gì để đổi lấy thứ rượu rum kinh tởm mà người ta nốc ở Pháo đài Edgar. Mùa đông là mùa chè chén, giúp làm dịu đi những đêm dài vô tận khi mà sự ấm cúng chỉ là hồi ức xa xôi. Chè chén giúp con người ta chịu đựng được mấy chuyện giễu cợt kinh khủng mà các đồng nghiệp cứ kể đi kể lại. Chè chén cũng giúp chịu đựng được các đồng nghiệp. Donald có phân nửa lọ bẹt

[36]

đựng whisky mà anh đã thề sẽ để dành cho chuyến trở về, nhưng bây giờ lại đang thèm một cách nhức nhối. Anh có cảm tưởng là mình sẽ không trở về sớm.

Tuyết đã biến thành mưa. Trời đã ấm lên và các bông tuyết trở nặng vì hơi nước, không còn lơ lửng mà rơi thẳng xuống. Lớp tuyết trên mặt đất cũng đã thay đổi: từ nhẹ và xốp như chăn bông, bây giờ nhão nhoẹt. Từng dúm tuyết mang nặng hơi nước trượt dài trên mái nhà đối diện với cửa sổ của Donald, rồi rơi xuống đất với một âm thanh nặng nề. Các mái nhà dần dần lộ ra những mầu sắc mờ đục - màu đỏ của gỉ sắt, màu xanh của kim loại. Nước liên tục nhỏ giọt từ các mái hiên. Người ta không thể trốn lánh khỏi các âm thanh; nhẹ nhàng nhưng không dứt, cũng như không thể trốn lánh khỏi lương tâm.

Donald nhìn thấy ông Parker, người bản địa, bên kia khoảnh sân. Ông ta có vẻ như đang thu dọn đồ đạc, sẵn sàng để ra đi. Trong thâm tâm Donald biết rõ mình nên đi với Parker và người phụ nữ. Để đảm bảo là không có cái gì hết trong câu chuyện này. Anh không rõ đấy có phải do lòng quả cảm hay không; ý nghĩ phải đi qua vùng bình nguyên kinh khiếp làm cho anh thấy hãi hùng. Mặt khác, nếu anh dẫn anh con trai kia về như là nghi phạm và rồi kết quả là anh nhầm lẫn, thì anh sẽ bị khiển trách, lên án, và bị xầm xì to nhỏ trong các phòng chè chén. Cái tội bỏ bê nhiệm vụ là không ổn cho sự nghiệp của anh. Khi đến lúc phải chọn lựa giữa vùng hoang dã và nỗi nhục nhã trong nghề nghiệp thì anh biết đằng nào đáng sợ hơn.

Parker nói với anh là đi từ đây đến thương điếm kia mất không đến sáu ngày đường - nếu thời tiết cho phép. Donald nghĩ đây là cơ hội để mình quen biết thêm quản trị viên ở đó - có lẽ là một người giúp cho anh thăng tiến. Anh bảo Jacob phải ở lại để canh giữ anh con trai. Trong lúc này, tù nhân sẽ được an toàn ở đây.

Jacob trông có vẻ rất nghiêm trọng: “Tôi xin lỗi, nhưng để cho tôi đi với họ thì hay hơn. Cuộc hành trình sẽ khó khăn. Tôi biết phải tìm kiếm cái gì.”

Donald không muốn gì khác hơn là ở lại Himmelvanger trong khi Jacob lặn lội qua bùn nhão và tuyết để đi đến nơi chốn khốn khổ kia, nhưng như vậy là không ổn chút nào.

“Jacob à, cám ơn anh, nhưng tôi phải đi và quyết định phải làm gì. Và phải có người ở lại đây.” Anh mỉm cười với Jacob, và anh này nhìn lại với dáng vẻ nghiêm trọng.

“Nếu tôi đi với anh thì tốt hơn. Tôi có thể... chăm sóc cho anh.”

Donald mỉm cười, cảm động và lòng trung kiên của Jacob. Cũng vì cách anh này ra vẻ như xem anh như là một đứa trẻ không tự lo cho mình được.

“Không cần đâu. Dù sao thì Parker vẫn phải trở về đây, để đưa Bà Ross về nhà. Cũng là điều thú vị khi đi xem một thương điếm khác của Công ty.”

Anh cố giữ thái độ vui vẻ hơn là anh nghĩ trong đầu. Anh vẫn lo lắng, có phần kinh sợ, về viễn cảnh của vùng hoang dã lạnh lẽo phía trước.

Jacob có vẻ suy tư, như thể dằn vặt với chính mình: “Nhưng anh biết không... tôi có một giấc mơ. Anh có thể nghĩ đó là ngớ ngẩn, nhưng nghe này: tôi mơ thấy anh tự đi một mình. Có mối hiểm nguy. Tôi nghĩ tôi phải đi với anh.”

Donald cố trấn áp cơn dao động trong lòng, và cất tiếng cao hơn, để xua tan ý nghĩ dị đoan trong Jacob và trong anh. Chuyện lố bịch của người bản địa - anh đã không nghĩ Jacob lại làm mồi cho những huyễn tưởng đó.

“Tôi không lấy làm lạ anh đã mộng mị vì thứ phó mát từ sữa dê chết tiệt ăn ở đây: đủ cho bất kỳ ai cũng thấy ác mộng!”

Jacob không cười theo anh. Anh này biết mình đã bị quở trách.

“Quan trọng là cần để mắt đến anh con trai. Anh ta có thể... nói ra điều gì đó quan trọng. Anh phải cố tỏ ra thân thiết với nó.”

Jacob lộ vẻ nghi ngại, nhưng vẫn gật đầu.

“Nhờ anh đi bảo Ông Parker là tôi sẽ đi theo họ, nhé!”

Sau khi Jacob đã đi, bỗng dưng Donald có sự thôi thúc kêu với theo, để nói lên lòng biết ơn tha thiết đội với mối quan ngại - cho dù sai lạc - và tình bạn. Ở đây, Jacob là người duy nhất quan tâm đến bất cứ chuyện gì xảy đến cho anh. Rồi anh không muốn cất tiếng; anh đã là người đàn ông trưởng thành. Anh không muốn có một gia nhân người bản địa để chăm sóc mình, ngay cả người ấy là Jacob.

Donald hồi tưởng lại những thay đổi diễn ra trong mối quan hệ giữa hai người. Sau chuyến đi đến Sông Dove và hậu quả rùng rợn, đã nảy ra tình thân thiết mà đáng lẽ anh phải lấy làm trân quý hơn là mình nhận ra được, bởi lẽ bây giờ anh cảm thấy tiếc. Donald cho rằng như thế là vì bây giờ anh là sếp, trong khi lúc trước Mackinley chỉ khinh rẻ cả hai người, và cả hai (hoặc ít nhất là Donald) khinh rẻ lại ông ta theo cách tế nhị hơn. Bây giờ anh nhìn Mackinley qua một lăng kính khác, với sự thông hiểu tốt hơn về những điều phức tạp trong việc chỉ huy. Cha anh luôn nói với anh rằng cuộc đời không phải là chuyến đi chơi dã ngoại, tức là chẳng có gì để vui thú hết. Lúc còn nhỏ, anh thường nghĩ đó là ý nghĩ lạ kỳ, quá đáng, nhưng bây giờ lời lẽ của ông là đúng lý. Muốn trưởng thành thì phải đón nhận những thử thách vô định chực chờ, phải tránh né tình bạn để đổi lấy trách nhiệm. Đôi lúc bạn phải từ chối tình thương mến để được tôn trọng. Và có một điều nào khác xảy đến với anh: điều nào đó cùng hòa điệu với ý nghĩ của anh về Susannah. Vì chỉ khi được tôn trọng thì người đàn ông mới có thể nhận được tình yêu, bởi vì đối với một phụ nữ, tình yêu phải có yếu tố kính trọng.

Anh xem qua những lá thư của mình: anh nghĩ đó là những lá thư tình, tuy không chứa đựng bản chất tình cảm gì nhiều. Rõ ràng là thế, tuy là một ngày nào đó, ai biết được... Có bốn lá thư, được xếp lại thẳng thắn, đã ghi địa chỉ người nhận, mà anh sẽ trao cho Per để gửi đi Sông Dove khi thời tiết cho phép. Anh lấy làm vui về các lá thư này, mà anh đã chép lại trong phòng mình, thêm thắt với câu từ lạc điệu của thứ triết lý nhùng nhằng khiến cho anh phải mất cả hai buổi tối, không dám uống rượu. Anh hình dung ra Susannah đọc các lá thư rồi cho vào chiếc túi, hoặc gói trong một chiếc khăn tay ướp nước hoa (chiếc khăn anh đã tặng cho cô?) để trong ngăn kéo.

Với một đợt tình cảm dâng trào, anh cố mường tượng khuôn mặt cô đúng vào lúc cô mỉm cười với anh trong phòng đọc sách, nhưng lại kinh hoàng mà thấy rằng không thể gắn chặt hình ảnh cô trong tâm trí mình. Anh có ấn tượng lãng đãng về nụ cười của cô, mái tóc nâu mềm dịu của cô, làn da trắng, đôi mắt màu hạt dẻ, nhưng các hình ảnh cứ xao động và mờ nhạt, không hòa nhập nhau thành một hình người trọn vẹn. Không hiểu sao mà anh có thể nhớ lại khuôn mặt của cô chị Maria, và của người cha, đều sắc nét tuyệt đối trong không gian ba chiều, nhưng hình bóng của Susannah thì cứ vượt khỏi tầm với của anh.

Anh ngồi viết ít dòng cho cô để kể cho cô về chuyến đi sắp tới của mình. Anh bị giằng co giữa ý tưởng một bên là làm cho chuyến đi nghe như nguy hiểm và can trường, và bên kia là không muốn cô lo lắng quá đáng nếu cô đọc lá thư trước khi anh quay về. Cuối cùng, anh viết với ngôn từ nhẹ nhàng, nói có lẽ mình sẽ trở về Caulfield trong khoảng ba tuần, và đó sẽ là cơ hội tốt để làm đại diện cho Công ty và gặp gỡ một quản trị viên khác, trong khi tâm tư anh sẽ thanh thản về việc Francis có tội hay không. Anh gửi cô những lời chúc tốt đẹp nhất, và rồi thêm đoạn cuối khiến cho anh hơi ngạc nhiên với chính mình, anh gửi lời hỏi thăm nồng nàn đến chị cô. Trong một lúc, anh đăm đăm nhìn vào tờ giấy, tự hỏi như thế là kỳ quặc hay không, nhưng anh không có thời giờ chép lại cả lá thư, nên anh cho vào phong bì, dán lại rồi đặt chung với các lá thư kia.

***

Bây giờ là mười giờ tối thứ Năm, ba tuần từ khi phát hiện thi thể của Laurent Jammet. Maria đăm đăm nhìn qua khung cửa sổ của phòng đọc sách, tuy rằng không có gì để nhìn. Cô có thể nhận ra những luồng mưa đâm xuống bãi bùn nơi đáng lẽ là khu vườn hoa cảnh, nhưng bây giờ trông như chuồng bò. Phía xa hơn, chỉ có bóng tối xáo động, nơi các làn nước thỉnh thoảng bị thổi dạt hướng này hướng nọ, bắt lấy ánh sáng không ai biết chiếu đến từ đâu.

Bên trong ngôi nhà, quang cảnh không khá hơn bao nhiêu. Sau mấy sự kiện diễn ra vào buổi chiều, Bà Knox nằm thiêm thiếp trên giường do ảnh hưởng của loại thuốc gì đó mà Bác sĩ Gray cho bà dùng một tiếng đồng hồ trước. Bà không tỏ vẻ đau khổ nhiều như Maria đã nghĩ, nhưng vị bác sĩ đã có sức thuyết phục khi nói đến mối hiểm nguy của cơn sốc đến chậm, nên Maria khuyên bà phải nuốt loại thuốc nước đó. Susannah lộ vẻ đau đớn hơn, nhưng tính cách Susannah là thế - một cơn giông bão ập đến bất chợt rồi sau đó là trời quang mây tạnh. Tuy thế, tình hình vẫn còn nổi gió, cho dù ở dưới này Maria không nghe được gì cả. Ngôi nhà yên ắng như là tang tóc.

Sau khi tranh cãi diễn ra - rất nhiều tranh cãi, khi các bậc trưởng thượng trong thị trấn không đạt đồng thuận chưa hề có tiền lệ, cha cô bị bắt giam vì tội làm sai lạc quy trình của công lý. Bởi vì, dù sao chăng nữa ông là quan tòa được giả định của cộng đồng này chứ không phải người mang hai dòng máu lại lôi thôi lếch thếch, nên ông không bị giam trong kho chứa hàng, mà người ta quyết định đưa ông vào nhà của John Scott. Có nghĩa là ông bị giam trong một căn phòng kế bên phòng của Ông Sturrock, và các bữa ăn được mang đến cho ông. Phòng ông rất giống phòng của Ông Sturrock và tiền phòng cũng ngang bằng, nhưng cha của Maria không phải trả tiền cho đặc ân được cư ngụ ở đây.

Cùng với Ông Mackinley và Archie Spence, lúc năm giờ rưỡi chiều nay John Scott đến gõ cửa nhà ông Knox. Maria ra mở cửa, đưa họ vào phòng khách rồi đi tìm cha cô. Trong hai mươi phút, họ đóng cửa lại trao đổi với nhau, rồi cha cô đi ra để giải thích rằng, trên thực tế, ông sẽ bị bắt giữ. Ông nở nụ cười nhẹ, như thể đang đùa cợt với một chuyện vui cười. Trong khi vợ ông giận dữ phản kháng và Susannah khóc rấm rứt, Maria chỉ đứng mà không thể nghĩ ra phải nói gì. Mẹ cô xông vào phòng khách mà la lối với những người ở đây. Họ ngồi há hốc miệng và sợ hãi mà nghe bà miệt thị. Rõ ràng John Scott đã dao động tinh thần trong kế hoạch bắt cha cô ngay tại nhà, nhưng Mackinley vẫn kiên quyết, mắt và môi ông ta lộ nét vui mừng. Cha cô chấm dứt cuộc tranh cãi bằng cách nói rằng ông sẽ ở lại dọc con đường, chỉ đến khi vị quan tòa từ St Pierre được mời đến để phân xử. Ông hỏi - mà không có vẻ châm biếm - rằng họ có quy định khoản tiền bảo lãnh cho ông được tại ngoại hay không. Hiển nhiên là mấy người kia đã quên khuấy việc này. John Scott mở miệng nhưng không thốt ra được lời nào. Mackinley đằng hắng rồi nói họ sẽ xem xét, qua hôm sau sẽ đưa ra con số. Vấn đề là họ thực sự cần phải hỏi cha cô cách tiến hành thủ tục như thế nào.

Cuối cùng, Knox chấm dứt vụ việc khi yêu cầu họ ra về; ông nói đã đến giờ dùng bữa tối, và họ đang làm cho đầu bếp phải chờ đợi. Dĩ nhiên là ông đang nói đến Mary trong bếp, nhưng nghe ra như thể ông trách móc những người đến bắt mình khiến cho ông ăn muộn. Mackinley đã nhíu mày, cho dù có vẻ như cha cô không nhận ra. Maria nghĩ ông tỏ thái độ xuề xòa: đấy giống như là ông thấy vui vì bị bắt, như là họ đã sa vào chiếc bẫy do ông giăng ra. Ba người phụ nữ nhìn theo người chồng và người cha của họ đưa những người kia ra khỏi nhà, sau khi đã hỏi họ muốn mượn dù hoặc giày ủng cao su hay không. Mackinley và những người kia từ chối, dù lúc này tuyết đang rơi dày, dù trong nhà vẫn có dư các thứ cho họ mượn.

***

Sturrock lắng nghe những tiếng bước chân trên thang lầu. Ông đang nằm nghỉ trên giường, suy nghĩ về Bà Ross và về việc bà có đuổi kịp đứa con trai hay không, mà ông đinh ninh nó đã mang theo tấm thẻ bằng xương. Những sự kiện hỗn loạn trong mấy ngày vừa qua khiến cho ông nghĩ mình không nên lưu lại đây lâu hơn nữa. Bây giờ tuyết đã tan, có lẽ đã đến lúc ông nên trốn thoát. Nhưng dù có đi đâu thì ông lại rời xa hơn khỏi tấm thẻ mà ông khát khao, và chắc chắn họ sẽ dẫn anh con trai trở về đây khi tìm ra nó. Ông thở dài; chai whisky làm bạn với ông mấy ngày qua đã gần cạn. Đó là câu chuyện đời ông: tiến gần bất kỳ cái gì có giá trị trường cửu nhưng vẫn còn xa mục tiêu đạt được, hoặc không còn rượu để uống.

Đến đây, ông ngồi dậy và hiểu ra tiếng động ấy là gì: có lẽ là một người láng giềng, ông mở cửa phòng và thấy ông Mackinley và John Scott, cùng với một người mà ông không quen biết.

Scott bước đến ông, sau khi đã đóng lại cánh cửa của căn phòng đối diện: “À, Ông Sturrock. Tôi định đến để báo cho ông...”

“Một láng giềng mới phải không?” Sturrock hỏi với một nụ cười, điều khả dĩ cho một cuộc trao đổi hay ho là lý do của sự lạc quan.

“Không hẳn.” Sturrock nhận ra ánh mắt khinh miệt mà Mackinley ném đến phía sau đầu Scott. “Không, chúng tôi lâm vào tình thế bối rối của, à... phải giam giữ quan tòa, Ông Knox... và vì chúng tôi không thể giam ông ấy ở kho chứa hàng, hà hà, có vẻ như ngôi nhà này cũng tốt như bất cứ nơi nào khác, trong lúc này.”

Scott ngưng lại, một ít mồ hôi lấm tấm trên trán, ông này trông như đang khá căng thẳng, mặt đỏ hơn bao giờ hết.

Mackinley nói: “Ông Sturrock à, tôi mong chuyện này sẽ không làm phiền ông.”

Sturrock hỏi, hầu như vui vẻ: “Ý ông nói là ông giam Knox trong phòng kia phải không? Ông ấy đã làm cái quái gì vậy?”

Hai người nhìn nhau, như thể băn khoăn Sturrock có quyền biết thông tin này không.

“Hóa ra việc tù nhân trốn thoát không phải là tai nạn. Knox phóng thích ông ta, vì thế ngăn chặn guồng máy của công lý.”

Sturrock nhận ra cặp lông mày của mình vẫn đang cố vươn cao trên vầng trán: “Trời đất, ông ấy điên hay sao?”

Thình lình ông nghĩ ra rằng Knox đang lắng nghe từng lời - vì ông này không có chuyện gì khác để làm. “Ý tôi nói, đấy là một chuyện khác thường.”

“Khác thường, đúng vậy.”

Mackinley quay mặt đi, và Sturrock cảm thấy có ác cảm.

“À... à.”

“Đúng vậy.”

Scott nói với giọng trò chuyện bình thường: “Ông Sturrock à, bữa ăn tối sắp sẵn sàng.”

“À, cảm ơn. Cảm ơn.”

Mackinley ra dấu cho những người kia đi xuống thang lầu, để lại Sturrock nhìn trân trối cánh cửa đã bị khóa. Khi tiếng bước chân nhỏ dần, ông thì thầm kêu: “Ông Knox? Ông Knox?”

“Ông Sturrock, tôi nghe ông.”

“Đúng vậy không?”

“Đúng vậy.”

“À... ông ổn chứ?”

“Khá thoải mái, cảm ơn ông. Bây giờ tôi đi nghỉ đây.”

“À, chúc ngủ ngon. Cứ kêu tôi nếu ông... à, nếu ông muốn nói chuyện với ai đó.”

Không có tiếng đáp trả nào thêm. Sturrock tự hỏi liệu nguồn thu nhập của mình đã cạn hay chưa.

Maria Knox bước vào khi Sturrock đang ngồi bên bếp lò ở tầng dưới vốn được dùng làm quầy rượu vào ban đêm. Mưa rơi nặng hạt đã vài tiếng đồng hồ; không còn tuyết trên đường, và cư dân của Caulfield đi trên bùn ngập đến mắt cá chân. Đêm đã khuya - ông không biết chính xác bây giờ là mấy giờ, nhưng đoán cô đến để gặp cha cô. Tuy nhiên, cô bước thẳng đến ông. Ông biết cô là ai tuy hai người chưa từng nói chuyện với nhau.

“Ông Sturrock phải không? Tôi là Maria Knox.”

Ông cúi đầu chào một cách trịnh trọng vì tôn trọng hoàn cảnh của cô. Vẻ trịnh trọng càng được nâng cao nhờ khoảng năm ly whisky ông đã uống, và nhờ những hồi ức ông đắm chìm vào trong một tiếng đồng hồ vừa qua.

“Tôi biết đã khuya, nhưng tôi mong được nói chuyện với ông.”

“Nói chuyện với tôi?” Ông lại cúi đầu - thật sự là thế, ông hẳn đã khá say - tuy ông vẫn ra vẻ nịnh đầm: “Đây là vinh hạnh mà tôi không đáng có.”

Mặc dù không có ai chung quanh nghe lỏm, cô nói với giọng nhỏ nhẹ: “Không cần phải tâng bốc. Tôi muốn nói chuyện với một người nào đó... à, ông không phải là người trong chúng tôi, và dường như cả thị trấn đã nổi điên rồi.”

“Ý cô muốn nói... tình trạng khó khăn của cha cô.”

Cô nhìn ông, xem dường vừa bực tức vừa tính toán: “Tôi không biết mình đang làm gì ở đây. Tôi nghĩ đó là vì Ông Moody, nhân viên Công ty, đã nói về ông, và xem dường đã có ấn tượng tốt, mặc cho... mọi chuyện khác. Có trời mà biết tôi mong gì...”

Rượu làm cho ông chậm suy nghĩ. Rồi ông nhận ra rằng cô suýt bật khóc, và nỗi bực tức là với chính cô.

“Tôi không biết nói chuyện được với ai khác. Tôi đang lo lắng, thật sự lo lắng. Ông Sturrock à, ông là người có kinh nghiệm, ông sẽ làm gì trong hoàn cảnh của tôi?”

“Về việc cha cô phải không? Cô có thể làm việc gì khác được ngoài sự chờ đợi? Tôi biết họ sẽ mời vị quan tòa ở St. Pierre vào sáng mai, hoặc khi đường đi được.”

“Ông nghĩ đường lúc này không đi được sao?”

“Trong thời tiết như thế này à? Tôi không tin là đi được.”

“Tôi đang nghĩ tôi sẽ đi tối nay, để tới đó trước. Không biết được họ sẽ nói những gì về cha tôi.”

“Cô gái thân yêu… chắc cô không có ý đó. Cố đi tối nay, trong cơn mưa này... là điên khùng. Cha cô sẽ kinh hãi. Đó sẽ là điều tồi tệ nhất mà cô gây ra cho ông ấy.”

“Ông nghĩ vậy sao? Có lẽ ông đúng. Dù sao đi nữa, sự thực là tôi quá nhát gan nên không dám đi một mình. Ôi, Trời!” Cô giấu mặt trong lòng bàn tay dù chỉ trong một giây. Cô không rơi lệ. Sturrock cảm thấy ngưỡng mộ cô, rồi kêu một ly rượu cho ông, và một ly cho cô.

“Ông biết

Monsieur

Jammet, phải không? Ông nghĩ chuyện gì xảy ra với anh ấy?”

“Tôi không quen thân với anh ấy. Nhưng anh ấy là người có nhiều bí mật, và người có nhiều bí mật thì hẳn có nhiều kẻ thù hơn là người không có.”

“Ông đang nói cái quái gì vậy?”

“A-hem, chỉ là… à, tôi đến Caulfield - và tôi vẫn còn ở đây - bởi vì tôi muốn mua một vật mà Jammet sở hữu. Anh ấy biết việc này. Chỉ có điều vật này đã biến mất.”

“Bị mất cắp hả?”

“Có thể là vậy. Có lẽ bị Francis Ross lấy cắp. Vì thế tôi chờ cho anh ấy trở về.”

“Thế thì ông có nghĩ Francis giết anh ấy không?”

“Tôi không quen biết gì với anh ấy hết. Nên tôi không nói được.”

“Tôi đã... ý tôi nói là, tôi nghĩ.”

“Cô nghĩ gì?”

Maria lưỡng lự, nhìn vào ly rượu của cô - và ngạc nhiên thấy ly đã cạn: “Làm thế nào ông biết người ta làm được những gì? Trong quá khứ tôi đã từng nghĩ mình giỏi phán xét người khác, nhưng bây giờ mới thấy là sai.”

***

Vào buổi sáng, khi ba người kia chuẩn bị ra đi, Jacob bước vào đứng bên cạnh giường. Anh nói với Francis nhưng nhìn lên trần nhà: “Tôi nghĩ anh sẽ không đi đâu, nhưng nếu anh đi thì tôi sẽ dò tìm theo anh và đánh gãy cái chân kia. Anh hiểu không?”

Francis gật đầu, nghĩ đến vết thương do dao đâm mà Donald chỉ cho anh xem.

“Vì thế tôi không cần phải ngồi đây suốt ngày.”

Francis lắc đầu.

Vì thế, anh ngạc nhiên khi Jacob trở lại. Jacob đã tìm được một thanh gỗ trong nhà kho; thanh gỗ thẳng và chắc - thân của một cây duyên mộc nhỏ, có chiều dài vừa đủ. Anh bóc lớp vỏ thân cây, gọt đẽo mọi chỗ lồi, rồi mài nhẵn phần chĩa nhánh phía trên để làm thành hình chữ Y. Francis ngắm nhìn đôi tay anh với lòng ngưỡng mộ bất đắc dĩ; quả là kỳ lạ khi thấy thân cây có chất lượng của một cây nạng.

Jacob dùng mảnh chăn cũ để quấn lấy chung quanh phần phía trên: “Đáng lẽ tôi phải dùng da, nếu không phần này sẽ ngấm nước.”

“Ý anh nói là trong khi tôi chạy trốn.”

Ban đầu, khi Francis nói những điều thiếu suy nghĩ hoặc ngu xuẩn mà không màng anh kia nghĩ gì về mình, thì Jacob không rõ anh nói đùa hay không, mà chỉ liếc nhìn với vẻ nghi ngờ. Nhưng bây giờ, Jacob mỉm cười. Francis nghĩ anh này không lớn tuổi hơn mình bao nhiêu.

Francis nghĩ cả hai người sẽ được nhẹ nhõm vì cái anh Moody hay căng thẳng và lo âu sẽ ra đi. Và chính anh càng được nhẹ nhõm thêm, tuy anh thấy mình có lỗi khi nhìn nhận, vì bà mẹ cũng đi. Mỗi khi bà ngồi trong phòng là có sức nặng của ngôn từ không nói ra giữa hai người khiến cho anh thấy khó thở. Nói ra hết mọi điều thì sẽ mất nhiều năm.

Trước khi ra đi, mẹ anh bước vào phòng anh và nhìn qua Jacob; anh này đứng dậy đi ra ngoài mà không nói một lời.

Bà ngồi bên giường anh, khoanh hai tay lại: “Đoàn của mẹ sẽ ra đi. Đoàn của mẹ sẽ đi theo dấu vết mà con đã đi theo - Ông Parker biết nó dẫn đến đâu. Tiếc là con không đi được, phòng khi tìm ra người ấy, nhưng... ít nhất đoàn có thể tìm ra.”

Francis gật đầu. Nét mặt của bà trông nghiêm nghị và quyết đoán nhưng lộ vẻ mệt mỏi; những đường hằn chung quanh mắt bà càng sâu hơn bao giờ. Lòng anh dâng lên niềm biết ơn đối với bà, vì đang làm thay anh việc anh định làm trong khi bà rất sợ vùng hoang dã.

“Cảm ơn mẹ. Mẹ phải can đảm lắm mới làm được việc này.”

Bà xoắn lấy đôi vai anh, như thể vì bực mình. Nhưng bà không bực; bà vui. Bà vuốt má anh, các ngón tay chạy vòng quanh cằm anh. Một người nào khác đôi lúc đã có cử chỉ rất giống như thế. Francis cố không nghĩ về điều này.

“Đừng có ngốc. Mẹ sẽ đi với Parker và Moody; không có gì phải can đảm.”

Hai mẹ con cùng nở nụ cười ngượng ngập, hiu hắt. Francis cố kiềm chế nỗi khát khao kể cho bà nghe sự thật. Nói ra với ai đó sẽ được nhẹ nhàng, để trút đi gánh nặng. Nhưng ngay cả trong thời khắc anh cho phép mình tưởng tượng, anh biết mình không thể nói được gì.

Rồi bà nói, khiến cho anh ngạc nhiên: “Con biết mẹ thương con, phải không?”

Francis cảm thấy lúng túng. Anh gật đầu, lẩn tránh ánh mắt bà, vì lý do nào không rõ.

“Cha con cũng thương con.”

Francis nghĩ: “Không, ông ấy không thương con; mẹ không biết ông ấy ghét con như thế nào.” Nhưng anh không nói gì.

“Có chuyện gì khác con có thể nói với mẹ không?”

Francis thở dài. Quả là có nhiều chuyện bà không biết.

“Ông Moody nghĩ tấm thẻ bằng xương có thể là quan trọng. Nếu nó có giá, nó có thể là... nguyên do. Con muốn mẹ giữ nó không?”

Francis không muốn rời xa nó, nhưng không thể nghĩ đến lý do chính đáng nào để từ chối, nên anh trao cho bà chiếc túi da với tấm thẻ đựng bên trong. Bà lấy tấm thẻ ra, ngắm nghía. Bà đã đọc nhiều và biết nhiều, nhưng bà nhìn chăm chăm các dấu hiệu nhỏ có góc cạnh, nhíu mày tỏ vẻ không hiểu.

Anh ấp úng: “Mẹ cẩn thận với nó.”

Bà nhìn anh: bà là người luôn cẩn thận với mọi vật.

***

Mùa hè năm rồi, trước khi trường học nghỉ hè, khá sớm để các cậu con trai phụ giúp cha đang thiếu người giúp việc, một chuyện không có tiền lệ đã xảy đến với anh. Không hề suy nghĩ nhiều về những chuyện như thế này, cũng như mọi cậu bé trong vòng bán kính mười dặm, Francis đã phải lòng Susannah Knox.

Cô học trên anh một lớp và chắc chắn là hoa khôi trong năm học ấy; người thanh mảnh, vui vẻ, với vẻ mặt duyên dáng. Hàng đêm anh mơ tưởng đến Susannah, và ban ngày hình dung mình và cô bên nhau - trong tình huống thay đổi mù mờ nhưng luôn lãng mạn, như chèo một con thuyền trên vịnh, hoặc anh chỉ cho cô xem những chỗ ẩn núp bí mật trong khu rừng. Khi nhìn cô đi qua lớp học hoặc cười đùa với đám bạn trên sân trường là đủ khiến cho toàn thân anh xúc động, da như bị kim châm, hơi thở ngừng lại, mặt nóng bừng bừng. Anh quay mặt đi, giả vờ không quan tâm, và vì anh không có bạn thân nên bí mật của anh được giữ kín. Anh biết rõ rằng mình không phải là người duy nhất lâm vào nỗi mê đắm này, và rằng cô có thể chọn một ứng viên lớn tuổi hơn và được yêu mến hơn so với anh, nhưng dường như cô không nghiêng về một ai cả. Có lẽ cũng không thành vấn đề nếu cô làm thế; không phải anh mong cô sẽ không làm thế. Anh chỉ muốn lồng ghép cô vào những giấc mơ của mình, thế là đủ.

Có một dịp - buổi đi chơi dã ngoại mùa hè hàng năm, diễn ra vào cuối học kỳ, khi cả trường kéo nhau đi xuống một bãi cát nhỏ bên bờ vịnh. Dưới đôi mắt biếng nhác của hai thầy giáo buồn chán, bọn học trò ăn bánh mỳ kẹp thịt, uống nước ướp gừng rồi bơi lội, la thét và té nước cho đến khi trời tối. Francis vẫn chán ghét những cuộc vui chơi bị thúc ép và đã định ở nhà, nhưng cuối cùng cũng đi bởi vì Susannah tham dự, và vì cô sắp rời trường học, anh không biết làm thế nào còn trông thấy lại hình bóng của cô vốn đã khơi dậy tình cảm nồng nàn trong anh.

Anh tìm một chỗ ngồi không xa nơi Susannah và một số cô gái lớp cuối trung học đang ngồi, nhưng rồi một phút sau Ida Pretty đi đến bên anh. Ida nhỏ hơn anh hai tuổi, láng giềng kế cận nhà anh. Trong gia đình đông người của cô, anh chỉ thích mỗi cô. Ida ăn nói sắc sảo và vui tính, nhưng có thể khiến cho anh khó chịu. Cô thích Francis và luôn muốn quấy rầy anh; đã theo dõi anh một cách cần mẫn (nhưng không kín đáo) như anh đã theo dõi Susannah.

Giờ đây cô ngồi với chiếc giỏ của mình và đôi mắt nhìn qua làn nước.

“Tôi đoán trời sẽ mưa. Hãy nhìn đám mây kia. Đáng lẽ họ phải chọn một ngày đẹp trời hơn, anh nghĩ sao?”

Giọng nói của cô nghe chừng chứa đầy hy vọng. Là người hay bất mãn và cô đơn như anh, cô chia sẻ với anh nỗi chán ngán đối với những sự kiện được cho là có tính cộng đồng và vui thú. Anh băn khoăn với câu hỏi liệu ngồi một mình u uất hoặc ngồi với một cô bé gây phiền hà thì đằng nào hay hơn. Nhưng trông cách Susannah thì thầm trò chuyện say sưa với đám bạn gái thì có lẽ dù anh làm gì Susannah vẫn chẳng để ý tới. Và còn có mấy đứa con trai ở lớp trên đang lượn lờ, ra vẻ đang lo chuyện của mình nhưng ở trong tầm nghe của các cô gái; hoặc đùa nghịch, reo hò, thi nhau ném đá xuống nước xem ai ném xa nhất.

Khi trời về chiều, các hoạt động lơi dần; đám học trò đã tiêu thụ xong bánh mỳ, đập ruồi nhặng, trút bỏ lớp quần áo ngoài. Nhóm của Susannah đã tách ra thành từng nhóm nhỏ hai hoặc ba người; cô đi dạo cùng với Marion Mackay. Francis ngả người, đầu tựa lên một phiến đá, chiếc nón che lấy đôi mắt. Ánh mặt trời xuyên qua lớp vải dệt, làm cho anh hoa mắt một cách dễ chịu. Ida đã chìm vào sự im lặng bực tức, đang đọc quyển

Puddenhead Wilson

[37]

.

Khi anh đang xoay đầu qua lại nhè nhẹ làm cho ánh mặt trời tuần tự chiếu vào mắt rồi biến mất, Ida hỏi: “Anh nghĩ gì về Susannah Knox?”

“Hả?”

Dĩ nhiên là anh đang nghĩ về Susannah. Bây giờ anh có mặc cảm phạm tội nên cố gạt cô ra khỏi đầu óc mình.

“Susannah Knox. Anh nghĩ gì về cô ấy?”

“Tôi nghĩ cô ấy trông được.”

“Mọi người trong trường đều nghĩ cô ấy hầu như là người đẹp nhất mà họ từng thấy.”

“Thật vậy sao?”

“Ừ, đúng vậy.”

Anh không biết Ida đang nhìn mình hay không. Tim anh đang đập thình thịch, nhưng giọng nói anh nghe chán chường: “Cô ấy khá đẹp.”

“Anh nghĩ vậy hả?”

“Tôi nghĩ vậy.”

Bắt đầu có chuyện gây khó chịu rồi đây. Anh kéo chiếc nón ra khỏi mặt mình, nheo mắt với Ida. Cô đang ngồi với hai đầu gối gập lên, hai bờ vai quanh hai tai. Khuôn mặt nhỏ nhắn của cô đang nhăn nhó dưới ánh nắng, trông đau khổ và tức giận.

Anh hỏi: “Tại sao?”

“Có quan trọng gì không?”

“Có quan trọng gì không hả? Là chuyện cô ấy đẹp hả?”

“Ừ.”

“Tôi không biết. Còn tùy.”

“Tùy ra sao?”

“Tùy vào người cô đang nói tới. Tôi đoán nó quan trọng đối với cô ấy. Ôi trời, Ida!”

Anh lại kéo chiếc nón lên mắt, và một lúc sau nghe tiếng cô đứng dậy rồi cáu kỉnh bước đi. Anh hẳn đã thiếp đi, bởi vì anh thức dậy khi cô lại ngồi xuống, có phần ngạc nhiên và tự hỏi anh đã đi đâu, và tại sao anh nóng thế. Chiếc nón đã tuột khỏi mặt anh, và anh thấy lóa mắt, những tia màu đỏ bắn lên trước mắt anh. Da mặt anh căng và mềm ra. Anh đang bị bỏng nắng.

“Tôi ngồi đây một lúc thì có làm phiền anh không?”

Giọng nói không phải của Ida. Francis ngồi dậy, và thấy Susannah Knox đang mỉm cười với mình. Cơn sốc lan xuống sống lưng anh như nước đá.

“Không. Không, không phiền gì hết.”

Anh nhìn quanh. Bãi cát vắng vẻ hơn lúc trước; đám con gái đã ngồi với cô giờ không thấy đâu.

“Tôi nghĩ mình đã ngủ thiếp đi.”

“Tôi xin lỗi đã làm anh thức giấc.”

“Không sao. Tốt thôi. Chắc là tôi sẽ bị bỏng nắng.”

Anh xoa nhẹ trán mình. Susannah nghiêng người về phía anh, săm soi nhìn anh từ khoảng cách có vẻ như rất gần. Anh có thể nhìn thấy từng sợi lông mi cong; lông măng li ti vàng hoe trên đôi má cô.

Cô nở một nụ cười làm mê đắm lòng người. Mặt trời lấp ló phía sau lưng cô, chiếu một vầng hào quang quanh đầu cô, mái tóc nâu biến thành những sợi vàng và bạch kim. Francis cảm thấy khó thở. Ít nhất, nếu bây giờ anh đỏ mặt thì cô vẫn không nhận ra.

Sau khi đã không nghĩ ra chuyện gì khôn ngoan hơn, cuối cùng anh gắng gượng nói: “Thế là, cô có thấy vui không?”

“Cái gì, ở đây hả? Tôi nghĩ tàm tạm. Một vài anh quấy rầy quá. Emlyn Pretty xô Matthew đang mặc đủ quần áo xuống nước rồi cười cợt cả giờ. Như thế là kém cỏi.”

“Vậy hả?”

Trong thâm tâm, Francis cảm thấy vui sướng. Trước đây anh đã gặp chuyện không may với Emlyn. May là không phải anh bị xô xuống nước.

Thế rồi, dù cố nghĩ ra, anh vẫn không biết nên nói chuyện gì khác. Anh nhìn ra làn nước một hồi lâu, cầu mong cho nguồn cảm hứng.

Xem chừng Susannah không bận tâm; cô đưa tay giật giật đuôi tóc, suy nghĩ mông lung, rồi nói: “Ida có phải là bạn gái anh không?”

Câu hỏi từ trên trời rơi xuống khiến cho Francis nghẹn họng vì kinh ngạc. Rồi anh cười to. Quả là một ý tưởng kỳ quặc. Một câu hỏi kỳ quặc.

“Không! Ý tôi nói, cô ấy chỉ là bạn thôi. Nhà cô ấy kế nhà tôi, cô biết mà. Phía thượng nguồn sông. Cô ấy nhỏ hơn tôi hai tuổi.”

“À... Anh ở kế gia đình Pretty hả?”

Cô hẳn phải biết, cũng như ai ai đều biết ai ở đâu. Hai tay cô càng bận rộn thêm trên mái tóc. Cô đang làm gì, anh không thể biết được; chắc hẳn là việc vớ vẩn đòi hỏi sự tập trung cao độ.

Cuối cùng, cô vắt lọn tóc qua một bên với cử động cả quyết, rồi lắc cái đầu cho tóc không vướng vào mặt: “Anh biết không, thứ Bảy tới chúng tôi sẽ đi picnic, chỉ vài người thôi, ở hồ ngâm mình

[38]

. Anh có thể đi cùng nếu thích. Chỉ có Maria, anh biết mà, chị tôi, Marion và Emma, có lẽ Joe…”

Cuối cùng cô nhìn anh, nhưng anh không đọc được ý nghĩa từ đôi mắt cô. Francis thấy cô như là một bóng đen che khuất mặt trời, những nét người cô nhạt nhòa và sáng lóe trông như một thiên thần Trường Chủ Nhật

[39]

.

“Thứ Bảy hả? Hừm...” Anh không hiểu rõ việc gì đang diễn ra. Nhưng có vẻ như Susannah - người con gái Susannah Knox duy nhất - đã mời anh đi picnic; một buổi picnic có chọn lọc mà chỉ những người bạn thân cận nhất của cô mới được mời (và còn có Joe Bell, nhưng ai cũng biết anh ta hay quấn quít Emma Spence). Rồi thình lình anh nghĩ có lẽ đây là chuyện đùa cợt kinh khủng. Nếu cô mời anh dự một buổi picnic trong tưởng tượng thì sao? Nếu thứ Bảy anh đi mà không có ai ở đó, hoặc tệ hơn nữa, có một đám con trai năm cuối đang dòm ngó và cười nghiêng cười ngửa vì anh đã hồ đồ.

Nhưng có vẻ như cô không phải đùa cợt. Cô vẫn còn nhìn anh, và rồi cô thoát ra một tiếng cười ngắn, bồn chồn: “Trời đất ơi! Làm cho con gái phải chờ đợi hả?”

“Xin lỗi. Hừm... chỉ thế này, tôi phải bàn với cha tôi... trước, để xem ông cần tôi làm việc nhà hay không. Dù sao vẫn cảm ơn. Nghe tử tế.”

Tim anh đang đập mạnh vì kinh sợ. Anh đã thật sự nói thế hay không?

“À, được. Cho tôi biết nhé?” Với vẻ không dứt khoát, cô đứng dậy.

“Ừ, tôi sẽ báo. Cảm ơn.”

Lúc ấy, trông cô càng đẹp hơn bao giờ, vẻ mặt nghiêm túc và yêu kiều, mái tóc mềm mại xõa xuống. Cô mỉm nụ cười nhẹ rồi quay đi. Anh nghĩ cô có vẻ buồn. Anh ngả người ra và đặt chiếc nón lên đôi mắt, để anh có thể bí mật ngắm cô quay đi lại phần kia của bãi cát, nơi cô sẽ nhập bọn với vài học sinh năm cuối. Bỗng dưng anh có cảm giác kỳ diệu lan tỏa khắp người. Cô đã mời anh tham dự picnic. Cô, người mà trước đây chưa từng nói với anh hơn mười tiếng: cô đã mời anh dự picnic!

Francis nhìn mấy anh học trò nhỏ tuổi hơn mình, đứng sát nhau một cách nguy hiểm bên bờ nước, ném từng mẩu gỗ xuống cho nó lướt lên đập xuống mặt nước, bắn bọt trắng xóa. Tiếng gào thét nghe xa xôi đến kỳ lạ. Anh nghĩ đến ngày thứ Bảy tới. Từ lâu, cha anh đã bỏ ý định bắt anh phải giúp đỡ công việc trong ngày nghỉ cuối tuần. Anh nghĩ đến buổi picnic ở hồ ngâm mình bên con sông, nơi các cây sồi và liễu nhuộm lấm tấm mặt nước màu trà; và các cô gái trong trang phục mùa hè ngồi trò chuyện.

Và anh biết mình sẽ không tham dự.

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 9

Đang tải bình luận...