Quán (Bộ 7 Tập)

Chương 7Lồng lạc lối

Chương 7Lồng lạc lối

Chương 7

Lồng lạc lối

Quay lên phòng mình trên tầng hai, tôi mau chóng thay quần áo, xỏ giày tử tế rồi tới cửa sổ xem mưa gió thế nào. Vừa kéo cửa kính mờ lên, đẩy cửa chớp ra, tôi đã phải đưa tay che chắn, lùi lại ngay vì ánh sáng bên ngoài.

Lúc này là 11 giờ trưa. Trời âm u, nhiều mây mù đến nỗi không có vẻ gì là gần trưa. Thế mà ánh sáng tự nhiên vẫn làm tôi chói mắt, chứng tỏ trong nhà vô cùng tối tăm. Đợi một lúc để thích nghi, tôi lại gần cửa sổ lần nữa. Hít một hơi thật sâu làn không khí ẩm ướt vừa tràn vào phòng, tôi quan sát khung cảnh không nhìn rõ hồi đêm.

Sân Ám Hắc Quán rất rộng, bao quanh là bốn ngôi nhà giờ đều đang tắm mình trong mưa. Khoảnh sân không được chăm sóc, dấu tích sót lại cho thấy trước đây nó từng là khuôn viên kiểu Tây tráng lệ. Hiện tại từ chỗ tôi nhìn xuống, có bảo trông nó hoang tàn như bị bỏ rơi thì cũng chẳng ngoa. Màu đất bùn còn nổi bật hơn sắc xanh của lá, cây cối đều héo úa. Nhìn chung có thể mô tả bằng từ “đen đúa”. Các nhà xung quanh cũng vậy. Tuy thiết kế và kết cấu khác nhau, nhưng đều có thể miêu tả bằng từ u ám.

“Ám Hắc Quán..” Tôi vô thức thầm thì cái tên kì quái.

Sau đó... tôi vịn vào khung cửa sổ, nhoài người ra ngoài, ngắm nghía kĩ càng từng phần dinh thự

Nằm bên kia sân, đối diện phòng tôi là Nhà Tây (tức Nhà Dahlia). Genji có nói Tây và Đông là hai nhà lâu đời nhất ở đây. Từ khi hoàn công, Nhà Tây luôn là nơi ở của gia chủ. Nói cách khác, nó là trung tâm Ám Hắc Quán. Tường hải sâm trông như da bò sát, đôi chỗ trổ cửa sổ nhỏ khung đen, cửa chớp đóng im im. Mái lợp ngói và đá phiến đen. Nhà Tây cơ bản giống Nhà Đông, riêng mé Nam dựng thêm tháp mái vuông rất dốc. Tính từ chân đến đỉnh, tháp cao tầm bốn tầng, tương đương tháp Thập Giác. Tường tháp hình như trát vữa, cũng màu đen. Ấn tượng tổng thể là tăm tối, lớp sơn trên các khung cửa sổ và cửa chớp đều bong tróc loang lổ, kết hợp với dây leo mọc chi chít, tạo thành mảng màu lạ lùng không rõ đen, xanh lá hay xám.

Nhà Bắc bên phải tôi là nhà bằng đá, bề ngoài bình thường hơn Nhà Đông hay Nhà Tây. Tường xây bằng đá tảng, mái kiểu cơ bản, dốc hai bên, mang lại cảm giác vững chãi, tình cờ gợi nhớ tới biệt phủ của nam tước Furukawa. Trông ngôi nhà như phủ thêm một lớp sơn đen lên cái nền vốn đã đen tuyền...

Nhà Nam bên trái tôi, nơi ở của người làm, là nhà hai tầng tường ốp gỗ đen, trông đơn giản khiêm nhường hơn hẳn ba nhà còn lại. Nhìn qua một lượt thì không riêng Nhà Nam mà toàn bộ dinh thự đều không có ban công mở ra sân như các dinh thự kiểu Tây khác ở Nhật. Phải chăng để thể hiện nơi đây không muốn chào đón thế giới bên ngoài?

Dưới sắc trời đen kịt, những ngôi nhà u ám nằm ngay ngắn cạnh nhau...

Ngắm nghía lần nữa, tôi thấy tổng thể Ám Hắc Quán thật giống tác phẩm cắt giấy nghệ thuật, hay cái bóng, giống như ấn tượng đầu tiên của tôi về nơi này khi đứng trước Nhà Đông vào chiều tối qua. Cái bóng không thực sự tồn tại, không phải thực thể. Chi được cắt ra từ một tờ giấy màu đen nên mỏng dính, nhẹ hều và xẹp lép.

Bỗng nhiên, tôi chú ý đến một thứ ở giữa sân. Dưới bụi cây hoàng dương lá nhỏ hoặc ô rô bà gì đấy lấp ló một công trình be bé, không giống đình hóng mát thông thường mà giống ụ đá đen mọc lên từ đất. Cái gì thế nhỉ?

Gió bỗng rít vang, cây cối trong sân xào xạc. Mưa li ti bất ngờ hắt vào phòng, gió mạnh đến mức đẩy sập cửa chớp. Tôi giật mình lùi lại. Căn phòng thiếu sáng lại tối mù đi. Tôi thở dài, đóng cửa sổ lại như cũ rồi quay về giường, lấy điếu thuốc trên bàn đưa lên miệng châm lửa, vừa hút vừa tính toán. Gió mạnh nhưng mưa không lớn lắm. Tầm này vẫn ra ngoài kí họa được... Tôi dập thuốc lá, đứng dậy lấy bút chì và sổ vẽ, đội mũ phớt và ra khỏi phòng. Tính loanh quanh tham quan đôi chút trước khi xuống tầng một nên tôi rẽ phải, đi cho hết hành lang. Về gần cuối, hành lang bỗng hẹp lại rồi ngoặt sang trái. Tôi tò mò đến gần thì thấy còn một đoạn hành lang ngắn nối với cầu thang dẫn lên trên. Tầng ba ư? Tôi sửng sốt, nghiêng đầu thắc mắc. Nhà Đông còn tầng ba hay gác mái gì đấy ư? Chiều qua, khi ngắm Nhà Đông từ bên ngoài, tôi không hề nhận ra.

Tôi nghi hoặc bước lên cầu thang. Thảm sàn trải đến tận chân cầu thang, bậc thang sơn đen, nhìn kĩ thấy phủ bụi mỏng. Cầu thang không quá dốc, trần nhà vừa cao vừa đen. Sau tầm mười bậc thang thì có chiếu nghỉ, từ đây ngoặt sang trái một góc vuông và tiếp tục đi lên, nhưng tới chiếu nghỉ tôi đã ngớ người.

Cầu thang dẫn lên song không còn tầng nào nữa. Đỉnh cầu thang tối đen như bị trần nhà nuốt chửng. Trong khoảnh khắc, tôi ngỡ mình nhìn nhầm, phải chớp mắt, tiến thêm hai ba bậc, song đúng là đường cụt. Hay lại là lối vào bí mật giống cửa xoay? Tôi kiểm tra thật kĩ trần nhà và bức tường ở đỉnh cầu thang. Trần và tường đều không có lấy một kẽ hở hay dấu hiệu nào chứng tỏ có cửa ẩn, đích xác là đường cụt.

Tôi sực nhớ lời Genji nói tối qua.

Một ngôi nhà bất tiện, không thích hợp để sinh sống, hoặc khiến người ta phải nghi ngờ đầu óc của kiến trúc sư...

Ám Hắc Quán mô phỏng nguyên mẫu công trình của Julian Nicorodi. Cầu thang cụt vô nghĩa này là do Nicorodi mà ra hả? Mặt khác, cầu thang cụt cũng làm tôi liên tưởng tới Nhị Tiếu Đình, một ngôi nhà kì quái nổi tiếng ở Fukagawa, Tokyo xưa. Đó là ngôi nhà tự thiết kế xây dựng của một thương nhân chuyên kinh doanh Âu phục. Thương nhân mắc chứng tâm thần phân liệt, bị đưa vào nhà thương điên và qua đời tại đó. Báo chí thời ấy gọi Nhị Tiếu Đình là nhà ma của kẻ điên, có nhiều cấu trúc lạ đời như cầu thang vô định, tủ tường vô dụng, những lỗ thủng lắp kính thay cửa sổ... Có người cho rằng ngôi nhà phản ánh ý tưởng quái gở hay tư duy lệch lạc của kẻ tâm thần, song cũng có người lại cho đấy là nghệ thuật...

Tóm lại, Ám Hắc Quán không chỉ đen ngòm, mà còn chứa đựng nhiều điều kì lạ. Nghe cặp song sinh bảo có những kết cấu ngầm khác nữa. Mới nghĩ là tôi đã háo hức rồi.

Rời khỏi cầu thang cụt, tôi định đi luôn xuống tầng một thì nghe thấy tiếng người, liền dừng bước ngó quanh. Không phải giọng nói, mà giống tiếng ngáp dài, phát ra từ căn phòng cạnh cầu thang. Ai đó mới dậy, đang vươn vai thì phải? Genji ư?

Tôi gõ nhẹ vào cửa đôi, không đợi trả lời đã đẩy cửa bước vào. Căn phòng này là nơi tối qua tôi nhìn ra và chứng kiến cảnh thanh niên lạ mặt rơi khỏi tháp. Người vừa ngáp đang nằm trên ghế tựa kê sát góc trái căn phòng.

“Ơ? Ááá...” Trông thấy tôi, gã giật mình kêu lên rồi bật dậy, một tay cào mớ tóc rối, tay kia quơ cặp kính tròn viền bạc trên bàn bên cạnh đeo vào, nghiêng đầu chằm chằm nhìn tôi. Người này bằng hoặc kém Genji vài tuổi, mặt tròn, dáng người thấp bé. “À... Cậu là khách của Genji? Tên là Chuya nhỉ?”

Tôi lặng lẽ gật đầu chào. Gã ngáp thay lời đáp. Trên chiếc bàn vừa để cặp kính còn có chai whisky và ly rượu thủy tinh đỏ thẫm. Gã với tay lấy cái ly, nhắm mắt nhắm mũi uống nốt chỗ rượu, lại ngáp rõ to và gãi đầu sồn sột, mặt mũi lởm chởm râu ria.

“Ôi trời, hôm qua về đây, tôi tính làm thêm chén nữa, ai dè tỉnh dậy đã thấy mình nằm trên ghế. Ầy, đau đầu quá!” Tuy kêu ca, gã vẫn rót thêm rượu, nói líu lô, tay run run.

“Anh là.” Tôi ngập ngừng hỏi. “Suto Isao phải không?” Genji có người em họ là một “nghệ sĩ tự phong” nghiện rượu. Ngẫm lại thì chỉ có thể là người này.

“Đúng đấy, tôi là Isao. Anh Genji kể với cậu về tôi à?”

“Vâng. Ví như hôm qua anh với bác sĩ Noguchi khề khà bên phòng khách Nhà Bắc.”

“Phải, phải. Ông già uống khá phết! Lần nào uống cùng ông ta tôi cũng say bí tỉ. Bực thật.”

Isao lắc đầu chán chường. Midori Mio mà thấy bộ dạng này thì sẽ ví gã với loài vật nào. Cầy hương hay gấu trúc... Hình ảnh con lười thình lình hiện lên. Liên tưởng của tôi thật thiếu thơ mộng.

“Cậu có vẻ hiếu kì đấy... Đừng đứng đực ra thế, vào đây đi.”

Tôi bước vào phòng theo cái vẫy tay mời gọi của Isao. Gã nâng ly, uống một ngụm rồi hỏi tôi, “Làm tí không?” Tôi lắc đầu từ chối và ngồi xuống ghế bành.

“Kia là sổ vẽ hả? Cậu là họa sĩ à?”

“Không. Thích kí họa kiến trúc thôi.”

“À, sinh viên kiến trúc. Công nhận cậu hiếu kì thật. Vất vả mò tới nơi khỉ ho cò gáy chỉ để tham quan dinh thự u ám này.”

“Vâng.” Tôi gật gù cho có, song lập tức tiếp lời, “Tôi thấy nơi này thú vị đấy chứ.”

“Thú vị ư?” Con lười nhún vai thắc mắc, lại nhấp thêm ngụm rượu. “Hừm, cũng đúng. Quả thật hay ho. Chắc tôi cũng thấy vậy nên mới hay sang đây với ông bô.”

"Ừm."

“Cậu thực sự đến đây chỉ để tham quan mấy ngôi nhà hả?” Isao nheo mắt, dò xét nhìn tôi.

“Vâng.” Tôi đáp, vô thức ôm chặt sổ vẽ.

“Anh Genji không nói gì với cậu à? 24/9 rồi mà.”

“À, đêm nay là Đêm Dahlia, thì sao...”

“Ôi trời, gì thế! Cậu biết luôn hả?” Isao tháo kính bỏ xuống bàn, uống một hơi cạn ly rồi thở dài, chống cằm suy tư. Mặt không đỏ, song rõ ràng đã say hơn ban nãy. “Tóm lại là, cậu đến đây cũng vì những bí mật trong nhà Urado?”

“Không, tôi chỉ...”

Tôi toan phủ nhận, Isao đã ngắt lời.

“Chẳng thế thì sao. Cái nhà này thật thú vị, mà cũng thật đáng sợ. Những người ở đây đều bị thứ đó nguyền rủa... Genji cũng thế. Ông bô cũng thế. Cố sống cố chết để kiếm thịt. Lần này còn cùng ả kia bày mưu tính kế... Chịu!” Isao lè nhè.

Tôi chỉ còn nước ngồi nghe gã huyên thuyên, đồng thời điểm lại quan hệ của mọi người trong Ám Hắc Quán. “Ông bô” là Suto Rikichi, đã đi đâu đấy từ hôm trước. “Ả kia” là Kayako, mẹ kế Isao. Nhưng “thứ đó”, “thịt”, và cả “bày mưu tính kế” là sao? Thắc mắc quẩn quanh không tan.

“Trông thế này thôi chứ tôi tin vào khoa học hiện đại lắm! Cho dù hiểu được các hiện tượng tôn giáo, tôi vẫn là người vô thần. Thế gian vốn không có thần thánh, lấy đâu ra ác quỷ hay phù thủy. Do con người tự huyễn hoặc ra thôi, huyễn y như đám người trong nhà này. Quan sát họ cũng thú vị ra trò.” Isao thao thao bất tuyệt, rót đầy ly rượu và nốc sạch, trông mà say theo. “Cậu có tin không? Thần linh ấy?”

Câu hỏi bất ngờ làm tôi bối rối, dù không biết trả lời thế nào, tôi vẫn ngập ngừng lên tiếng. “Cả nhà tôi theo Tịnh Độ Chân Tông. Bản thân tôi hồi bé có đến nhà thờ Thiên Chúa.”

“Ồ thế hả. Nhà ngoại tôi cũng theo Tịnh Độ Chân Tông. Thôi thôi, sao chẳng được.”

“Tôi có một đứa em trai.”

“Cậu là con cả à? Tôi là con một. Em trai cậu thế nào?”

“Nó hơi khác người. Từ tiểu học đã thích đọc văn học cổ như

Ghi nhanh bên gối

hay

Truyện Genji

.”

“À, ra là em cậu mê văn học cổ. Ừ, sao chẳng được... Hừ, xem ra tôi hiểu nhầm cậu rồi.”

“Hiểu nhầm gì cơ...”

“Cậu không hề biết về các bí mật của gia tộc này.”

Ơ hay, ban nãy tôi đã nói rồi thôi. Phải nhẫn nhịn lắm tôi mới không nổi cáu với tên sâu rượu, chỉ khó chịu lườm gã một cái.

“Được. Không biết thì dựa cột nghe tôi kể đây.” Isao lè nhè, với lấy cặp kính đeo lên mắt rồi vân vê đám râu lởm chởm dưới cằm. “Tôi là nghệ sĩ.” Gã đột nhiên tuyên bố với vẻ mặt nghiêm túc.

“Vâng. Genji kể rồi...” Tôi mỉa mai.

“Rất nhiều họa sĩ tin vào thần thánh. Có kẻ còn bán linh hồn cho ác quỷ để mong làm nên kiệt tác. Nói chung, giới nghệ thuật kiểu gì cũng dính dáng tới thánh thần.”

"Thế à?"

“Tôi thì khác. Tôi trở thành nghệ sĩ để chứng minh thần thánh cóc tồn tại!”

“Thần thánh cóc tồn tại ư?” Càng lúc tôi càng thấy vớ vẩn, có nghiêm túc lắng nghe cũng vô dụng. Nhưng vì phép lịch sự lần đầu gặp mặt, tôi đành trả lời xã giao, “Thú vị đấy.”

“Thế hả? Cậu thấy thú vị? Người nói vậy thì đầy, nhưng được mấy ai hiểu.” Qua tròng kính tròn cáu bẩn, đôi mắt đỏ ngầu hấp háy.

Tôi bèn hỏi, “Cụ thể thì anh theo đuổi bộ môn nghệ thuật gì? Hội họa, điêu khắc, hay gốm sứ?”

Isao hừ khẽ một tiếng rồi tạo dáng suy tưởng hệt như tác phẩm điêu khắc nổi tiếng thế giới của Auguste Rodin, “Vấn đề là ở đó. Tôi suy nghĩ suốt ba năm rưỡi vẫn chưa biết nên chọn lĩnh vực nào.”

Tôi cố nhịn cười. Chẳng trách Genji gọi gã là “nghệ sĩ tự phong”. Isao im lặng, trầm ngâm giữ nguyên tư thế. Một lúc sau, gã lắc đầu quầy quậy rồi lại làm hớp rượu. Nhận thấy cứ ngồi tiếp chuyện thì nhỡ hết việc, tôi bèn đứng dậy. Cứ như lúc này mới nhớ ra còn người khác, Isao ngước lên nhìn, “Ơ, Chuya đấy à? Mà sao Genji dẫn cậu về đây?”

“Chà...” Đây cũng là câu hỏi tôi thắc mắc suốt đêm qua. “À nhân tiện, ba anh đã về chưa?”

“Hả? Ông bô á?”

“Tối qua nghe kể, ba anh ra ngoài chưa về.”

“Tôi chịu.” Isao hờ hững đáp. “Khéo về rồi. Giờ đang nằm với ả kia cũng nên.”

“Với cô Kayako ư?”

“Ừ, với bà mẹ kế yêu quý của tôi. Vừa đến đây thì ả sốt, nằm rịt trong phòng.” Nói xong, Isao lại ngáp rõ to, đặt ly xuống bàn rồi loạng choạng đứng dậy. “Thôi, tôi phải lên giường đánh một giấc đã.”

“Anh ở Nhà Đông à?”

“Phòng ngay bên cạnh. Ông bô với ả kia đã mặt dày chiếm một phòng ở Nhà Bắc. Tôi lại chúa ghét ngôi nhà ấy.”

“Tại sao?”

“Chẳng sao siếc gì sất!” Isao sỗ sàng đáp, và đế thêm, “Nếu nhất định phải nói, thì chắc là... do nó gần trung tâm nên ghét.”

“Trung tâm?”

“Gặp sau nhé! Cẩn thận đừng để bị nguyền. Ngủ ngon.”

Isao liêu xiêu bước ra khỏi cửa. Trông theo gã, tôi chợt nghĩ, con lười này lắm mồm quá.

Cuối tiền sảnh Nhà Đông có một cửa đôi màu đen, phía trên trổ ô thoáng hình bán nguyệt. Xuống đến tầng một, tôi liền đi thẳng tới đó. Ô thoáng lắp kính đỏ thẫm đến mức không có ánh sáng rọi qua thì khó mà xác định được là đen hay đỏ. Kết cấu giống cửa chính và khác hẳn các cửa còn lại. Ở vị trí này thì đây ắt là cửa mở ra sân.

Cửa không khóa. Dưới luồng sáng đỏ rực do lọc qua kính màu, tôi dứt khoát đẩy cửa. Quả nhiên, qua cửa là hàng hiên khá rộng, lát gạch đen tạo hình vòng cung vươn ra sân. Mưa vẫn lất phất, gió tạm ngừng thổi. Tôi kẹp sổ vẽ vào nách, bước từ hiện xuống khoảnh sân phủ đầy cỏ dại. Mưa gió làm nhiệt độ giảm mạnh. Trang phục của tôi hôm nay giống hôm qua, sơ mi dài tay màu lông chuột cùng ghi lê xanh đậm, vậy mà tôi vẫn thấy lành lạnh. Cỏ dại ẩm ướt dưới chân cũng thật lạnh lẽo.

Cảnh vật dưới mưa phùn vẫn giống như lúc tôi quan sát từ cửa sổ tầng hai. Mọi thứ nhuốm màu u ám. Bốn ngôi nhà bao quanh trông giống tác phẩm cắt giấy nghệ thuật kì quái. Tôi quay vào hàng hiên cho khỏi mưa, đứng đó mở sổ vẽ, tay trái làm giá đỡ, tay phải cầm bút chì, trước tiên phác lại Nhà Tây ở bên kia sân. Tường hải sâm nhằng nhịt dây leo, mạn trái sừng sững ngọn tháp vuông trát vữa đen, nổi bật trên nền trời xám xịt. Trong mắt tôi lúc này, ngôi nhà cổ kiểu Tây có cái tên đầy ẩn ý là Nhà Dahlia ấy trông thật đáng sợ, gợi nhớ lời Isao nói trước khi bỏ đi, “do nó gần trung tâm”. Chắc “trung tâm” là Nhà Tây. Tối qua Genji cũng bảo Nhà Tây “theo một nghĩa nào đó là trung tâm của dinh thự”. Mọi người gọi Nhà Đông là “Nhà ngoài”, còn Nhà Tây là “Nhà trong”. Chỉ chữ “trong” đã nói lên tất cả. Nó là nơi sâu nhất, trọng yếu nhất, cũng là nơi thờ phụng thần linh. Cẩn thận đừng để bị nguyền. Trước khi đi, Isao đã cảnh báo như vậy. Thứ gì ếm cơ? Nhà Urado, trong đó có Genji, đang bị thứ gì ếm? Quá là bí hiểm đi. Suốt thời gian kí họa, tôi càng lúc càng có thôi thúc tới gần Nhà Tây, nhưng lại không muốn sổ vẽ bị ướt. Cuối cùng tôi để sổ vẽ lại hàng hiên, vừa bước ra sân vừa tiếc nuối vì đã không mang theo ô. Từ hàng hiện có lối đi xuống, hai bên là cây cối trơ trụi khô héo, tới công trình be bé có cây xanh bao quanh ở giữa sân thì chia làm hai ngả Bắc-Nam, lượn vòng lên rồi cùng chạy tiếp đến Nhà Tây. Tôi rẽ phải, đi mé gần Nhà Bắc.

Nhà Bắc có cửa và hàng hiên khá giống Nhà Đông, cũng có lối đi xuống sân. Trên tường đá đen là dãy cửa sổ đóng chặt.

Tôi lặng lẽ đi dưới mưa phùn. Mặt đất đẫm nước mưa nhão nhoét, khó chịu. Cảm giác mỗi bước chân nặng như đeo chì. Nhà Tây càng lúc càng gần. Cửa chớp tầng một tầng hai đều đóng kín. Gió lùa làm dây leo trên tường hải sâm lay động như sóng. Đây là Nhà Dahlia, trái tim của Ám Hắc Quán.

Tôi chợt khựng lại. Xen lẫn trong tiếng mưa rả rích cùng tiếng cỏ cây lao xao như thì thầm là một âm thanh khác thường. Két két... Nghe giống kim loại cọ vào nhau. Từ đâu vang ra? Tôi đảo mắt nhìn quanh để tìm nguồn âm thanh, và lập tức chú ý bên trái, chỗ bụi cây xanh um (giờ mới thấy không phải hoàng dương hay ô rô bà mà có vẻ là thủy tùng). Âm thanh vừa rồi phát ra từ công trình be bé trong ấy chăng...

Lối đi từ từ cong về bên trái, dẫn tới Nhà Tây. Dọc đường chắc sẽ có chỗ rẽ sang công trình. Tôi khẩn trương rảo bước. Mưa gió dữ dội hơn như hòa nhịp cùng bước chân tôi. Cây cối xào xạc rõ to.

Đúng như tôi nghĩ, đi hết đoạn đường cong thì đến ngã ba. Rẽ phải sang Nhà Tây, đi thẳng đến Nhà Nam, rẽ trái chính là công trình giữa sân. Tôi đã thắc mắc về nó lúc nhìn từ cửa sổ tầng hai. Âm thanh khác thường vừa rồi nghe giống tiếng cửa đóng mở...

Thình lình ở ngã ba đằng trước xuất hiện một bóng người đen ngòm. Tôi khựng lại, suýt nữa hét lên. Ai vậy nhỉ? Trông thật quái lạ. Áo choàng đen rộng lùng thùng, đầu đội mũ trùm kín mít để tránh mưa, chiều cao khiêm tốn, không rõ mặt mũi, giới tính hay tuổi tác. Có thể thấy chiều cao khiêm tốn là do đang đi lom khom chứ không phải bị gù giống bác Hiruyama. Người đó lầm lũi đi về phía Nhà Nam, không biết có nhận ra tôi đang chòng chọc dõi theo không. Dường như có đứng lại liếc tôi, hay lại do tôi tưởng tượng? Dù sao... Như tôi thấy thì từ vẻ ngoài đến hành động của người đó không khác nào cái bóng biết đi, thậm chí tôi những tưởng mình đã bắt gặp một thứ không thuộc về thế giới này.

Khoảnh khắc cái bóng khuất xa, gió bỗng rít qua đầu kéo tôi ra khỏi trạng thái mụ mẫm.

Cái bóng xách một chiếc hộp màu đen có quai. Đựng gì thế nhỉ? À không, trước tiên phải làm rõ lai lịch cái bóng đã. Người này ở Ám Hắc Quán, vậy là người nhà Urado, hay người làm? Ít ra không phải trẻ con...

Cân nhắc một hồi xem có nên quay lại công trình be bé kia không, cuối cùng lòng hiếu kì chiến thắng, tôi liếc một vòng quanh sân rồi rẽ vào lối mà cái bóng vừa đi ra. Bụi cây bao quanh đúng là thủy tùng thật. Đây là loại cây xanh bốn mùa, trưởng thành có thể cao tới 20 mét, thường trồng trong sân vườn kiểu Tây và cắt tỉa tạo hình động vật. Bụi thủy tùng này chắc cũng từng được cắt tỉa như vậy. Công trình bí hiểm vẫn toát ra ấn tượng y như lúc tôi thấy lần đầu từ tầng hai: giống ụ đá đen mọc lên từ đất, ghép bằng đá tảng lớn màu đen. Công trình vuông vắn, hơi nhỏ để gọi là nhà, có lẽ “miếu” thì thích hợp hơn. Cửa miếu đóng kín, là cửa đôi bằng sắt cũ kĩ. Bề mặt hai cánh khắc nổi những hình kì quái, cong cong như xương sườn người, cùng hai con rắn giao nhau.

“Xương và rắn...” Tôi lẩm bẩm, chạm vào tay nắm cửa, đẩy khẽ. Cửa liền hé mở cùng tiếng két két. Trong miếu tối tăm vô cùng. Không cửa sổ, cũng không thấy công tắc đèn. Sàn lát đá đen giống tường ngoài, trần thấp như huyệt mộ. Tôi dè dặt ngó quanh. Chật hẹp vô cùng, rộng tầm 7.5-10 m2. Không có bất kì đồ đạc gì. Tôi nheo mắt, phát hiện một cánh cửa khác nằm sâu trong miếu. Cửa bằng sắt, màu đen giống cửa ra vào, nhưng là cánh đơn. Trên cửa trổ ô chữ nhật cỡ mặt người, lắp song sắt to bản gây liên tưởng tới nhà giam hoặc phòng bệnh tâm thần. Ngoài ra cửa có khóa bấm chắc chắn, giống loại khóa dùng cho tháp Thập Giác. Tôi mò mẫm, xoay tay nắm ẩm ướt, không thấy xê dịch. Tôi nín thở ngó vào qua song sắt. Không có ai, tuy nhiên...

Khi mắt dần quen với bóng tối, tôi phát hiện ra sâu bên trong có cầu thang... Cửa cầu thang hình vuông, trổ trên sàn, thấp thoáng những bậc thang đá đen dẫn xuống dưới... xuống lòng đất ư? Tôi vô thức run rẩy, gáy nổi gai ốc.

Có luồng hơi từ trong song sắt tạt ra. Quá nhẹ để gọi là gió, mang theo mùi ẩm ướt, hôi thối, hẳn là bốc lên từ bên dưới kia. Tôi nhìn không chớp mắt, thình lình nghe thấy tiếng động rất nhỏ như tiếng người, rên rỉ, trầm khàn, yếu ớt và ghê rợn. Âm thanh ấy vọng lên từ cầu thang.

Không, biết đâu chỉ do tôi tưởng tượng. Tiếng động mà tôi nghe thấy có khi là tiếng bên ngoài vọng vào. Dù nghĩ vậy, tôi vẫn không giữ nổi bình tĩnh. Nỗi khiếp sợ lan nhanh khắp người, khiến bao nỗi tò mò đều bay lên chín tầng mây. Tôi ba chân bốn cẳng chạy khỏi miếu, chẳng còn lòng dạ nào đi sang Nhà Tây. Giờ tôi mới lo nhỡ có người bắt gặp và trách mắng thì sao. Vẫn men theo lối nhỏ ban nãy, tôi vội vã quay về Nhà Đông. Mưa to hơn, gió rít từng hồi, cỏ cây xào xạc...

Sắp lao lên hàng hiên lát gạch đen, tôi chợt khựng lại. Trên hiên có người đang cầm sổ vẽ của tôi, một người tôi chưa gặp bao giờ. Tuổi trạc ngũ tuần, thân hình cao ráo. Trên mình khoác áo mỏng màu cà phê chỉnh tề, đeo kính không gọng, để ria mép rất quý ông. Chắc là liếc thấy tôi, người đó nhanh tay gập sổ vào rồi đưa mắt nhìn ra.

“Chào cậu.” Người đàn ông chìa tay, cao giọng chào. “Xin lỗi vì đã tự tiện, sổ vẽ này là của cậu hả?”

“Vâng.” Tôi dè dặt đáp trước ánh mắt dò xét ấy.

“Cậu là Chuya, bạn Genji?” Người đàn ông hỏi với giọng từ tốn.

“Vâng.” Tôi vừa nói vừa chậm rãi bước tới hàng hiên.

Bỗng có tiếng lạch cạch, là tiếng cửa sập vào. Xem chừng nãy giờ, ngoài người đàn ông này còn có người khác ở đây.

“Kiyoshi con tôi đấy.” Chẳng đợi tôi hỏi, người đàn ông đã lên tiếng. “Ban nãy nó trông thấy cậu... à không, trông thấy sổ vẽ của cậu.”

"Kiyoshi ạ?"

Con khỉ.

Ví von của Midori Mio văng vẳng bên tai tôi.

Kiyoshi là một con khỉ nhăn nhó. Anh gặp thằng bé thì sẽ hiểu ngay.

Tôi nhìn về phía cửa, cố tìm kiếm mà không thấy bóng dáng con khỉ đâu.

“Xin lỗi cậu, thằng bé tò mò nhưng nhát lắm, lại vì bệnh tật mà phải ở rịt trong dinh thự”

“Cháu không để bụng đâu.” Ngoài miệng nói thế, trong lòng tôi lại băn khoăn về từ “bệnh tật”. Cặp song sinh kể Kiyoshi không đi học. Là tại mắc bệnh nặng lắm ư?

“Mưa mau hơn rồi. Nào, nhích vào đây kẻo ướt.” Người đàn ông lùi tới sát cửa, chừa chỗ cho tôi chạy lên trú, vừa vuốt tóc ra sau vừa nói, “Ti vi dự báo là sắp có bão. Biển động rất mạnh. Hôm qua ngoài khơi Oita chìm tàu chở hàng”

“Hôm qua ạ?”

“Ừ. Rất nhiều thuyền viên mất tích.”

Thông tin khủng khiếp và chân thực là thế, song lạ thay tôi lại thấy thật xa vời, như thể là chuyện ở thế giới nào đó cách biệt với nơi này.

“Hi vọng bão không ảnh hưởng đến đây. Dù sao cũng không sợ nhà bị thổi bay đâu, tuy cũ nhưng vẫn vững chãi phết đấy.”

Tôi sực nhớ tới cơn bão số 21 đổ bộ Kanto tuần trước. Đúng ngày 18, bão quét qua bầu trời Tokyo. Bấy giờ tôi đang ở phòng trọ cặm cụi chuẩn bị cho kì thi. Chuyện mới một tuần trước mà ngỡ như lâu lắm rồi. Tôi cởi mũ, giũ nước mưa và quan sát người đàn ông lần nữa.

“Cha của Kiyoshi... Chú là Urado Seijun ạ?”

“Đúng rồi. Genji kể nhiều chuyện cho cậu quá nhi!”

“À, không phải Genji kể đâu ạ...”

Chú thì giống diều hâu hoặc đại bàng.

Giọng cặp song sinh lại vang lên bên tai tôi.

Tất nhiên cũng không thể bay.

Cặp song sinh ví von xác đáng đấy, khuôn mặt Seijun góc cạnh hệt như loài chim săn mồi. Ánh mắt chú ôn hòa, song vẫn ẩn giấu sự sắc bén.

“Cậu thích kiến trúc kiểu Tây nhỉ.” Không bận tâm tới câu trả lời của tôi, Seijun tiếp tục, mắt liếc xuống sổ vẽ. “Đi khá nhiều nơi nữa.”

“Vậy ạ!” Tôi cẩn trọng đáp rồi đội lại mũ. “Đúng là cháu rất thích kiến trúc, nhưng không tự tin lắm khoản vẽ vời.”

“Cậu nắm bắt khá tốt tổng quan dinh thự. Bản vẽ của cậu lột tả bản chất dinh thự rõ hơn cả ảnh chụp.”

“Chú quá khen.”

“Quê cậu ở Kyushu?”

“Vâng ạ.”

“Cậu lặn lội đi xa phết nhi. Có cả bản vẽ Tế Sinh Quán này. Hồi xưa tôi từng đến một lần. Dinh thự đó vô cùng ấn tượng.”

Trong số các dinh thự kiểu Tây còn sót lại từ cuối thế kỉ 19 đầu thế kỉ 20, Tế Sinh Quán ở Yamagata nổi tiếng là kiệt tác kiến trúc độc đáo. Tôi từng tới tham quan vào kì nghỉ hè lớp Mười hai. Tính ra mới năm ngoái đây thôi, sao lại có cảm giác hoài cổ đến thế. Đó là một kiến trúc gỗ mười bốn cạnh bao quanh một khoảnh sân, mặt tiền là nhà ba tầng thiết kế cầu kì. Tầng một có hình bát giác không đều, tầng hai hình thập lục giác đều, tầng ba hình bát giác đều. Tường ngoài ốp gỗ màu vàng nhạt tươi sáng, tay vịn bao lơn sơn màu lam, cột nhà và khung cửa sổ màu đỏ gạch... Phối màu rực rỡ làm dinh thự càng thêm nổi bật.

“Ám Hắc Quán thì sao? Cậu thấy thế nào?” Seijun hỏi.

Tôi quay người nhìn sang Nhà Tây rồi đáp, “Cùng mang hơi hướm phương Tây, song dinh thự này đem tới cảm giác khác hẳn Tế Sinh Quán. Nhìn chung... khá bí bách. Trái với ấn tượng phóng khoáng thường gặp ở các kiến trúc kiểu Tây cháu từng đến.”

Seijun gật đầu, “Đúng là có cảm giác ấy. Bí thật. Bí theo nhiều nghĩa.”

Nói đoạn chú trả sổ vẽ cho tôi. Tôi nhận lấy và hỏi.

“Trong bốn nhà, nhà nào mới nhất? Nhà Bắc phải không ạ?”

“Ừ.” Seijun mỉm cười hiền hậu. “Hồi trước là nhà gỗ, sau xây lại như bây giờ.”

“Cháu nghe nói nhà cũ bị cháy.”

“Dinh thự này có duyên với lửa lắm.” Seijun nhận xét giống hệt Genji. “Thế nên Nhà Bắc xây luôn bằng đá, đơn giản là để tránh hỏa hoạn...”

“Thế ạ!”

“Nhà Nam xây từ trước Thế chiến 2, cuối những năm 1920. Vốn dĩ ở kia không có ngôi nhà nào cả. Chỗ ở của người làm là một dãy nhà mái bằng nằm tách biệt ở tuốt cực Bắc hòn đảo, tiếc rằng đã bị lửa thiêu rụi.”

Sực nhớ ra một chuyện, tôi vội hỏi, “Trong số kiến trúc sư phụ trách xây mới, tu bổ Ám Hắc Quán bao lâu nay, có người kì quặc lắm phải không ạ?”

“Kì quặc á?”

“Bác sĩ Noguchi kể với cháu thế. Hôm qua lúc cháu nói là phấn khích khi tham quan nơi đây, bác sĩ liền bảo trước kia có ông kiến trúc sư cũng nhận xét tương tự, mỗi tội ông ta khá kì quặc.”

“Ồ.” Mắt Seijun nheo lại sau tròng kính, ánh nhìn không còn hiền từ, cũng không sắc bén như diều hâu, trong khoảnh khắc lại nhuốm màu buồn bã.

“Chú biết không ạ? Ông ta là người thế nào?”

“Bác sĩ Noguchi nói ông ta kì quặc sao?”

“Vâng.”

“Cũng phải, ông ta đã lựa chọn lối sống rất khác thường. Kiến trúc sư Nakamura. Cuối cùng ông ta cũng trở thành một trong những kẻ bị nguyền rủa.”

“Bị nguyền rủa...” Tôi đặt tay lên vành mũ, chăm chú quan sát vẻ mặt Seijun, tâm trí lặp đi lặp lại cái tên kia, lòng chất chứa những cảm xúc lạ kì. Nakamura... Nakamura, Seiji... “Ông ta, giờ thế nào rồi?”

“Giờ á?” Seijun lại thở dài, khẽ đáp, “Ông ta chết lâu rồi.” Mưa càng lúc càng nặng hạt, hắt lên hiên. Tôi và Seijun ngừng trò chuyện, đi vào nhà.

“À, chú Seijun...” Vào tới tiền sảnh tối tăm, tôi ấp úng gọi, vì còn điều thắc mắc.

“Sao vậy?” Seijun ngoảnh lại nhìn tôi. Qua cặp kính không gọng, ánh mắt chú đã lấy lại vẻ hiền hòa, bình tĩnh cố hữu.

“Công trình nhỏ giống miếu thờ ở giữa sân là gì thế ạ?” Tôi đánh bạo hỏi.

“Cậu đã lượn ra tận đấy rồi à?” Seijun nhíu mày, “Cậu đoán xem là gì?”

Tôi không biết trả lời thế nào, có nên nhắc đến kẻ lạ mặc đồ đen và cả chuyện lén vào miếu không?

Seijun bước tới giữa tiền sảnh, lẳng lặng ngẩng mặt quan sát trần nhà rồi chậm rãi liếc tôi, đoạn đánh mắt ra hàng hiên, “Là lăng mộ.”

“Lăng... mộ?”

“Phải. Công trình nhỏ ngoài sân là lối vào lăng mộ nhà Urado."

“Lối vào...” Tức là bên kia cửa sắt, dưới những bậc thang bị bóng tối nuốt chửng kia là hầm mộ ư?

“Còn gọi là ‘lồng lạc lối’.”

“Lồng ạ?” Tôi nghiêng đầu thắc mắc. “Là sao?”

“Kể ra thì khá tàn nhẫn, nhưng cực chẳng đã...” Seijun cúi đầu lẩm bẩm, rồi ngẩng lên nhìn tôi chằm chằm và bảo, “Tóm lại, ngay cả người nhà cũng không được tự tiện tới gần. Hãy nhớ lấy, cậu Chuya ạ.”

Câu hỏi còn chất chồng trong lòng, song ngoài mặt tôi vẫn phải gật đầu, “Cháu nhớ rồi.” Đúng lúc này...

“Cậu Chuya!” Phía cầu thang vang lên một giọng nữ quen thuộc. “Ôi, ra là cậu ở đây. A! Ông Seijun nữa ạ...”

Shinobu, vẫn đeo tạp dề, vội vã chạy từ tầng hai xuống, thở hổn hển thông báo, “Cậu Genji đang tìm cậu. Người ngã lầu hôm qua đã tỉnh. Mời cậu qua xem.”

Trên hành lang lát gạch từ tiền sảnh dẫn sang phía Nam, cửa sổ là kiểu cửa trượt, nhưng cũng đóng im ỉm y như cửa chớp, không một tia sáng nào lọt qua. Vì vậy hành lang u ám chẳng khác gì hồi tối. Ở cửa, ngoài đôi giày của thanh niên còn hai đôi giày khác, hẳn là của Genji và Noguchi. Nhưng trong phòng không có một ai, kể cả người thanh niên đáng lẽ đang nằm nghỉ...

Shinobu cứ giục vào đi, nên tôi làm theo, Seijun đi cùng. Vào trong hẳn rồi, tôi mới nhận ra cánh cửa trượt màu đỏ đất bên trái đang mở, ba người kia ngồi quanh chiếc bàn đen đặt giữa phòng. Thanh niên mặc áo khoác màu be ngoài sơ mi trắng ngà, mặt cúi xuống, chân duỗi thẳng, lưng dựa vào cánh cửa ngăn giữa gian thứ hai và thứ ba. Genji ngồi cạnh cánh cửa thông ra hành lang bên ngoài, Noguchi ngồi đối diện anh. Nhác thấy tôi họ cùng ngẩng lên, thanh niên kia vẫn cúi gằm.

“Ồ Chuya. Chào buổi sáng!” Genji chào, dù đã 12 giờ 20 phút trưa, “Tối qua ngủ ngon không... Ô, chú cũng đến ạ?”

“Ban nãy gặp nhau ở hàng hiên.” Seijun đáp. “Hai chú cháu nói chuyện rất vui.”

Genji ngờ vực liếc tôi, rồi nhanh chóng nhìn sang Shinobu, “Phiền chị pha trà giúp.”

“Vâng.” Shinobu trả lời chậm mất nửa nhịp, rồi ra hành lang. Tthanh niên vẫn cúi mặt, không biết có nghe thấy chúng tôi nói chuyện không. Trên chiếc bàn trước mặt anh ta là bình nước và cốc, bên cạnh còn có khăn ẩm.

“Thấy sao rồi?” Ông bác sĩ với thân hình đồ sộ như gấu khoác chiếc áo choàng nhàu nhĩ cất tiếng hỏi. “Có đau đầu hay buồn nôn không?”

Thanh niên vẫn nhìn xuống, khẽ lắc đầu.

“Có đói không? Cậu chẳng ăn gì cả, chắc là đói rồi?”

Thanh niên lại lắc đầu.

“Cậu có biết đây là đâu không?”

Thanh niên thoáng do dự, nghiêng đầu suy tư.

Noguchi hỏi tiếp, “Cậu có biết mình là ai, tới đây làm gì không?”

Thanh niên không trả lời. Chẳng bao lâu sau, anh ta rên rỉ, hai tay ôm đầu. Ngồi đối diện anh ta qua bàn, tôi và Seijun lặng lẽ quan sát. Genji nhún vai với chúng tôi, “Suốt từ nãy tới giờ cậu ta cứ như thế. Một tiếng trước, Shishido trông thấy cậu ta lảo đảo gần Nhà Nam. Sau đó Tsuruko tới gọi tôi.”

"Shishido là ai?"

“À, đầu bếp nhà này, tên đầy đủ là Shishido Yosaku. Ngoài việc lo liệu các bữa ăn, Shishido còn làm vài việc vặt.”

“Anh ta lang thang ở Nhà Nam một mình sao?”

“Nghe nói thế.” Genji liếc sang, thanh niên vẫn ôm đầu bằng hai tay, khuỷu tay chống lên bàn. “Shishido đã biết tin về cú ngã nên lúc ấy có hỏi han, song không thu được kết quả gì. Lúc tôi chạy tới thì cậu ta đã được Tsuruko đưa về đây. Có phải thế không?” Genji quay sang nhìn thanh niên, “Cậu nói gì đi. Chúng tôi sẽ không trách mắng hay bắt nạt cậu đâu.”

Thanh niên vẫn không phản ứng.

“Hay anh ta không nói được?” Tôi xen vào. “Tối qua bác sĩ Noguchi cũng bảo thế nhỉ?”

“Khả năng ấy rất lớn.” Noguchi gật đầu.

Tôi lại ngửi được mùi rượu, không biết tối qua bác sĩ đã uống bao nhiêu nữa.

“Mà có thể là triệu chứng tạm thời do quá sợ hãi.”

“Muốn nói nhưng không nói được ấy ạ?”

Genji chống khuỷu tay lên bàn giống thanh niên rồi hỏi, “Cậu nghe thấy chúng tôi nói không?”

Thanh niên bỏ tay xuống, khẽ gật đầu, mặt vẫn cúi gằm.

“Nghĩa là cậu không nói được, không thể phát ra tiếng, phải không?”

Thanh niên ngập ngừng rồi khẽ gật đầu sợ sệt.

“Ra thế...” Genji bối rối tựa má vào lòng bàn tay, rồi chợt nhớ, “A, xem nhé...” Anh thọc tay vào túi quần, lôi ra một sợi dây màu bạc. Bên dưới sợi dây dĩ nhiên là chiếc đồng hồ quả quýt tìm được trên bao lơn tháp Thập Giác. Genji để nó trước mặt thanh niên. “Cậu có nhận ra chiếc đồng hồ này không?”

Thanh niên chầm chậm đưa mắt nhìn đồng hồ trên bàn, sau đó nắm sợi dây bạc bằng tay phải và từ từ nhấc lên, tay trái đỡ bên dưới, khăn tay ở tay trái đã thay bằng băng gạc, chắc là Noguchi băng bó lại cho anh ta.

Thanh niên ngẩng phắt lên. Chiếc đồng hồ quả quýt khẽ đung đưa trước mắt anh ta, lấp lánh ánh bạc. Trên gương mặt vốn thờ ơ dần dần xuất hiện những cảm xúc nhỏ. Có lẽ là ngạc nhiên. Mỗi anh ta mấp máy nhưng không ra tiếng.

“Cậu nhận ra chiếc đồng hồ này hả?” Genji nhoài người tới hỏi, thanh niên vẫn đăm đăm nhìn chiếc đồng hồ. “Chuya!” Genji quay sang trỏ quyển sổ vẽ, bảo tôi, “Cho tôi mượn nhé! Cả bút nữa, bút mực hay bút chì đều được.”

Genji cầm bút chì tôi đưa, mở trang cuối sổ vẽ ra... Tất nhiên giấy còn trắng tinh. Anh đẩy sổ vẽ đến trước mặt thanh niên. Anh ta đặt đồng hồ quả quýt xuống bàn, ngơ ngác nhìn Genji.

“Đây, dùng cái này này.” Genji dúi bút chì vào tay anh ta. “Không nói được thì trả lời bằng bút. Tôi hỏi cậu mấy câu đúng sai đơn giản nhé. Đúng thì ngoặc hình tròn, sai thì gạch chéo, nếu không đúng không sai, hoặc cậu không biết, thì vẽ hình tam giác... Cậu hiểu chưa?”

Mất một lúc tiêu hóa, thanh niên cũng hiểu yêu cầu của Genji, anh ta nắm lấy bút chì bằng tay phải, động tác hơi lóng ngóng. Anh ta kéo sổ vẽ ra trước mặt, vạch một kí hiệu xiêu vẹo nhưng vẫn nhìn ra được là hình tròn. Chắc là để trả lời cho câu “Hiểu chưa?” của Genji.

“Tốt. Bắt đầu... Cậu có nhận ra đồng hồ không?”

Thanh niên lóng ngóng vẽ một hình tròn.

“Đồng hồ của cậu hả?”

Lại vẽ hình tròn.

“Mặt sau đồng hồ khắc hai chữ “T.E’, đấy là viết tắt tên cậu ha?"

Thanh niên chần chừ một lúc, rồi vẽ hình tam giác. Tôi không rõ ý anh ta là “không đúng không sai” hay “không biết”. “Tôi hỏi lại lần nữa. Cậu có biết mình là ai không?” Gạch chéo.

“Cậu có biết đây là đâu không?”

Mất một lúc. Vẫn gạch chéo.

“Chập tối qua, cậu trèo lên tháp Thập Giác rồi ngã từ bao lơn tầng thượng xuống, bất tỉnh nhân sự. Chúng tôi phát hiện và đưa cậu vào đây. Đồng hồ quả quýt này rơi trên bao lợn... Cậu có nhớ không?”

Gạch chéo.

“Biết ngay mà.” Genji chậm rãi sờ cái cằm nhọn, lẩm bẩm. “Đầu óc mụ mẫm rồi. Đây là đâu, tới làm gì, thậm chí bản thân là ai cũng quên. Cú va đập lúc ngã đã làm ảnh hưởng đến kí ức cậu ta.” Anh lại hỏi, “À này, cậu có cảm thấy mình mất trí nhớ không?”

Thanh niên lóng ngóng vẽ hình tròn. “Ừm.” Genji thở dài.

Thanh niên cũng thở dài, thẫn thờ nhìn quyển sổ vẽ trên bàn. Mất kí ức, dòng thời gian trống rỗng... Tôi không hề muốn nhớ lại bộ dạng bản thân năm tháng trước chút nào, nhưng nó lại ùa về và chồng lên hình ảnh thanh niên đang ngồi kia. Dù ít dù nhiều, Genji cũng sẽ nói chuyện với thanh niên này bằng tâm trạng như với tôi hồi đó.

“Tôi sẽ kể lần lượt từng chuyện xảy ra chập tối qua nhé.” Genji từ tốn nói. “Đây là tư gia nhà Urado, nằm trong núi sâu thuộc Kumamoto, Kyushu. Tư gia này xây trên một đảo nhỏ tọa lạc giữa hồ Thấy Bóng. Hôm qua là 23/9, vì một lý do nào đó mà cậu tới đảo, trèo lên đỉnh tháp Thập Giác trong khuôn viên, đi ra bao lơn đúng lúc xảy ra động đất, có thể vì thế mà cậu ngã xuống. Bấy giờ cậu Chuya đây đang đứng bên cửa sổ nhà này bắt gặp. Tôi và Chuya vội chạy sang, thấy cậu bất tỉnh ở chân tháp nên khiêng về. Người cứu chữa cho cậu là bác sĩ Noguchi. May mà cậu không gặp nguy hiểm đến tính mạng, cũng không gãy xương hay có thương tích nghiêm trọng nào khác. Đêm qua cậu có tỉnh lại một lần, ngơ ngác nói không ra tiếng, hệt như bây giờ. Đại thể câu chuyện là thế.” Genji dừng lại chốc lát, ngậm một điếu thuốc. “Sao? Nghe tôi kể xong có nhớ ra gì không? Nhớ cái tên thôi cũng được.”

Thanh niên cầm bút ngồi yên, nhíu mày, đôi môi nứt nẻ mím chặt, xem chừng đang nỗ lực đào bới kí ức nhờ câu thúc giục của Genji.

“Tiện đây giới thiệu luôn... Tôi là Urado Genji, con trai của Urado Ryushiro, chủ nhà Urado hiện tại. Dinh thự này hơi ảm đạm nên thường bị gọi là Ám Hắc Quán.”

Vẻ mặt thanh niên chợt thay đổi. Ít nhất anh ta cũng có phản ứng khi Genji nhắc đến biệt danh “Ám Hắc Quán”. Mặt ngẩng lên, từ từ ngó quanh, ngẩng nhìn trần nhà, nhìn lần lượt những người ngồi quanh bàn, lại ngẩng nhìn trần nhà... Một lát sau anh ta cúi xuống. Như cơn gió mạnh thổi qua đầm lầy, tạo ra gợn sóng.

“Tôi xin phép xen ngang một chút.” Shinobu vào phòng, tất bật đặt khay đựng đồ ăn nhẹ và trà lên bàn.

“À, cảm ơn chị.” Genji cầm chén trà xanh lên thưởng thức. Khi anh búng tàn thuốc vào gạt tàn trên bàn, tôi bất giác kêu lên, “Á!” Genji ngạc nhiên quay sang nhìn. Tôi im lặng chỉ người thanh niên.

Anh ta cầm bút bằng tay phải, hí hoáy viết trên sổ vẽ, động tác vẫn lóng ngóng như trẻ con tập viết, chật vật mãi mới viết xong chữ Hán “Giang”, sau đó viết thêm chữ “Nam”.

"Kawaminami!?"

Bút bỗng gãy đôi. Tôi vội lấy bút chì khác, nhưng thanh niên chậm rãi lắc đầu, ngụ ý không viết nổi nữa.

“Đây là...” Genji nhìn mấy chữ xiêu vẹo. “Tên cậu hả? Mới nhớ ra sao?”

Thanh niên đặt chiếc bút gãy xuống, chần chừ gật đầu. “Đây là họ nhỉ? Thế tên cậu là gì?”

Nghe Genji hỏi dồn, thanh niên cụp mắt xuống như bị áp đảo, vẻ mặt đau đớn, đầu lắc lư, thở dốc, như thể việc viết chữ đã lấy đi rất nhiều sức lực của anh ta.

Kawaminami... Kawaminami, Takaaki.

Chính thế... Trong nháy mắt, suy nghĩ ấy chợt hiện lên.

“Không nhớ ra tên hả?”

Thanh niên khẽ gật đầu.

“Hừm.” Genji nhìn sổ vẽ lần nữa. “Có phải đọc là ‘Enami’ không?” Anh khẽ nói rồi nhìn tôi. “Cũng có thể đọc là ‘Kawaminami’, ‘Kawanami’ hay ‘Konan.’ Thậm chí...”

“Nếu căn cứ vào chữ viết tắt ở mặt sau đồng hồ, thì ‘Giang Nam’ có lẽ là ‘Enami.” Từ lâu rồi tôi đã nhận ra rằng cách đọc tên người và địa danh trong tiếng Nhật cực kì phức tạp. Các chữ Hán có rất nhiều cách đọc. Ví dụ từ “Biệt Phủ” quê tôi không đọc “Beppu” mà đọc là “Biu”. Ngoài dân bản xứ, tôi chưa từng gặp ai đọc đúng được cái tên này.

“Có lý. Vậy tôi cứ gọi cậu là Enami nhé?”

Trước câu hỏi của Genji, đầu thanh niên chuyển động chẳng rõ là gật hay lắc. Anh ta vẫn chưa thở đều lại được, trông rất chật vật. Hai chữ này của anh ta, chỉ là nhớ cách viết chứ không tự tin là nhớ cách đọc. Tóm lại, anh ta đang rơi vào trạng thái tương đối không ổn định cả về thể chất lẫn tinh thần.

“Thôi, dừng ở đây được rồi.” Noguchi ngăn Genji hỏi tiếp, quay sang nhìn thanh niên. “Cậu ăn gì đi đã. Rồi nghỉ ngơi cho khỏe. Giờ đang mất trí nhớ và không nói được, nhưng một thời gian nữa bình tĩnh lại có khi sẽ khỏi cả.”

Năm tháng trước trong phòng bệnh, bác sĩ điều trị cũng nói với tôi như vậy. Tôi quan sát phản ứng của Enami. Anh ta cụp mắt, há miệng thở hổn hển, tay phải nắm thành nắm đấm, gõ vào thái dương mình mấy cái.

Giao đoạn 2

Đột nhiên “điểm nhìn” tách ra rồi nhảy loạn xạ. Đó là một thay đổi tùy tiện đáng ngờ, nhưng về cơ bản vẫn hỗn loạn hắc ám. Bóng tối lan rộng mềm mại bất ngờ. Nhưng cùng lúc, lạnh giá xấu xa lại ngập tràn. Cư dân của “thế giới” này đương nhiên cũng không cách nào biết được bộ mặt thật của nó nằm ở đâu...

Nhà xây trên đảo. Đảo nổi giữa hồ. Ven hồ là bãi đỗ xe. Trong bãi có mấy chiếc ô tô, trên một chiếc có khoang hàng phủ bạt...

Màn đêm buông xuống thân hình run cầm cập vì lo sợ của cậu bé. “Điểm nhìn” hạ cánh, lại nhập vào cơ thể cậu.

24/9. Hơn 1 giờ sáng.

Cậu bé tên là Ichiro, tháng Chín năm nay đón sinh nhật thứ 13, là học sinh lớp Bảy. Cha mẹ cậu mở tiệm tạp hóa ở làng I. Ichiro giờ đang lo lắng không yên, cậu chui vào bạt chống thấm, gối đầu lên ba lô rồi ôm chặt hai đầu gối, cuộn tròn người lại. Tới tận lúc nãy, Ichiro còn vật lộn trong giấc ngủ chập chờn. Cậu choàng tỉnh vì gặp ác mộng, nhận ra nơi mình ngả lưng không phải phòng ngủ ở nhà thì tuyệt vọng thở dài, thầm than vãn mãi, sao lại thành thế này!

Ichiro nhìn chiếc kim dài ánh xanh lá trên mặt đồng hồ. Đã sang ngày mới nhưng còn mấy tiếng nữa trời mới sáng. Trừ đồng hồ lờ mờ, xung quanh tối như hũ nút. Đèn pin cầm theo đã hết pin. Túi quần còn hộp diêm tìm thấy ở hiện trường tai nạn xe, nhưng giờ có đánh diêm cũng chẳng để làm gì. Trời không trăng không sao. Màn đêm tối tăm bủa vây, Ichiro không thoát thân được, đành gồng mình chờ trời sáng. Cậu nhắm tịt mắt, không nghĩ ngợi gì nữa, muốn ngủ tiếp mà lòng nhộn nhạo. Ichiro thao thức mãi, nhiều hình ảnh lướt qua tâm trí...

Kì nghỉ hè kết thúc, năm học mới bắt đầu, có một sự kiện chấn động xảy ra với Ichiro và đám bạn học.

“Dinh thự lớn bên kia núi hả? Tớ nhìn thấy rồi.” Cậu bạn mới chuyển từ trường cấp hai làng bên sang khẳng định chắc nịch. Cậu ta kể đã cùng người chú có sở thích leo núi và sưu tầm côn trùng vượt qua đèo Vọng, đi ngang hồ nhỏ trong rừng thì trông thấy dinh thự màu đen xây trên đảo nhỏ giữa hồ.

Đối với một cậu bé tầm tuổi Ichiro, can đảm là một tiêu chí để nổi bật trong đám bạn bè. Muốn chứng minh mình can đảm thì phải vượt qua một thử thách mạo hiểm. Kì nghỉ hè vừa qua không thiếu hoạt động thử thách, ví như đột nhập nhà cấm ở trường, nhảy từ cầu treo xuống con sông ngoài làng, khám phá hang động sau núi, qua đêm tại miếu thờ binh lính tử trận... Đối với những đứa bé sinh ra và lớn lên ở làng I như Ichiro, dinh thự nhà Urado bên kia đèo Vọng vừa là chủ đề cấm kị vừa là nguồn cơn hiếu kì. Không nghi ngờ gì nữa, lũ trẻ vô cùng choáng váng về trải nghiệm của cậu bé đồng trang lứa, và lập tức nhìn cậu bằng ánh mắt ngưỡng mộ.

Vì thế, Ichiro vốn hiếu thắng liền nảy ra một ý... Mình cũng có thể. Dinh thự nhà Urado có một biệt danh khiến người ta rùng mình, là Ám Hắc Quán. Mình sẽ tận mắt trông thấy nó, và vì đi một mình, không có nhân chứng, tốt nhất là lấy được thứ gì ở đấy cầm về làm bằng chứng. Mình sẽ trở thành tâm điểm chú ý và được tất cả mọi người tôn trọng.

Ichiro bắt đầu lên kế hoạch. Sau khi thăm dò các thông tin cần thiết từ cậu bạn chuyển trường, như qua đèo Vọng rồi làm thế nào tới được dinh thự, đi từ làng I mất bao lâu... lại chuẩn bị bản đồ và la bàn, cậu quyết định lên đường vào sáng sớm Thu phân, 23/9. Đúng theo kế hoạch, tinh mơ hôm Ichiro qua rời nhà, nhưng màn sương dày đặc ấy...

Sương mù bắt đầu xuất hiện lúc cậu leo dốc để qua đèo Vọng, dần dần trở nên đặc quánh, giam cầm tất cả, lung lạc nhận thức và khả năng suy nghĩ của người ta. Không chỉ thị giác, mà thính giác, khứu giác, lẫn cảm giác chân đứng trên đất cũng khang khác. Tưởng đâu sương mù hít vào phổi rồi cứ thế ngấm thẳng lên não. Tưởng đâu có ai đó từ đằng sau bỗng đẩy mình một cái suýt ngã, hay là có âm thanh kì lạ vang bên tai, hoặc bỗng phát hiện ra mình đã đứng sát vực thẳm hay vách núi...

Hành trình mất nhiều thời gian hơn cậu tưởng. Lên đến đỉnh đèo thì cậu gần như rối trí, khả năng phán đoán cũng cạn kiệt. Cậu không nói được nữa, cứ thế mắc kẹt giữa sương mù và mông lung. Đáng lẽ nên bỏ cuộc luôn lúc ấy, quay đầu về làng là được. Thế mà cậu lại lao vào cơn lốc xoáy đáng ghét do màn sương trắng xóa tạo ra. Sau khi chiếc xe đen chạy qua, Ichiro tiếp tục bước thấp bước cao thì gặp động đất. Cùng một tiếng vọng bất thường, đất lở cây đổ, núi non rung mạnh hồi lâu. Ichiro sợ hãi quỳ thụp xuống.

Sau đó cậu tiến bước theo vệt bánh xe. Chưa được bao lâu, vệt bánh xe rẽ ngoặt. Ichiro cũng chuyển hướng theo, tụt xuống con dốc dựng đứng khó đi. Nhưng mà... Tiếng vọng bất thường trong trận động đất ban nãy lại làm xung quanh rung lên lần nữa. Chuyện gì vậy? Ichiro còn đang hoảng hốt thì tiếng vọng ấy biến thành tiếng núi lở. Cậu run rẩy ngoái lại con đường vừa đi. Cách đó khoảng 20 mét, đất đá đang sạt xuống. Mưa rả rích kéo dài tới tận hôm qua làm đất mềm hơn, lại thêm ảnh hưởng của trận động đất ban nãy...

Đi kèm với tiếng vọng lớn là sườn núi sập gãy ngay trước mắt Ichiro. Mặt đất màu nâu nuốt chửng những thân cây đang thi nhau đổ ngang. Chim chóc bay tán loạn ra khỏi rừng, kêu choang choác. Chỉ trong vài phút, con đường vừa thông thoáng đã bị đất đá phá hủy, không thấy đâu nữa. May mắn là chưa lan đến chỗ Ichiro, cậu mà đi chậm một chút thì chắc đã vùi thân trong đất đá. May thì may, nhưng sau biến cố này, Ichiro không còn đường lùi, giờ muốn quay đầu về làng cũng bị đất đá chắn lối rồi.

Ichiro nhìn vệt bánh xe dưới chân. Chỉ còn cách đi theo nó, tiếp tục tiến bước. Nửa tiếng trôi qua, cậu tìm thấy chiếc xe hơi màu đen hỏng hóc nặng trong vạt rừng bên đường.

Hồi ức thay đổi... Thi thể kia. Thi thể lấp ló trong đám cỏ dại um tùm gần chiếc xe. Chân tay co quắp, thái dương bê bết máu, cổ gãy, đầu lệch sang một bên, đôi mắt vô hồn... Ichiro hoảng sợ tột cùng, cuống cuồng chạy khỏi hiện trường, lao như bay qua cánh rừng mịt mờ, không kịp để ý hay cân nhắc gì nữa.

Chẳng bao lâu sau, cậu bắt gặp tấm biển bên đường. Biển gỗ, sơn chữ đỏ tươi, làm Ichiro rợn người vì liên tưởng đến màu máu chảy ra từ đầu xác chết. Cùng lúc, cậu lại yên tâm vì mình không đi nhầm đường. “Địa phận nhà Urado” ở đây, chứng tỏ sắp tới hồ Dấu chân Người Vượn. Giữa hồ là hòn đảo có dinh thự nhà Urado, tức Ám Hắc Quán, mục tiêu của mình.

Ichiro lờ đi cảnh báo “Không phận sự miễn vào”, tiếp tục tiến bước, cuối cùng cũng tới bờ hồ. Lúc này đã qua 6 giờ chiều, mặt trời lặn về Tây, bóng tối buông dày như muốn nuốt trọn cảnh vật. Cạnh cầu tàu có một ngôi nhà nhỏ vuông vắn, xây bằng đá đen. Ichiro đang cần được giúp đỡ nên không bận tâm nhiều, cứ lao thẳng đến. Tới nơi, vừa nắm lấy vòng sắt trên cánh cửa gỗ màu đen, cậu bỗng nhớ lại nét mặt sợ hãi của bà nội khi nhắc nhở, đây là nơi trú ngụ của hắc ám. Đến giờ hắc ám vẫn ở dinh thự sao? Nghe bà kể, hồi bà còn trẻ, người làng mất tích nhiều lắm, chủ yếu là trẻ em và các cô gái. Tất cả một đi không trở lại, là do bị thứ hắc ám trong dinh thự bắt cóc.

Ichiro rụt tay, sợ sệt ngó quanh. Không một bóng người. Chần chừ một lát, cậu tránh xa khỏi cửa chính, đi vòng ra sau xem xét thì thấy mấy ô cửa sổ. Ánh sáng le lói lọt ra. Ichiro từ từ tiến lại gần. Các cửa chớp màu đen đóng kín, chỉ có một cánh để hé. Ichiro nín thở ngó vào.

Ngọn đèn trần hắt ánh sáng yếu ớt xuống một người đàn ông. Ở góc tường trong cùng bên phải có một cái bàn bếp. Người đàn ông lắc lư thân hình đi về phía bàn bếp rồi lơ đãng nhìn về phía cửa sổ. Ichiro giật thót lùi phắt ra, toan bỏ chạy, nhưng sau một lúc nín thở, căng tai nghe ngóng, nhận thấy người đàn ông chưa phát giác ra mình, cậu quyết định tiếp tục nhìn trộm.

Người đàn ông đứng bên bàn bếp vận bộ đồ màu xám đậm, lưng nhô lên như cái bướu khổng lồ, người còng hẳn xuống, mặt còn thấp hơn cái bướu nhiều. Trên bàn bếp có một thứ bằng đá nâu đỏ, vòi nước nhỏ giọt tong tong. Ichiro chăm chú theo dõi, nhận ra người đàn ông đang mài dao. Thứ bằng đá nâu đỏ kia là đá mài. Từ phía Ichiro chỉ thấy được khuôn mặt trông nghiêng của ông ta. Làn da xám ngoét bệnh tật, tóc tai bù xù như lông thú hoang. Mày cau lại, môi mỉm cười dữ tợn.

Ichiro đâm rợn, xác định không thể nhờ người này giúp đỡ được. Cậu thận trọng lùi ra xa khỏi cửa sổ.

Đúng lúc này, dưới chân có tiếng ì ầm vọng lên, càng lúc càng lớn, rồi mặt đất rung chuyển dữ dội. Lại động đất, Ichiro vội nằm bò toài, cảnh tượng sạt lở chứng kiến mới đây ập về trong óc, cậu bất giác ôm chặt lấy đầu bằng hai tay.

Tiếng đổ sập vang lên... Áá!

Khi mặt đất ngừng rung chuyển, tiếng đổ sập vẫn tiếp tục. Ichiro còn nghe loáng thoáng tiếng hét lẫn trong đó. Cuối cùng xung quanh yên tĩnh lại. Ichiro từ từ đứng dậy xem đồng hồ, lúc này mới qua 6 rưỡi. Đợi cho trái tim đập thình thịch bình tĩnh lại, Ichiro nhìn quanh. Tiếng ồn khi nãy như thể do cậu tưởng tượng ra, mặt hồ vẫn tĩnh lặng như trước. Ánh sao lấp ló trong mây, màn đêm bớt phần tăm tối. Ichiro đứng dậy, quay lại cửa sổ, nhìn vào trong và bắt gặp một cảnh tượng bất ngờ.

Một phần trần nhà và tường quanh bàn bếp đã sập vì trận động đất vừa rồi. Chiếc tủ to cạnh tường đổ xuống, thủy tinh vỡ và gạch vụn trộn lẫn, vương vãi trên đất. Người đàn ông bị tủ đè từ chân đến ngực, mặt đầm đìa máu trông càng thêm đáng sợ. Đôi bàn tay thò ra ngoài khẽ cử động giữa đống gạch vụn và thủy tinh.

Ôi trời... Làm sao bây giờ? Sợ hãi và muốn trợ giúp, hai trạng thái cảm xúc cứ đan xen, giằng xé trong lòng Ichiro. Sau cùng, cậu bé lao nhanh ra cửa chính rồi mở cửa, chạy một mạch vào chỗ người đàn ông. Phải cứu ông ta. Ichiro hăng hái chạy tới. Hẳn là nhận ra sự có mặt của Ichiro, người đàn ông bỗng nhiên rên rỉ, nghe vừa đau đớn vừa giận dữ.

Tiếng rên lọt vào tai Ichiro lại biến thành tiếng gầm của dã thú. Cậu sợ cứng người, mong muốn trợ giúp biến mất, cậu chạy tuốt ra ngoài. Thế là... dưới ánh sao lờ mờ và ánh đèn pin cầm tay, Ichiro lang thang một lúc, cuối cùng tìm ra bãi đỗ xe. Không quay lại chỗ vừa nãy được nữa, cậu tự nhủ dù vẫn băn khoăn về tình trạng của người đàn ông. Có thể ông ta bị thương nặng. Nếu bị tủ đè mãi thì... Ôi trời, không được. Không được nghĩ nữa. Đằng nào mình cũng chẳng giúp được gì...

Ở bãi đỗ có mấy chiếc xe hơi. Ichiro tìm thấy một chiếc Jeep để mở thùng xe, liền nhảy lên, chui vào đám vải bạt chống thấm, cuộn mình lại như sợ bị sinh vật đáng sợ nào đó đang ẩn náu trong đêm trông thấy. Đợi trời sáng xem sao, cậu tự nhủ. Trời sáng sẽ có người từ dinh thự vào bờ, mình có thể ra khỏi đây, kể rõ cho người đó... À không, không cần kể. Cứ trốn ở đây đợi xe này quay về làng cũng được, nhưng mà... kể cả thế, nếu không sửa con đường sạt lở kia thì...

Ichiro run lên vì lo lắng và sợ hãi, chỉ mong mình ngủ được để khỏi phải nghĩ ngợi gì nữa, cậu lẳng lặng chờ trời sáng.

24/9. 1 giờ chiều.

“Điểm nhìn” tách ra bay đến một căn phòng nghỉ ở Nhà Đông, nhập vào Enami đang nằm đó. Chuông báo giờ nặng nề của chiếc đồng hồ quả lắc bằng gỗ hình hộp chữ nhật vang vọng khắp tiền sảnh.

Mình tên là... Tờ giấy xé ra từ sổ vẽ đang đặt cạnh gối. Cậu nằm sấp trên nệm, tựa cằm lên gối, nhìn hai chữ xiêu vẹo trên giấy và thở dài thườn thượt.

Hai chữ “Giang Nam” do chính tay mình viết. Ừ, đây là tên... mình. Mình đang dùng các hình vuông tròn trả lời câu hỏi của người tên “Urado Genji” thì từ sâu trong cõi lòng hỗn độn bỗng hiện lên hai chữ ấy. Dù đã nhớ được cách viết, nhưng cử động rất lóng ngóng khó khăn. Cậu tin chắc hai chữ này là tên mình, còn lại đều loạn xạ. Kí ức chưa mất đi, chỉ đang nằm đâu đó trong não bộ, chưa trở về đúng chỗ... Trí nhớ như những miếng ghép hình rời rạc, hay như cỗ máy tinh xảo đã gỉ sét, hoặc là một công thức lộn xộn.

Năm phút trước, mọi người rời phòng, để Enami ở lại một mình. Theo lời dặn của bác sĩ Noguchi, Enami lại nằm xuống nệm. Chị giúp việc Shinobu nhanh chóng mang đồ ăn lên.

Vài tiếng trước, cậu mở mắt trong căn phòng này. Sau đó chỉ đi lại một lát đã mệt lả. Tuy không nhức đầu hay buồn nôn, nhưng cả người lạnh lẽo tê dại. Đầu cũng vậy. Chân, tay và lưng thì ê ẩm. Chẳng trách bác sĩ yêu cầu cậu phải nghỉ ngơi. Enami nhắm mắt, nhớ lại những câu hỏi ban nãy.

Thế có nghĩa là, cậu không nói được, không thể phát ra tiếng nhị? Cậu có nhận ra chiếc đồng hồ quả quýt này không?

Enami mở mắt, nhìn đồng hồ quả quýt cạnh tờ giấy vẽ. Sao mình nhớ ngay ra là mình biết đồng hồ, thậm chí còn biết nó là của mình?

Cậu có biết mình là ai không?

Không biết, ngoài cái họ ghi bằng Hán tự là Giang Nam...

Cậu có biết đây là đâu không?

Không. Đến tận lúc anh ta nói, mình mới biết đây là dinh thự có biệt danh “Ám Hắc Quán”. Tuy nhiên Ám Hắc Quán, Urado... nghe đều quen quen. Những manh mối này có thể khơi gợi điều gì, kiểu như, đây là Ám Hắc Quán,

là... của Seiji...

Thế nhưng...

Nhận thức rất mơ hồ. Enami xoay người, ngẩng nhìn trần nhà đen sì rồi thở dài, từ từ nhắm mắt lại. Bất ngờ thay, đúng lúc này, các mảnh ghép hình ảnh và âm thanh tạo ra những đường cong parabol bắt đầu di chuyển theo hình xoắn ốc. Giống như khi tỉnh lại trong bóng tối tinh mơ...

Người phụ nữ nằm trên giường bệnh, gương mặt, biểu cảm, giọng nói...

Để tôi chết!

Bà thều thào, mắt trống rỗng, hơi thở yếu ớt.

Quá đủ rồi. Giết tôi đi... Cho tôi thanh thản.

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 244

Đang tải bình luận...