Sachvui.Com-nan-nhan-thu-tu

CHÍN

CHÍN

CHÍN

Những tên cướp biển Vikking đã không hiến những cô gái đồng trinh, mà hiến những con gái điếm.

Vào năm chín trăm hai mươi hai của Chúa, một nhà ngoại giao Ả Rập tên là Ibn Fadlan đã chứng kiến một lễ hiến tế của những người mà ông gọi là Rus. Ông miêu tả họ to cao, tóc vàng, những người có ngoại hình hoàn hảo đến từ Thụy Điển hay những vùng dưới các con sông của Nga, những khu chợ phía Nam ở Kazaria và Caliphate. Ở đó, họ bán hổ phách và lông để lấy lụa và bạc của người Byzatium. Trên hành trình buôn bán đó, tại một nơi tên là Bulgar ở khúc cong của con sông Vôn-ga, thi thể của một tên cướp biển Vikking có tiếng tăm được chuẩn bị cho hành trình cuối cùng của hắn đến Valhalla.

Ibn Fadlan đã chứng kiến đám tang đó.

Thuyền của người chết được đỗ gần bờ, buộc vào những cọc gỗ bu-lô. Một chiếc rạp lớn được dựng trên thuyền. Trong rạp có một chiếc trường kỷ được phủ khăn kim tuyến của xứ Hy Lạp. Xác chết đã chôn mười ngày, sau đó bị quật lên.

Ibn Fadlan vô cùng ngạc nhiên vì đám thịt ngả màu đen sì không hề bốc mùi.

Cái xác mới đào sau đó được quấn trong chín lớp vải: quần áo và tất, ủng và áo dài thắt ngang lưng và một chiếc áo cap-tan có dây kim tuyến đính những hạt cúc bằng vàng. Họ đặt hắn lên một chiếc đệm trong rạp và dùng những chiếc gối dựng hắn dậy trong tư thế đang ngồi. Quanh hắn, họ đặt bánh mỳ, thịt, hành, đồ uống dễ say và những cây có mùi thơm. Họ giết một con chó, hai con ngựa, một con gà trống và một con gà mái. Tất cả những con vật đó được họ đặt trong rạp để thỏa mãn nhu cầu của hắn khi ở Valhalla.

Cuối cùng, họ mang đến một cô gái nô lệ.

Trong suốt mười ngày trước đó, người chết đã bị chôn dưới đất. Cô gái đã được đưa đi hành nghề mại dâm. Trong lúc cô ta ngà say, chúng đưa cô ta từ lều này sang lều khác để phục vụ từng người đàn ông trong khu lều đó. Cô ta đẻ ra những quả trứng và nằm phơi mình dưới một loạt những tên đàn ông vã mồ hôi và gầm gừ. Cơ thể đã rã rời của cô ta là một cái thùng phuy công cộng để tất cả những tên đàn ông sống bầy đàn đó tống tinh dịch vào. Như vậy, cô ta đã bị ô nhục, cơ thịt rã rời và thân thể cô ta sẵn sàng cống hiến cho việc tế lễ.

Vào hôm thứ mười, cô ta được đưa đến con thuyền, có một phụ nữ hộ tống cô ta được gọi là Thiên thần Chết. Cô ta tháo hết vòng tay và nhẫn. Cô ta uống những thứ đồ ở đó và say túy lúy. Rồi cô ta được đưa vào trong rạp, nơi người đàn ông đã chết đang ngồi.

Ở đó, trên tấm nệm trải kim tuyến, cô ta lại bị làm nhục lần nữa. Sáu lần, bởi sáu gã đàn ông. Thân thể cô ta bị qua tay bọn chúng như một miếng thịt dùng chung. Và sau khi làm xong việc đó, những gã đàn ông đã thỏa mãn sung sướng, cô ta bị phơi mình bên cạnh ông chủ đã chết. Hai gã giữ chân, hai gã giữ tay, còn Thiên thần Chết thắt một sợi dây quanh cổ cô ta. Trong khi những gã kia kéo căng sợi dây, Thiên thần Chết giơ con dao bản rộng, cắm phập nó vào ngực cô gái.

Con dao cứ giáng xuống liên tiếp, làm máu bắn lên những gã đàn ông đang gieo rắc nòi giống. Con dao lặp lại vụ cưỡng bức diễn ra trước đó, thứ kim khí sắc nhọn cắm ngập vào da thịt mềm mại.

Khi lưỡi dao vung lên lần cuối, cái chết vui sướng ập đến.

- Cô ấy cần được truyền rất nhiều máu và huyết tương đông lạnh - Catherine nói - Huyết áp của cô ấy đã ổn định nhưng cô ấy vẫn hôn mê và phải dùng máy trợ thở. Anh phải kiên nhẫn, thưa thám tử. Và hy vọng cô ấy sẽ tỉnh lại.

Catherine và thám tử Crowe đứng bên ngoài phòng bệnh chăm sóc hậu phẫu đặc biệt cho cô Nina Peyton và nhìn ba đường chạy ngang màn hình điện tâm đồ. Crowe đã chờ ngoài cửa phòng mổ khi bệnh nhân được đưa vào. Anh ta đã đứng cạnh cô trong phòng hồi sức và sau đó theo cô lên bộ phận chăm sóc hậu phẫu. Nhiệm vụ của anh ta không chỉ là bảo vệ, anh ta háo hức muốn lấy cung từ phía bệnh nhân. Trong mấy giờ qua, anh ta tỏ ra rất khó chịu, yêu cầu phải có bản báo cáo thường xuyên về tình hình của bệnh nhân và lượn lờ ngoài phòng bệnh.

Giờ anh ta lặp lại câu hỏi mà anh ta đã hỏi suốt buổi sáng:

- Cô ấy sẽ sống chứ?

- Tất cả những gì tôi có thể nói với anh là những dấu hiệu cơ bản của cô ấy vẫn ổn định.

- Khi nào tôi có thể nói chuyện với cô ấy?

Catherine thở dài mệt mỏi.

- Hình như anh không hiểu tình hình cô ấy nguy kịch đến mức nào. Cô ấy bị mất rất nhiều máu trước khi đến đây. Não của cô ấy đã không còn máu để lưu thông. Và có rất nhiều khả năng nếu cô ấy tỉnh lại, cô ấy sẽ không nhớ gì hết.

Crowe nhìn qua cửa kính ngăn cách.

- Vậy thì cô ấy chẳng có tác dụng gì với chúng tôi.

Catherine nhìn anh ta và ngày càng thấy ghét anh ta. Anh ta không hề tỏ thái độ quan tâm đến Nina Peyton, ngoại trừ việc cô ta có thể làm nhân chứng, là ai đó để anh ta có thể tận dụng. Cả sáng nay, anh ta không gọi tên cô ấy một lần. Anh ta gọi cô là

nạn nhân

hay

nhân chứng.

Người mà anh ta đang nhìn trong phòng bệnh không phải là một phụ nữ, mà chỉ đơn giản là một công cụ để đạt được mục đích.

- Khi nào cô ấy được ra khỏi Bộ phận chăm sóc hậu phẫu đặc biệt? - anh ta hỏi.

- Còn quá sớm để hỏi câu đó.

- Cô ấy có thể được chuyển đến một phòng riêng không? Nếu chúng ta đóng cửa, hạn chế người ra vào thì không ai biết là cô ấy không thể nói được.

Catherine biết chắc chắn việc này sẽ đi đến đâu.

- Tôi không cho phép sử dụng bệnh nhân của tôi làm mồi nhử. Cô ấy cần phải ở đây để trông coi liên tục. Anh thấy những đường trên màn hình chứ? Đó là đường điện tâm đồ, huyết áp tĩnh mạch chính và huyết áp động mạch. Tôi là người chịu trách nhiệm trước tiên về bất cứ biến đổi nào về tình trạng của cô ấy. Và bộ phận này là nơi duy nhất để làm việc đó.

- Chúng ta có thể cứu được bao nhiêu phụ nữ nếu chúng ta ngăn hắn lại ngay lúc này? Cô đã bao giờ nghĩ về việc đó chưa? Trong số tất cả mọi người, bác sỹ Cordell,

cô

biết những cô gái đó đã trải qua chuyện gì.

Cô cứng miệng khi gặp câu hỏi đó. Anh ta đã đánh đúng huyệt. Chuyện Andrew Capra gây ra cho cô quá riêng tư và gần gũi đến mức cô không thể kể những tổn thương đó với bố mình. Thám tử Crowe đã rạch toang vết thương đó.

- Có lẽ cô ấy là cách duy nhất để bắt hắn - Crowe hạ giọng.

- Đây là phương án tốt nhất mà anh có thể nghĩ ra sao? Sử dụng một cô gái bị hôn mê làm mồi nhử ư? Gây nguy hiểm cho những bệnh nhân khác trong bệnh viện này bằng cách mời tên sát nhân đó đến đây ư?

- Điều gì khiến cô nghĩ là hắn chưa từng đến đây? - Crowe nói rồi bỏ đi.

Đã đến đây,

Catherine không thể không nhìn quanh bộ phận chăm sóc đặc biệt. Cô thấy những y tá bị nạn nhân vây quanh. Một nhóm các bác sỹ phẫu thuật đang túm tụm ở một màn hình máy tính cạnh đó. Một y tá mở tĩnh mạch mang khay đựng đầy ống truyền máu và xi lanh. Có bao nhiêu người ra vào bệnh viện mỗi ngày? Có bao nhiêu người trong số đó cô thực sự tin là người tốt? Không ai cả! Đó chính là điều Andrew Capra đã dạy cô: rằng cô không bao giờ biết điều gì ẩn sau tim mỗi người.

Nhân viên trực phòng bệnh nói.

- Bác sỹ Cordell, có điện!

Catherine đi đến phòng y tá, nhấc máy.

Đó là Moore.

- Tôi nghe tin là cô đã cứu cô ấy.

- Đúng vậy. Cô ấy vẫn sống - Catherine trả lời cộc lốc - À không, cô ấy vẫn chưa nói chuyện được.

Anh dừng lại một lúc.

- Tôi nghĩ đây là lúc không thích hợp khi gọi điện cho cô.

Cô ngồi xuống ghế.

- Tôi xin lỗi. Tôi vừa nói chuyện với thám tử Crowe. Tâm trạng tôi không được tốt.

- Hình như anh ấy luôn khiến phụ nữ như vậy.

Cả hai cùng cười. Điệu cười lúc mệt mỏi đó khiến sự căng thẳng giữa họ tan biến.

- Cô đã giải quyết thế nào, Catherine?

- Chúng tôi đã trải qua những lúc thật đáng sợ nhưng tôi nghĩ chúng tôi đã giúp cô ấy ổn định lại.

- Không, ý tôi là

cô.

Cô ổn chứ?

Đó không chỉ là một lời hỏi thăm xã giao, cô cảm thấy sự quan tâm trong lời nói của anh. Cô không biết phải nói gì. Cô biết thật vui khi được người khác quan tâm và lời nói của anh khiến mặt cô đỏ lên.

- Cô sẽ không về nhà chứ? - anh hỏi - Cho tới khi chúng tôi thay hết ổ khóa cho cô đã.

- Chuyện đó khiến tôi giận điên lên. Hắn đã cướp đi nơi tôi cảm thấy an toàn nhất.

- Chúng tôi sẽ khiến nó an toàn trở lại. Tôi sẽ cử thợ khóa đến đó.

- Vào thứ bảy à? Anh là một công nhân lành nghề đấy.

- Không. Tôi chỉ có một Rolodex tuyệt vời thôi.

Cô ngả lưng về phía sau, gánh nặng trên vai cô đỡ đi rất nhiều. Quanh cô, bộ phận chăm sóc đặc biệt ồn ào, huyên náo và mọi người đang làm việc. Nhưng cô chỉ còn nghĩ về người đàn ông mà giọng nói của anh đã an ủi và khiến cô yên lòng.

- Còn anh thì sao? - Cô hỏi.

- Tôi e là ngày của tôi chỉ mới bắt đầu - anh dừng lại một lát khi quay sang trả lời ai đó về việc liên quan đến túi đựng tang vật. Có giọng nói của nhiều người khác trong điện thoại. Cô tưởng tượng ra anh đang ở trong phòng ngủ của Nina Peyton, những bằng chứng khủng khiếp vây quanh anh. Nhưng giọng anh vẫn nhẹ nhàng điềm tĩnh.

- Cô sẽ gọi tôi ngay khi cô ấy tỉnh lại nhé?

- Thám tử Crowe đã trực ở đây như một con kền kền. Tôi chắc chắn anh ta sẽ biết điều đó trước tôi.

- Cô nghĩ cô ấy có tỉnh lại không?

- Câu trả lời thật lòng nhé? - Catherine nói - Tôi không biết. Tôi đã nói đi nói lại với thám tử Crowe và anh ta cũng không chấp nhận điều đó.

- Bác sỹ Cordell? - y tá trực ở phòng Nina Peyton gọi từ phòng bệnh. Giọng của cô ấy khiến Catherine lo lắng.

- Có chuyện gì vậy?

- Cô phải đến xem cái này.

- Có chuyện gì sao? - Moore lo lắng hỏi trên điện thoại.

- Chờ chút! Để tôi xem! - cô bỏ tai nghe xuống, vào phòng bệnh.

- Tôi đang dùng khăn tắm lau rửa cho cô ấy - cô y tá nói - Họ đưa cô ấy từ phòng mổ về. Máu vẫn dính khắp người cô ấy. Khi tôi lật nghiêng người cô ấy, tôi thấy nó. Nó ở sau đùi trái cô ấy.

- Cho tôi xem!

Cô y tá giữ vai và hông bệnh nhân, rồi lật nghiêng người bệnh nhân.

- Đó! - cô khẽ nói.

Lập tức nỗi sợ hãi choán hết người Catherine. Cô nhìn chằm chằm vào dòng tin nhắn trêu ngươi được viết trên da của Nina Peyton bằng bút lông nhúng mực đen.

CHÚC MỪNG SINH NHẬT! CÔ THÍCH MÓN QUÀ CỦA TÔI CHỨ?

Moore thấy cô trong quán ở bệnh viện. Cô ngồi ở chiếc bàn trong góc phòng. Lưng quay về tường. Đó là tư thế ngồi của một người biết rõ mình đang bị đe dọa và muốn quan sát xem có kẻ nào tấn công mình không. Cô vẫn mặc bộ đồ bệnh viện, tóc buộc cao, để lộ những đường nét góc cạnh nổi bật của cô. Khuôn mặt không trang điểm, đôi mắt sáng. Chắc chắn cô cũng đã kiệt sức như anh nhưng nỗi sợ khiến cô tỉnh táo hơn. Cô như một con mèo rừng, quan sát từng cử động của anh khi anh lại gần bàn. Cốc cà phê trước mặt cô đã vơi một nửa. Cô ấy đã uống bao nhiêu cốc rồi? Anh tự hỏi. Anh thấy cô run rẩy khi đưa tay lấy cái cốc. Đó không phải là bàn tay bình tĩnh của một bác sỹ phẫu thuật, mà là bàn tay của một phụ nữ đang sợ hãi tột độ.

Anh ngồi đối diện với cô.

- Đêm nào cũng có một xe tuần tra sẽ đỗ trước cổng nhà cô. Cô có chìa khóa mới chưa?

- Thợ sửa khóa đã tháo hết khóa cũ. Anh ấy nói với tôi là anh ấy đã thay ổ khóa của chiếc Rolls-Royce nữa.

- Cô sẽ ổn thôi, Catherine.

Cô cúi nhìn cốc cà phê.

- Lời nhắn đó dành cho tôi.

- Chúng tôi không biết chuyện đó.

- Hôm qua là sinh nhật tôi. Hắn biết. Và hắn còn biết là tôi có lịch trực ở bệnh viện.

- Nếu hắn chính là người viết những dòng đó.

- Đừng biến tôi thành con ngốc! Anh biết là hắn mà.

Anh không nói gì, rồi gật đầu.

Họ ngồi đó, không nói gì một lúc. Bây giờ đã là chiều muộn, hầu hết các bàn đều trống. Sau quầy rượu, các nhân viên của quán đang rửa xoong chảo, khói bốc lên như những cột khói tàu. Nhân viên tính tiền đứng một mình, bóc một gói tiền xu mới. Chúng rơi leng keng vào ngăn kéo.

- Còn văn phòng của tôi thì sao? - cô hỏi.

- Hắn không để lại dấu vân tay.

- Vậy các anh chẳng có gì về hắn.

- Chúng tôi không thu được gì - anh thú nhận.

- Hắn đi ra đi vào đời tôi như không khí. Không ai thấy hắn. Không ai biết trông hắn thế nào. Tôi có thể lắp song sắt lên cửa sổ nhưng vẫn sợ hãi khi chợp mắt.

- Cô không cần về nhà. Tôi sẽ đưa cô đến khách sạn.

- Dù tôi trốn ở đâu cũng chẳng có tác dụng gì. Hắn biết tôi ở đâu. Vì lý do nào đó, hắn đã chọn tôi. Hắn nói tôi là người kế tiếp.

- Tôi không nghĩ vậy. Đó sẽ là động thái ngu xuẩn nhất của hắn đến mức khó tin nếu hắn cảnh báo cô là nạn nhân tiếp theo. Bác sỹ phẫu thuật này không ngu ngốc đâu.

- Tại sao hắn liên lạc với tôi? Tại sao hắn biết tên tôi trên… - cô nuốt nước bọt.

- Đó có thể là lời thách thức chúng tôi, một cách trêu ngươi cảnh sát.

- Vậy thì tên khốn đó phải viết cho các anh! - cô lớn tiếng đến mức một y tá đang rót cà phê giật mình quay lại nhìn cô.

Catherine đỏ mặt đứng lên. Cô thấy xấu hổ vì cơn tức giận bột phát đó. Cô im lặng khi họ ra khỏi bệnh viện. Anh muốn nắm lấy tay cô nhưng anh nghĩ cô sẽ vung ra. Cô sẽ nghĩ đó là hành động hạ cố mà thôi. Mà trước tiên, anh không muốn cô nghĩ anh đang hạ cố. Cô cần sự tôn trọng hơn bất cứ người phụ nữ nào anh đã gặp.

Khi ngồi trong ô tô của anh, cô khẽ nói.

- Vừa rồi tôi đã mất bình tĩnh. Tôi xin lỗi.

- Trong trường hợp đó thì ai cũng vậy.

- Nhưng không phải anh.

Anh cười.

- Tất nhiên tôi không bao giờ mất bình tĩnh.

- Đúng, tôi cũng nhận thấy điều đó.

Điều đó có ý nghĩa gì? Anh tự hỏi khi họ lái xe đến Back Bay. Tại sao cô lại nghĩ anh có thể chống chọi với mọi cơn bão làm xao động trái tim một con người? Từ bao giờ người ta lại coi cặp mắt tinh tường và đầu óc suy nghĩ lô-gic của anh đã mất hết tình cảm? Anh biết các đồng nghiệp thuộc Bộ phận điều tra án mạng gọi anh là Thánh Thomas, là đức Ngài tôn kính. Anh là người mà người ta nghĩ đến khi tình hình bùng nổ và rất cần một giọng nói bình tĩnh. Họ không biết Thomas Moore, người đứng trước tủ quần áo của vợ vào ban đêm, hít sâu mùi thơm thoang thoảng từ quần áo của cô. Họ chỉ thấy chiếc mặt nạ mà anh cho họ nhìn thấy.

Cô nói, vẻ bực tức.

- Anh dễ dàng thấy bình tĩnh về việc này. Anh không phải là người bị hắn chú ý.

- Hãy cố nhìn nhận việc này một cách lô-gic…

- Nhìn vào cái chết của chính tôi ư?

Tất nhiên

là tôi suy nghĩ mạch lạc rồi!

- Tên Bác sỹ phẫu thuật đã tạo nên một cung cách gây án mà hắn thấy thoải mái nhất. Hắn tấn công vào ban đêm, chứ không phải ban ngày. Trong thâm tâm, hắn là một kẻ nhát gan, không thể đối diện quang minh chính trực với một phụ nữ. Hắn muốn con mồi trong tình thế dễ bị tổn thương, nằm trên giường và say giấc, không thể chống cự được.

- Vậy tôi có nên ngủ không? Đó là một giải pháp khó khăn.

- Điều tôi muốn nói là hắn sẽ không tấn công bất cứ ai vào trời sáng, khi nạn nhân có thể tự vệ. Nhưng khi trời tối, mọi việc sẽ thay đổi.

Anh dừng lại khi đến nhà cô. Mặc dù khu nhà thiếu vẻ quyến rũ của những ngôi nhà xây bằng gạch trong khu Đại lộ Commonweath, nhưng nó thuận tiện vì có khu để xe ngầm có cổng và được chiếu sáng. Để vào bằng lối đi phía trước, phải có cả chìa khóa và mã an ninh chính xác. Catherine nhập mã số lên bàn phím nhỏ.

Họ vào hành lang được lắp gương và sàn nhà bằng đá cẩm thạch sáng loáng. Tao nhã, nhưng quá sạch sẽ và lạnh lẽo. Chiếc thang máy chạy êm ru đưa họ lên tầng hai.

Khi đến cửa căn hộ, cô lưỡng lự, tay cầm chìa khóa mới.

- Tôi sẽ vào xem trước, nếu điều đó giúp cô cảm thấy ổn hơn - anh đề nghị.

Dường như cô coi lời đề nghị của anh là một kiểu sỉ nhục. Cô không nói gì, tra chìa vào ổ, mở cửa, bước vào. Như thể cô muốn chứng minh với mình tên Bác sỹ phẫu thuật không thể thắng cô được và cô vẫn làm chủ cuộc sống của mình.

- Tại sao chúng ta không xem qua các phòng, từng phòng một? - anh nói - Chỉ để đảm bảo không vật gì bị xáo trộn.

Cô gật đầu.

Họ cùng nhau vào phòng khách và phòng bếp, cuối cùng là phòng ngủ. Cô biết tên Bác sỹ phẫu thuật lấy vật lưu niệm của các nạn nhân khác. Và cô cẩn thận kiểm tra hộp nữ trang, ngăn kéo, tìm bất cứ dấu vết nào của bàn tay kẻ đột nhập. Moore đứng ở cửa, nhìn cô xếp riêng áo khoác, áo nịt và quần lót. Ký ức bất chợt trở lại trong anh về quần áo của một người phụ nữ nào đó, không được tao nhã như vậy và được gấp trong va-li. Anh nhớ lại chiếc áo lót màu xám và áo khoác ngoài màu hồng nhạt, một chiếc áo ngủ bằng cốt-tông với những bông hoa ngô màu xanh lơ. Không có gì mới, không có gì đắt tiền. Tại sao anh chẳng bao giờ mua cho Mary một thứ gì đó sang trọng một chút? Anh nghĩ họ đã tiết kiệm tiền để làm gì? Đó không phải là điều cuối cùng tất cả tiền bạc của anh để vào, không phải để trả tiền cho các bác sỹ, các hóa đơn chăm sóc và trị liệu vật lý.

Anh quay đầu khỏi phòng ngủ, ra ngoài phòng khác. Anh ngồi xuống trường kỷ. Ánh mặt trời lúc chiều tàn chiếu qua ô cửa. Ánh sáng của nó làm anh đau mắt. Anh dụi mắt, gục đầu vào tay, cảm thấy đau đớn vì tội lỗi là anh đã không suy nghĩ về Mary cả ngày nay. Anh cảm thấy xấu hổ về điều đó. Thậm chí anh còn thấy xấu hổ hơn khi ngẩng đầu lên nhìn Catherine và tất cả những ý nghĩ về Mary vụt tan biến. Anh nghĩ: Đây là người phụ nữ đẹp nhất mà mình biết.

Đây cũng là người phụ nữ dũng cảm nhất mà mình biết.

- Không mất gì - cô nói - Đó là theo tôi nghĩ.

- Cô có chắc là cô muốn sống ở đây không? Tôi sẵn sàng đưa cô đến khách sạn.

Cô đến gần cửa sổ, nhìn ra ngoài. Dáng hình cô sáng bừng lên trong ánh sáng màu vàng rực của buổi hoàng hôn.

- Hai năm qua, tôi đã sợ hãi, khóa cửa ngăn cách thế giới bên ngoài. Lúc nào tôi cũng chỉ nhìn từ sau cánh cửa, tìm những ngăn kín. Tôi thấy đã đủ rồi - cô nhìn anh - Tôi muốn lấy lại cuộc sống của tôi. Lần này tôi sẽ không để hắn chiến thắng.

Lần này,

cô nói như thể đây là một cuộc chiến nhỏ trong toàn bộ trận đánh lớn. Như thể tên Bác sỹ phẫu thuật và Andrew Capra đã hóa thành một thực thể độc nhất. Đó là kẻ cô đã bắn chết hai năm trước nhưng chưa hẳn đã bị hạ gục. Capra. Tên Bác sỹ phẫu thuật. Đó là hai cái đầu của một con quỷ dữ.

- Anh nói là đêm nay sẽ có xe tuần tra.

- Sẽ có.

- Anh đảm bảo chứ?

- Chắc chắn.

Cô hít sâu. Chỉ việc cô có thể cười với anh đã là một hành động dũng cảm.

- Vậy thì tôi chẳng việc gì phải lo lắng, phải không? - giọng cô rất nhẹ.

Chính cảm giác tội lỗi khiến anh lái xe về phía Newton thay vì đi thẳng về nhà. Anh run rẩy vì phản ứng của mình khi đứng trước Cordell. Anh thấy bối rối vì bây giờ cô đã độc chiếm hết mọi suy nghĩ của anh. Trong vòng một năm rưỡi sau cái chết của Mary, anh đã sống như một thầy tu, không cảm thấy hứng thú với phụ nữ. Tất cả những đam mê đã bị thiêu rụi thành buồn khổ. Anh không biết phải làm gì với những tia sáng khao khát mới bùng lên. Anh chỉ biết rằng đầu hàng trước tình huống đó là điều không thể. Đó là một biểu hiện của sự phản bội với người phụ nữ anh yêu quý.

Vì vậy anh lái xe thẳng đến Newton để chỉnh đốn lại sự việc và khuây khỏa đầu óc.

Anh ôm một bó hoa cúc, bước vào sân trước và khóa cánh cổng sắt sau lưng. Việc này như thể chở củi về rừng, anh nghĩ khi nhìn quanh khu vườn giờ đã chìm trong bóng tối. Mỗi lần anh đến thăm, dường như lại có thêm nhiều hoa được mang đến nơi chật chội này. Những dây leo và thân cây hồng đã được uốn nắn, mọc ôm lấy thân nhà để khu vườn dường như cũng mở ra về phía chân trời. Anh cảm thấy xấu hổ vì anh chỉ đem theo những bông cúc nhỏ. Nhưng Mary thích hoa cúc nhất. Và giờ anh đã có thói quen là chỉ chọn hoa cúc khi đến một quầy bán hoa. Cô thích vẻ mộc mạc của chúng, thích đường viền màu trắng bao quanh màu vàng chanh. Cô thích mùi hương của chúng - không quá ngọt ngào và giả tạo như những loài hoa khác mà hơi hăng, xộc lên mũi. Cô thích chúng khi chúng mọc hoang vô số trong những khu đất trống hay hai bên đường. Chúng như nhắc nhở mọi người nhớ rằng vẻ đẹp thực sự là vẻ đẹp tự nhiên và không thể cưỡng lại được.

Giống như chính Mary.

Anh rung chuông. Một lúc sau, cánh cửa bật mở. Một khuôn mặt ló ra, cười với anh giống hệt Mary. Anh thấy quen với nỗi đau. Rose Connolly có cặp mắt xanh lơ, má tròn giống hệt cô con gái. Mặc dù tóc bà đã hoa râm, tuổi tác đã in hằn lên khuôn mặt nhưng những nét tương đồng cho thấy chắc chắn bà là mẹ Mary.

- Thật vui khi gặp con, Thomas - bà nói - Dạo này con không hay đến.

- Con xin lỗi về chuyện đó, thưa mẹ! Dạo này con chẳng có thời gian rảnh. Con còn chẳng biết hôm nay ngày bao nhiêu.

- Mẹ có theo dõi vụ án trên ti vi. Con làm một công việc thật nguy hiểm.

Anh bước vào nhà, đưa cho bà bó hoa cúc.

- Chắc mẹ cũng không cần nhiều hoa thế này - anh nói đùa.

- Một người không thể có quá nhiều hoa. Và con biết mẹ thích hoa cúc nhường nào. Con uống ít trà đá nhé!

- Con rất thích nếu được uống một ít. Cảm ơn mẹ!

Họ ngồi trong phòng khách, nhấm nháp tách trà. Nó có vị ngọt và có vị của nắng. Họ uống trà được pha theo kiểu vùng phía Nam Carolina nơi Rose đã sinh ra. Nó khác với thứ trà đậm đặc ở vùng New England mà anh uống suốt khi lớn lên. Căn phòng cũng tạo cảm giác ngọt ngào và trông nó hoàn toàn cũ kỹ so với những tiêu chuẩn ở Boston. Có quá nhiều vải hoa sặc sỡ, quá nhiều đồ trang trí lặt vặt. Nhưng trời ơi, nó làm anh nhớ Mary xiết bao! Cô hiện hữu khắp nơi. Những tấm ảnh cô treo trên tường. Những chiếc cúp bơi lội của cô được trưng bày trên giá sách. Chiếc đàn dương cầm cô có từ lúc bé được đặt ở góc phòng khách. Bóng ma củ đứa bé đó vẫn ở đây, trong ngôi nhà này, nơi cô đã lớn lên. Và bà Rose, là người giữ lửa, người trông giống con gái bà đến nỗi đôi khi Moore nghĩ anh thấy chính Mary trong đôi mắt màu xanh lơ của bà Rose.

- Trông con mệt lắm - bà lo lắng.

- Thật sao?

- Con chẳng bao giờ chịu đi nghỉ, đúng không?

- Họ gọi con về. Con đã lên xe, đi về phía Maine Turnpike. Con đã đóng gói bộ đồ câu cá, đã mua một hộp dụng cụ - anh thở dài - Con nhớ khu hồ. Con đã mong được thấy nó cả năm nay.

Đó cũng chính là điều Mary luôn mong ngóng. Anh nhìn những chiếc cúp bơi lội trên giá sách. Mary là một nàng tiên cá nhỏ bé, cứng đầu. Cô sẽ rất vui sướng nếu cả đời được sống dưới nước và nếu cô có mang cá khi sinh ra. Anh nhớ cô thật nhẹ nhàng và mạnh mẽ thế nào khi một lần bơi dọc hồ. Anh nhớ chính hai cánh tay đó đã bị tàn phế như hai thanh gỗ trong buồng bệnh.

- Sau khi xong vụ này - bà Rose nói - Con vẫn có thể tới hồ.

- Con không biết có phá được vụ này không.

- Nói vậy chẳng giống con chút nào. Con thật chán nản!

- Đây là một loại tội phạm hoàn toàn khác, mẹ ạ. Nó do một kẻ nào đó gây ra, và con không hiểu nổi hắn.

- Con luôn luôn làm được.

- Luôn luôn sao? - anh lắc đầu cười - Mẹ tin tưởng con quá đấy.

- Mary từng nói vậy. Nó thích khoác lác về con lắm, con biết không?

Anh ấy luôn bắt được tội phạm.

Nhưng phải trả giá thế nào? Anh tự hỏi, nụ cười trên môi anh tắt dần. Anh nhớ những đêm đến hiện trường vụ án, những bữa tối bỏ dở, những ngày cuối tuần mà tâm trí anh chỉ nghĩ đến công việc. Và Mary đã ở đó, kiên nhẫn chờ anh để ý đến.

Nếu anh có một ngày để sống lại, anh sẽ dành từng phút bên em, ôm em trên giường, thì thầm những bí mật dưới tấm chăn ấm.

Nhưng Chúa không cho ta cơ hội thứ hai như vậy.

- Con bé rất tự hào về con - bà Rose an ủi anh.

- Con cũng tự hào về cô ấy.

- Hai con đã chung sống hai mươi năm. Điều đó đã rất tuyệt rồi!

- Con tham lam, mẹ ạ. Con muốn hơn thế.

- Vậy là con tức giận vì con đã không sống hết mình.

- Đúng vậy. Con nghĩ là con hối hận. Con tức giận khi cô ấy lại là người mắc chứng bệnh phình mạch, rằng cô ấy là người họ không thể cứu được. Và con tức giận vì… - anh dừng lại, thở dài - Con xin lỗi. Chuyện đó thật khó khăn. Dạo này mọi việc thật khó khăn!

- Với cả hai chúng ta - bà khẽ nói.

Họ im lặng nhìn nhau. Tất nhiê mọi việc sẽ khó khăn hơn nhiều với bà Rose góa chồng và đã mất đi đứa con gái duy nhất. Anh tự hỏi liệu bà có tha thứ cho anh nếu anh tái hôn không. Hay bà sẽ coi đó là sự phản bội? Đó chính là hành động chôn hết ký ức về con gái của bà xuống mồ sâu.

Anh bỗng thấy mình không thể chịu nổi ánh mắt của bà. Anh quay đi, lòng bối rối vì tội lỗi. Nó giống hệt cảm giác tội lỗi mà anh cảm thấy khi nhìn Catherine Cordell chiều nay. Anh đã cảm thấy một khao khát cháy bỏng, không thể nhầm lẫn.

Anh đặt chiếc cốc rỗng xuống bàn, đứng dậy.

- Con phải di.

- Vậy là con phải quay lại với công việc rồi?

- Con sẽ không nghỉ cho đến khi chúng con bắt được hắn.

Bà nhìn anh đi ra cửa và đứng đó khi anh bước qua khu vườn nhỏ, đến cổng trước. Anh quay lại nói.

- Mẹ nhớ khóa cửa, mẹ nhé!

- Ồ, con luôn nói vậy.

- Con muốn vậy thât mà - anh vẫy tay, quay đi và nghĩ:

Đêm nay sẽ dài vô tận.

Nơi chúng ta đi tùy thuộc vào điều chúng ta nghĩ, và điều chúng ta nghĩ tùy thuộc vào nơi chúng ta đi.

Điệp khúc đó cứ lặp đi lặp lại trong đầu Rizzoli như một bài hát vè khó chịu lúc còn bé khi cô quan sát bản đồ Boston được treo trên tấm bảng lớn trên bức tường trong căn hộ của cô. Cô đã treo tấm bản đồ vào hôm thi thể của Elena Ortiz được tìm thấy. Khi cuộc điều tra tiếp tục, cô dán thêm nhiều đinh ghim lên bản đồ. Có ba màu sắc, tượng trưng cho ba cô gái khác nhau. Màu trắng là Elena Ortiz, màu xanh da trời là Diana Sterling. Màu xanh lá cây là Nina Peyton. Mỗi đinh ghim đánh dấu một địa điểm có tên, đó là phạm vi hoạt động của cô gái, nơi ở, nơi làm việc, chỗ ở của những người bạn thân hay họ hàng, những cơ sở y tá cô gái đó lui tới. Nói tóm lại, đó là môi trường sống của con mồi. Ở đâu đó trong toàn bộ hoạt động của một ngày, thế giới của mỗi cô gái đã trùng với thế giới của tên Bác sỹ phẫu thuật.

Nơi chúng ta đi tùy thuộc vào điều chúng ta nghĩ, và điều chúng ta nghĩ tùy thuộc vào nơi chúng ta đi.

Và tên Bác sỹ phẫu thuật đã đi đâu? Cô nghĩ. Điều gì tạo nên thế giới của hắn?

Cô ngồi xuống. Cô ăn tối với bánh mỳ kẹp, cá ngừ và khoai tây chiên đã nguội ngắt. Cô uống bia, vừa nghiên cứu bản đồ vừa nhai. Cô treo bản đồ trên tường đối diện bàn ăn. Mỗi sáng, khi uống cà phê, mỗi tối ăn cơm - nếu hôm đó cô về nhà ăn - thì cô sẽ không rời mắt khỏi những đinh ghim. Trong khi những phụ nữ khác treo tranh hoa lá, những phong cảnh nên thơ hay tranh quảng cáo phim thì cô lại ở đây, nhìn chăm chăm tấm bản đồ khô khan, lần theo đường đi của những người đã chết.

Đây chính là cuộc sống của cô: ăn, ngủ và làm việc. Tính đến nay, cô đã sống trong căn hô này ba năm nhưng trên tường không có mấy đồ trang trí. Không cây cối (cô cũng chẳng có thời gian tưới nước cho chúng), không đồ trang trí ngớ ngẩn, thậm chí không có lấy một tấm rèm cửa. Giống như cuộc sống của cô, ngôi nhà của cô chỉ để cống hiến cho công việc. Cô yêu và sống vì công việc. Cô đã biết rằng mình muốn trở thành cảnh sát khi mới mười hai tuổi, khi đó, một nữ thám tử đến thăm trường cô vào ngày Lễ Lao Động. Đầu tiên, lớp cô đã nghe về một y tá, một luật sư, rồi một thợ làm bánh, một kỹ sư. Tâm trạng bồn chồn của các học sinh ngày càng tăng. Dây chun bị bắn loạn xạ giữa các hàng ghế. Một viên đạn giấy bay ngang lớp. Rồi nữ cảnh sát đứng dậy, súng giắt bên hông. Cả lớp đột nhiên im bặt.

Rizzoli không bao giờ quên hôm đó. Cô không bao giờ quên những cậu con trai đã sợ hãi nhìn

một phụ nữ

như thế nào.

Giờ cô đã là một nữ cảnh sát. Mặc dù cô có thể khiến những bé trai hai tuổi khiếp sợ nhưng cô không bao giờ có được sự tôn trọng của những người đàn ông trưởng thành.

Là người giỏi nhất

chính là chiến lược của cô. Phải làm việc nhiều hơn họ, tỏa sáng hơn họ. Vì vậy cô ngồi đây, làm việc trong khi ăn tối. Vụ giết người và món bánh mỳ kẹp cá ngừ. Cô tu một ngụm bia lớn, rồi ngả người về sau, nhìn bản đồ. Cô cảm giác gì đó rợn người khi quan sát bản đồ địa lý của một người đã chết. Nơi họ đã sống, nơi quan trọng với họ. Trong cuộc họp hôm qua, chuyên gia tâm lý tội phạm, bác sỹ Zucker đã đưa ra một loạt thuật ngữ như các điểm neo đậu, các điểm hoạt động, phông nền trọng tâm. Cô chẳng cần những từ ngữ quá mập mờ của Zucker hay bất cứ chương trình máy tính nào để nói cho cô biết cô đang nhìn gì và làm cách nào để giải thích chúng. Thứ cô nhìn thấy như một thảo nguyên đầy những con mồi. Các đinh ghim màu xanh tượng trưng cho lãnh địa của ba linh dương ga-zen không may. Diana Sterling nằm ở trung tâm phía bắc, ở Back Bay và đồi Beacon. Elena Ortiz ở South End. Lãnh địa của Nina Peyton ở phía đông nam, thuộc ngoại cô Jamaica Plain. Đó là ba lãnh địa riêng biệt, không có điểm giao nhau.

Còn lãnh địa của ngươi ở đâu?

Cô cố quan sát thành phố bằng cặp mắt của hắn. Cô thấy khe hở giữa những tòa nhà chọc trời, những công viên xanh mướt như những vệt cỏ trên một đồng bằng rộng lớn, những con đường mòn mà những con mồi câm điếc đi dọc theo chúng. Họ không biết một tên thợ săn đang theo dõi họ. Đó là một tên lữ khách săn mồi, kẻ phá tan cả khoảng cách về thời gian và không gian.

Điện thoại reo. Cô giật mình, bia trong chai vãi sang bên. Tệ thật! Cô lấy cuộn khăn giấy, lau chỗ bia đổ rồi nhận điện.

- Rizzoli đây.

- Chào con. Janie à?

- Vâng, con chào mẹ!

- Con chẳng bao giờ gọi lại cho mẹ.

- Gì ạ?

- Mấy hôm trước mẹ gọi cho con. Con nói sẽ gọi lại nhưng con không gọi.

- Con quên mất. Công việc ngập đến đầu con rồi.

- Tuần tới Frankie sẽ đến. Tuyệt không con?

- Tuyệt! - cô thở dài - Tuyệt lắm!

- Con chỉ gặp anh trai con mỗi năm một lần. Con không thể nói cho hứng thú hơn sao?

- Mẹ, con mệt rồi. Vụ án tên Bác sỹ phẫu thuật này diễn ra không ngừng.

- Cảnh sát bắt được hắn chưa?

- Con

là

cảnh sát mà.

- Con hiểu ý mẹ mà.

Đúng, cô hiểu. Có lẽ mẹ cô tưởng tượng ra Janie nhỏ bé đang trả lời điện thoại và phải bưng bê cà phê cho các thám tử nam đầy quyền thế đó.

- Con sẽ về ăn tối chứ? - mẹ cô hỏi, lái đề tài khỏi công việc của cô - Vào thứ sáu tới.

- Con không chắc, còn tùy xem vụ án đi đến đâu.

- Ồ, con có thể đến đây vì anh trai con chứ.

- Nếu công việc gay quá thì có lẽ con phải để dịp khác.

- Chúng ta không thể chờ hôm khác. Mike đã đồng ý sẽ lái xe đến đây vào thứ sáu.

Ồ, tất nhiên! Hãy chăm sóc cho cậu em Michael.

- Janie?

- Vâng, thưa mẹ, thứ sáu.

Cô gác máy. Bụng cô sôi lên vì cơn giận chưa nguôi. Đó là một cảm giác đã quá quen thuộc. Lạy Chúa! Làm sao cô đã sống sót qua thời thơ ấu vậy?

Cô cầm chai bia, uống nốt những giọt chưa bị chảy ra ngoài. Cô lại nhìn lên bản đồ. Vào lúc đó, việc bắt tên Bác sỹ phẫu thuật chưa bao giờ quan trọng với cô như vậy. Tất cả những năm làm bà chị bị lãng quên, một cô gái tầm thường đã khiến toàn bộ cơn giận của cô tập trung vào

hắn.

Ngươi là ai? Ngươi ở đâu?

Cô ngồi im một lúc, nhìn thật kỹ và suy nghĩ. Rồi cô cầm hộp đinh ghim, chọn một màu mới. Màu đỏ. Cô găm một đinh ghim màu đỏ lên đại lộ Commonweath, một đinh ghim nữa lên bệnh viện Hành hương và một đinh ghim lên South End.

Màu đỏ đánh dấu lãnh địa của Catherine. Nó giao với lãnh địa của cả Diana Sterling và Elena Ortiz. Cordell là một nhân tố chung. Cô ta di chuyển trong lãnh địa của cả hai nạn nhân.

Và mạng sống của nạn nhân thứ ba, Nina Peyton, giờ đang nằm gọn trong tay cô ta.

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 14

Đang tải bình luận...