Ông Trăm Tuổi Tái Xuất Và Giải Cứu Thế Giới

Tanzania

Tanzania

Tanzania

Trên ghế dài sảnh đi nhà ga quốc nội của sân bay quốc tế Julius Nyerere, Sabine cắm cúi tìm hiểu về đường đi lối lại trong khu vực - đến lúc này bà mới có thời gian để làm. Allan buộc phải nhường cái máy tính bảng đen của mình cho mục đích ấy (với phí dịch vụ chuyển vùng quốc tế tiếp tục do tay quản lý khách sạn ở Bali bị lừa trả đủ).

Kết luận đưa ra là họ sẽ lập tức bắt chuyến bay đầu tiên đến Musoma ở Serengeti, sau vừa đi vừa hỏi đường tiếp. Khu lều lán thần dược của Olekorinko nổi tiếng khắp châu Phi, nên việc tìm được một người biết đường ở Musoma chắc không khó gì.

Máy bay chỉ có một động cơ và chở được 13 hành khách. Chín người đến từ một công ty tư vấn của Italy, công ty này kỷ niệm 25 thành lập bằng cách đưa nhân viên đến Serengeti chơi mấy hôm trong safari (có khấu trừ thuế vì họ dự tính sẽ nhóm họp 15 phút mỗi ngày). Thêm ba chỗ nữa ngay trước lúc khởi hành dành cho một nhóm nhỏ người Thụy Điển.

Hai điệp viên, mặt khác kiêm nhiệm cả công việc theo dõi chuyển giao hàng uranium nghi ngờ được chuyển cho tàu Honour and Strength. Lần gần đây nhất, một kiện hàng nhỏ hơn nhiều đã đi qua Tanzania và Mozambique, sau đó tiếp xuống phía nam. Mặt khác, Berlin lại lệnh cho các điệp viên không được rời mắt khỏi Allan Karlsson. Thế mà Karlsson lại đang đi sai hướng.

Bám đuôi ai đó, dù có là một ông-một-trăm-lẻ-một-tuổi, không phải kiểu việc người ta muốn làm. Nguy cơ bị phát hiện rất cao. Điệp viên A vốn vị kỷ và ngạo mạn không thích ý tưởng đi lệch hướng với uranium - chỉ vì bà lớn ở Berlin thích thế. Với lại, lý gì ông ta phải ôm vụ này chứ? Ông ta là sếp, không như người đàn bà ngồi bên.

“Cấm lấy cái này,” ông bảo người cộng sự hiền lành. “Và đi đặt hai vé cho chúng ta. Tôi phải uống chút cà phê đã.”

Hãng vận chuyển Precision Air hôm nay dường như cũng tiếp tay cho ông ngạo mạn. Chỉ còn lại mỗi một ghế. Tay điệp viên ngạo mạn đã có thể dúi cho cô cộng sự hiền lành cây thăm ngắn hơn mà không phải cắn rứt lương tâm (kèm theo một nụ cười khinh khỉnh). Trong khi đó, ông ta định bụng sẽ theo dõi chặt biên giới Tanzania với Mozambique. Nếu muốn leo cao, ta phải ở ngay nơi hành động diễn ra ngay khi nó diễn ra.

Cây thăm ngắn hơn, trong trường hợp này, là bám theo Karlsson để xem ông già giở trò ngốc nghếch gì, ở cách xa trung tâm hành động.

Thế là kẻ thua cuộc đành chịu phận hẩm hiu, nhận chỗ ngồi duy nhất còn lại ngay bên đối tượng mà cô nhất quyết không được để lộ thân phận.

Điệp viên B chọn nhập cuộc thay vì chết chán. Cô bắt chuyện với Karlsson, biết đâu lại mọi được gì đó có ích. Cô chào hỏi và tránh nói tên, bảo mình là doanh nhân.

“Ô, hay quá,” Allan nói. “Hi vọng công việc tốt cả. “Vâng, cảm ơn,” cô điệp viên nói và lập tức chuyển hướng câu chuyện.

Cô muốn biết việc gì đưa các vị đến... đến...

“Musoma à?” Allan nói đỡ. “Chúng tôi đang trên đường tới Musoma. Chắc cô doanh nhân đây cũng vậy.”

Điệp viên B tự chửi thầm. Sao lại quên mất tên nơi mình định đến chứ! Nhưng mọi thứ cứ rối cả lên lúc ở sân ga. Đây là một đất nước rộng lớn, to gấp ba lần nước Đức. Cô biết Dar es Salaam rõ như lòng bàn tay. Cả thủ đô Dodoma. Và Morogoro, tất nhiên. Cả Arusha nữa.

Nhưng Musoma, tuốt lên phía tây bắc ư? Đến hôm cô mới nghe thấy tên lần đầu tiên. nay

Allan cứ bộ bộ kể cô nghe rằng Sabine - cái bà ngồi trước hai hàng ghế kia - làm nghề cô đồng và đang đi tìm cảm hứng mới. Nghe đâu có một thầy lang xuất chúng ở Serengeti tên là Olekorinko - cái tên này không kỳ quặc chút nào, vì ai cũng phải có tên gì đó chứ. Julius bạn ông, người ngồi cạnh Sabine trên kia, thừa sức đổi tên người khác giống như người ta thay áo, nhưng thứ đó không hạp với Allan.

“Thầy lang?” điệp viên B hỏi.

“Hoặc có thể gọi là thầy mo. Tôi ít khi không nhớ ra từ khó, nhưng lại gặp rắc rối với những từ dễ.”

Kế hoạch là đến thăm Olekorinko, học hỏi từ ông ấy và nạp thêm năng lượng tâm linh mới. Sabine có thể nói kỹ hơn nếu cô doanh nhân đây muốn biết. “Tôi chắc cô không làm nghề gọi hồn đâu nhỉ? Có lẽ cô làm nghề du lịch.”

Gì nữa đây? Chuyên gia bom nguyên tử, và có thể là tên buôn lậu uranium, Karlsson mà lại vào xavan tìm thầy mo để tái nạp năng lượng tâm linh. Nếu ông ta muốn bốc phét thì bốc phét cái gì dễ tin hơn được không?

Không, cô điệp viên không làm trong ngành công nghiệp tâm linh. Cô bảo mình là người môi giới bất động sản.

Và đó đúng là vỏ bọc mà A và B dùng ở Dar es Salaam.

Nhưng điều đó cũng không đem lại hiệu quả như mong muốn. Allan nghĩ thế nghe hay đấy. Cụ bảo trong xavan của Tanzania hẳn có nhiều lều đất rất ra gì để mua bán.

Ông già một-trăm-lẻ-một-tuổi đang mỉa mai hay chỉ khó đoán? Cô điệp viên thấy khó xử trước mặt ông già. Đóng giả một người môi giới bất động sản ở thành phố lớn nhất Tanzania là một chuyện. Nhưng chuyện đó nghe không xuôi chút nào ở những vùng có thể chẳng có bất động sản nào để mà môi giới. Musoma?

“À, lều đất không phải là mục tiêu hàng đầu của tôi,” cô nói, cố làm ra vẻ tự nhiên. “Nhưng có cái trại trong safari cũng hay.”

“Ô, rốt cuộc thì cô làm du lịch hả?”

Allan và có diệp viên trao đổi thêm vài câu trong thời gian còn lại của chuyến bay. Cô người Đức cần thời gian để trau chuốt lại câu chuyện của mình. Cho đến lúc này thì nó không được trơn tru như mong muốn. Đến tận khi máy bay đáp xuống, và hóa ra Mosoma quả thực là một thành phố hẳn hoi với trên 100.000 dân và nhiều tòa nhà kiểu châu Âu, chuyện của cô vẫn chưa khá hơn.

“Nhìn kìa!” Allan nói, chỉ ra ngoài cửa sổ. “Đúng là có thứ cho cô xơi ở đây thật, cô Môi giới Bất động sản ạ. Nghĩ mà xem! Thế mà cô lại không nhìn ra, hoặc không biết mình sắp đến một nơi thế nào chứ.”

Cô điệp viên sẵn đã cảm thấy ghét chính mình. Giờ thì cô ghét thêm cả Karlsson, lão già chết tiệt.

*

Đường băng bằng đất, rất hẹp, chẳng có lấy một mét dư so với độ dài cần thiết. Nó nằm giữa thành phố tựa lưng vào bờ nam hồ Victoria.

Bên ngoài nhà ga hành khách bé tin hin là vài cái taxi và các ông tài xế cứ nhảy choi choi chèo kéo khách. Ai cũng biết phải tìm Olekorinko ở đâu, có điều không mấy ai hám tiền đến mức chịu đưa ba người nước ngoài đến gặp. Hành trình dài khoảng 150 km, nhưng đường sá xấu đến độ có cưỡi Fiat, Honda hay Mazda mà đi cũng sẽ bị sập gầm dọc đường.

Nhưng Sabine đã thấy một người đang trả khách và hành lý từ một chiếc Land Cruiser cách đó không xa. Đó là một chiếc xe mui trần với ba hàng ghế và những chiếc lốp to, có vẻ khó mà sập gầm cho được. Khi người kia xong việc và chào tạm biệt chủ số hành lý, Sabine bước đến hỏi xem ông ta có nhận khách không?

Không, không được. Ông không phải người vùng đó và đang định quay lại trại ở Maasai Mara. Ở đấy sẽ có nhiều khách đến trong hai ngày nữa và ông phải trở lại làm việc.

Sabine nào có chịu buông ngay. Bà tiếp tục gợi chuyện thì được biết người đàn ông làm việc bên Kenya, biên giới giáp Serengeti - và chỉ cách trại của Olekorinko vài chục cây số. Thế là tự nhiên đề nghị của ba ông bà ngoại quốc lại thành quá hời. Chỉ lái xe về nhà mà cũng ra tiền, dù cho có phải đi vòng thêm một tí vẫn lãi.

Điệp viên người Đức đứng cách đó tám chục thước trông có vẻ rầu rĩ. Chẳng có chiếc Land Cruiser nào khác quanh đấy, và cô cũng đã hiểu ra chỗ hạn chế của xe taxi.

Cô gọi cho sếp ở Dar es Salaam để trao đổi về tình hình. Ông ta cập nhật cho cô những tin tức mới nhất. Người Mỹ vừa mới gửi thông báo về vị trí mới nhất của Honour and Strength. Con tàu còn vài ngày nữa là đến điểm cực nam của Madagascar.

Nếu thông tin lúc trước của chuyên gia vũ khí hạt nhân Karlsson là đúng, thì rất có khả năng việc giao chuyển hàng uranium đã làm giàu mới sẽ diễn ra ở đó và vào ngay lúc này. Lượng hàng lần này sẽ lớn hơn đợt trước nhiều. Nhờ vào tin tức từ người phụ tá phòng thí nghiệm đã mất tích mà họ đã ít nhiều khám phá ra tuyến đường chở lậu. Thách thức lớn nhất đối với bọn buôn lậu là vượt qua biên giới giữa Tanzania và Mozambique. Chỗ đó ở cách nơi điệp viên B đang đứng tròm trèm 1.800 cây số.

B nghĩ rằng Karlsson có thể là một phần của chiến dịch buôn lậu này, và vì thế thông tin trước đây của ông ta được tung ra nhằm đánh lạc hướng họ. Nếu có gì đủ khiến B vui thì đó là cơ hội qua mặt được sếp của mình.

“Cô bảo ông ta nói mình định làm gì, cái lão Karlsson ấy?"

B nhắc lại một phần cuộc nói chuyện.

A tặc lưỡi. “Giờ cô đi gọi hồn cũng hợp lý đấy. Có xin lão ta cho đi nhờ được không?”

“Ông ta đi rồi, chết tiệt!” cô điệp viên nhu mì thốt lên, giọng không được hiền lành cho lắm.

Điệp viên A nói dối rằng mình thông cảm với khó khăn của cấp dưới. Về phần mình, ông ta đang chuẩn bị gói ghém hành trang để đến biên giới Mozambique, dự định hù dọa chỉ huy đơn vị kiểm soát biên giới một phen. Người này ăn lương của họ.

“Thôi cứ ở lại đó cho Merkel vui đi. Tôi hiểu cô bất mãn, nhưng biết làm sao được. Như tôi đây cũng chẳng mặn mà gì việc nhận trọn công lao khi 500 kí uranium này bị vô hiệu hóa. Chúng ta ai cũng có vai trò của mình cả, đúng không?”

Điệp viên B thở dài. Chỉ còn lại toàn taxi. Chúng là chiến mã trên đường nhựa. Nhưng vô dụng trên xavan, như cô vừa được biết.

“Vậy thì mua lấy một chiếc Land Cruiser đi,” ông sếp nói. “Hoặc là trực thăng”

Ít ra thì lão Karlsson này cũng có chỗ hữu ích: BND được cấp thêm tiền để hoạt động.

Mua một chiếc xe dã ngoại? B nghĩ bụng. Giờ cô chỉ ước mua ngay được cho mình một cuộc đời mới. “Để xem tôi có thể làm được gì, cô nói và cúp máy mà không chào tạm biệt.

*

Họ còn 10 cây số nữa là đến khu lều lán của Olekorinko để tìm phép màu thì bị tắc đường. Điều đó rất dễ xảy ra khi có đến 10.000 người cùng đổ về một địa điểm trong cùng một lúc, mà con đường đến đó thì hẹp, chỉ vừa đủ cho hai xe tránh được nhau. Xe cộ nườm nượp theo cả hai hướng vì nhiều người vừa được chữa xong từ đó đi ra.

Không mấy người đến bằng ô tô. Số khác cưỡi xe máy hay xe đạp điện. Những người nghèo nhất đi bộ. Mỗi khi nghe tiếng chim cưỡi bò ríu rít trên trời, ai nấy đều biết có một đàn trâu rừng đang xáp đến quá gần. Những người không có xe cộ liền leo lên chiếc bốn bánh gần nhất - bám nắp ca pô, ngồi trên nóc hoặc lên đùi ai đó. Khi lũ chim bay đi, cảnh hỗn loạn trở lại thành lộn xộn. Không có lý do gì phải lo về sư tử hay báo. Bọn này ngủ ban ngày. Còn voi thì có thể trông thấy và nghe thấy từ xa.

Chốc chốc đường lại thoáng và chiếc Land Cruiser chở ba người Thụy Điển cùng tài xế có thể phóng nhanh cỡ 500 mét trước khi đâm vào đám tắc tiếp theo,

Người lái xe của họ, tên là Meitkini, cứ lo rằng không thể về khu trại kịp lúc để tiếp tục nghề tay phải là hướng dẫn viên của mình. Tuy nhiên, anh cũng không lấy làm tiếc về quyết định. Ba người khách này dễ chịu. Và họ trả cũng khá.

Allan ngồi ngay ghế hành khách phía trước và mượn được ống nhòm của Meitkini. Cụ tường thuật sơ qua từng thứ mình thấy, từ lợn rừng tới hươu cao cổ, đọc to từ cái máy tính bảng đen những gì đang diễn ra trên thế giới bên ngoài xavan và nài Meitkini kể về quãng đời đẹp nhất của mình. Julius và Sabine ngồi hàng ghế ngay sau và ra sức góp vui. Khi Julius hỏi, Meitkini đáp anh không nghĩ khí hậu ở Serengeti là tốt nhất cho măng tây.

Tài xế là người Maasai từ Kenya; anh không thường sang bên này biên giới. Mấy vị khách anh vừa chở cứ đòi bắt máy bay ở Musoma. Họ không chịu nghe tài xế can ngăn, nên cuối cùng anh đành chịu. Sớm muộn khi rời Tanzania từ sân bay Dar es Salaam, họ cũng sẽ nhận ra là mình đã vào nước này bất hợp pháp.

“Bị nhốt một tuần và vài nghìn đô tiền phạt,” Meitkini nghĩ vậy.

“Hoặc thêm vài nghìn nữa thì không bị nhốt, đúng không?” Allan hỏi.

Đúng rồi, cũng có thể, nhưng người Tanzania kiêu lắm. Meitkini khuyên Karlsson nên tuân thủ luật pháp của xứ này.

“Tôi thì chẳng bao giờ dám mơ làm trái cả,” Allan nói. Julius ngồi phía sau nhăn mặt. Đi đến tận đây rồi mà vẫn bị nhắc nhở phải tuân thủ pháp luật.

Meitkini không tin ba cái trò bịp bợm hay phép thuật chữa bệnh. Cái anh tin là Chúa và vào khả năng con người sống hài hòa với động vật hoang dã. Người Maasai đã không còn săn bắn nữa; đó đã là chuyện của máy thế hệ trước tôi. Hồi đó, phải giết được con sư tử đầu tiên rồi thì mới được làm đàn ông. Ngày nay nghi lễ trưởng thành gồm trước hết là cắt bao quy đầu, sau đó là sống sót giữa thiên nhiên trong vòng một năm. Những người thành công sẽ được phong thành chiến binh Maasai. Đó là cách người ta gọi mặc dù họ chưa từng thực sự chiến đấu.

“Có vẻ như Merkel sắp thắng cử ở Đức rồi,” Allan nói, chỉ vào cái máy tính bảng đen của cụ. “Việc đó có thể giúp châu Âu gắn kết với nhau thêm ít lâu. Trừ phi nội chiến nổ ra ở Tây Ban Nha. Người xứ Catalan đã quá mệt với Madrid. Tôi biết người ta cảm thấy thế nào - tôi đã có mặt trong lần gần nhất chuyện đó xảy ra.”

“Từ năm 1936,” Julius nói. “Biết đâu từ đó đến giờ đã có gì thay đổi thì sao.”

“May ra,” Allan nói.

Julius quay sang tài xế. “Anh có chắc ở đây không trồng được măng tây không, Meitkini?”

*

Điệp viên B ngồi sau tay lái chiếc Land Cruiser vừa thuê, Giao thông gần như tắc nghẽn và chốc chốc lại có người leo lên xe cô mà chẳng hỏi han gì. Họ ngồi đấy chừng 15 phút hoặc hơn mà không một lời giải thích, sau đó lại nhảy xuống như thể nhận được tín hiệu gì đó.

Mọi thứ đều chẳng đầu vào dầu. Một phần vì cô ở cách xa nơi hành động hàng nghìn cây số. Nhưng phần nữa vì Allan Karlsson giờ đây đã biết cô là ai. Làm sao cô giải thích được sự có mặt của mình giữa những túp lều chữa bệnh nếu khi đến chẳng may giáp mặt mục tiêu. Nhưng rồi, nếu cô không thấy ông già, thì tất cả chuyện này còn có nghĩa lý gì?

Thực tình, tất cả chuyện này còn có nghĩa lý gì?

Ô, được rồi, người ta đi tiếp rồi. Biết đâu lại hết tắc đường - Không, vẫn không hết.

*

“Tôi nghĩ ta đến nơi rồi,” Meitkini đánh thức Allan đang lơ mơ ngủ.

Chuyến đi của họ không được lên kế hoạch chu đáo. Trời đã bắt đầu tối và ba người không biết trọ ở đâu. Hàng nghìn người Tanzania tràn đầy hi vọng xung quanh họ có vẻ đang chuẩn bị nhóm lửa để ngủ ngay tại chỗ, lòng ngóng đợi ngày mai sẽ gặp ông thầy thuốc màu nhiệm. Lửa là thứ mà thú hoang bao giờ cũng tránh. Một đống lửa, cùng với một người cầm giáo gác hai tiếng mỗi phiên cho tới hết đêm sẽ gia tăng cơ hội sống sót lên tới gần 100%.

Allan chấp nhận mọi thứ họ có, nhưng Julius và Sabine lại không thích phương án đốt lửa. Càng không khi họ phải ra xavan gom cành khô, mà trời thì đang tối nhanh từng phút.

Sabine hỏi Meitkini xem anh định thế nào. Anh có thể nán lại đến hôm sau, để họ tranh thủ ngủ nhờ trên xe không?

À thì, chuyến đi không mất nhiều thời gian như Meitkini đã ngại. Nhưng sau đó họ sẽ làm gì? Chắc họ sẽ muốn quay lại Musoma, mà Meitkini thì không đi hướng đó. Như đã nói, một nhóm du khách mới đang trên đường tới chỗ anh và anh phải hướng dẫn cho họ trong bốn ngày. Anh không thể dứt ra để sang biên giới Tanzania trước lúc đó được.

“Chúng tôi chẳng vội lắm đâu, Allan nói. “Được xem mọi việc thế nào ở nơi anh sống thì thích quá.”

Meitkini nói rằng vương quốc Maasai nhìn từ đâu cũng giống nhau cả thôi, nhưng dù sao thì các ông bà cũng được chào đón đến chơi vài hôm. Giờ không phải mùa du lịch nên anh có thể bảo đảm rằng chuyến viếng thăm của họ sẽ được tính giá phù hợp. Nhưng họ không được nán lại đây lâu, muộn nhất là phải rời đi vào hoàng hôn ngày mai.

Allan, Julius và Sabine nghĩ rằng dành trọn một ngày cho phép thuật là đủ rồi.

Mọi người đều nhất trí. Meitkini tấp xe vào lề và đưa chăn cho họ. Không ai tính tới việc chuẩn bị đồ ăn, nhưng vấn đề đã tự nó có cách giải quyết. Khi cả vạn người tụ lại một chỗ thì ắt sẽ nảy sinh một hình thức buôn bán nào đó, bản chất con người là thế. Những người phụ nữ đi với nhau theo cặp, ôm theo rá rổ đựng đầy các thứ đồ ăn. Julius mua tám cái bánh kẹp và bốn chai Coca-Cola.

“Tôi chắc các cô không có rượu đâu nhỉ?” Allan hỏi.

“Bố chỉ nghĩ được có thể thôi à?” Sabine nói.

“Họ chỉ nói tiếng Maa và Swahili nên không hiểu cụ đâu,” Meitkini nói. “Nhưng cháu có thể trả lời thay họ. Chỉ có Coca-Cola thôi.”

“Người ta không thể có mọi thứ được,” Allan nói.

“Ờ, nhưng biết đâu cụ thì có” Meitkini nói và mở ngăn dựng găng tay lấy ra một chai to Konyagi.

“Xem kìa! Thế có sướng không cơ chứ?”

Đó là thứ đồ uống có cồn phổ biến nhất ở Tanzania. Ngon nhất là thưởng thức với một lát chanh mỏng và vài viên đá. Hoặc là với nước việt quất.

“Hoặc là có sao uống vậy, thẳng từ chai?”

“Thì cháu đang làm thế đây,” Meitkini nói.

“Tôi nghĩ đây là khởi đầu của một tình bạn đẹp, Allan nói.

“Vậy thì uống mừng nào.” Meitkini đáp và ném cái nút ra sau.

“Hai người có thiếu tay không?” Julius hỏi.

*

Trời đã tối hẳn khi điệp viên B rốt cuộc cũng đến được khu lều. Mấy người đàn bà bán hàng đã đi hết. B đành phải hạ trại ở hàng ghế giữa, chẳng có đồ ăn lẫn chăn chiếu gì. Gần một năm trước, cô đã được đề nghị thuyên chuyển sang Singapore. Giờ thì cô băn khoăn cuộc sống sẽ thế nào nếu ngày ấy mình nhận lời. Không ngủ được vì lạnh, cô cứ trằn trọc với những suy nghĩ suốt đêm.

Cô đã từ chối lời đề nghị đến Đông Nam Á vì Franz. Anh ta yêu công việc nha sĩ của mình nên không chịu đi. Chỉ ba tuần sau khi B trả lời “Không” với người tuyển dụng để chiều lòng người yêu, cô ngã ngửa khi biết Franz còn yêu cả cô nha tá của mình từ vài tháng trước. Cả cô ta lẫn hàm răng giờ đã hoàn hảo của cô ta.

Vụ đổ vỡ khá ổn ào. Franz nói rằng anh ta luôn không biết vợ mình ở đâu hay đang làm việc gì. Cô đã bảo anh ta rằng cô làm việc cho chính phủ và chỉ có thể tiết lộ đến thế thôi. Suốt thời gian dài, anh ta nghĩ như vậy nghe có vẻ ly kỳ đấy. Nhưng đã cưới nhau ba năm rồi mà cô vẫn nói như thế thì đúng là không ổn. Anh ta phải có con với một phụ nữ bí ẩn sao? Mai mốt con cái họ sẽ kể gì khi phải viết bài luận ở trường về công việc của mẹ chúng? “Mẹ làm những việc không ai được phép biết?” Cô giáo sẽ tưởng mẹ chúng là gái điểm mất. Nhiều khi Franz cứ cắc cớ nghĩ vậy.

Đúng lúc đó thì cô muốn anh ta cùng chuyển sang đầu bên kia thế giới. “Công việc của nhà nước”. Từ Rödelheim đến đâu? Thật tệ khi có một cô vợ bí ẩn. Một cô vợ bí ẩn ở nước ngoài thì đúng là quá đáng rồi. Cộng thêm bên cạnh anh lại còn cô nha tá. Và hàm răng của cô ta. B hiểu ra rằng níu kéo cũng chẳng để làm gì dù cô có muốn.

Kể từ đó, cô không chỉ bí ẩn mà còn cô đơn. Nhiệm vụ gần như bất khả thi, đòi hỏi họ tìm ra số uranium đã qua làm giàu tại một nơi heo hút ở châu Phi giống như tấm vé giúp cô lánh đời. Rồi cô được đề nghị một công việc ở Dar es Salaam vào lúc chín giờ ngày thứ Tư. Chín giờ năm phút cô đã nhận lời.

*

Buổi lễ ngày hôm sau bắt đầu lúc 11 giờ và kéo dài tới 1 giờ, khi trời đã quá nóng. Khu trại sống dậy vào 7 giờ sáng.

Những phụ nữ cắp rổ đồ ăn đã trở lại. Khắp nơi có những biển báo viết bằng tiếng Anh và tiếng Swahili giải thích quy định. Mỗi người đã trả 5.000 shilling (tương đương 2 đô) sẽ được một hớp thức uống màu nhiệm mà Olekorinko đã ban phúc và niệm thần chú. Những ai hết tiền thì chỉ được nhận thần chú thôi.

“Hai đô không nhiều nhặn gì,” Julius nói. “Không hơn giá bán sỉ một bó măng tây.”

“Không hơn,” Sabine nói. “Nhưng phải bán một vạn mớ măng tây mỗi ngày mới kiếm lại chút tiền.”

Ngoài 20.000 đô vặt được trong buổi tập trung, Olekorinko còn kiếm tiền từ các buổi tư vấn riêng trong lều của mình, 20 phút giá 1.000 đô nhưng 60 phút chỉ mất 2.500 đô. Nhu cầu là rất lớn.

Sabine không đứng đầu danh sách mà chỉ thứ hai. Bà đã đăng ký một phiên ngắn lúc ba giờ. Bà mong hết buổi gặp, mình sẽ lĩnh hội đủ tri thức.

Olekorinko nói vào micro cho đám đông nghe. Âm thanh được khuếch đại hai lần qua đôi loa khổng lồ chạy bằng tám bình ắc-quy ô tô. Cách tổ chức của ông thật ấn tượng. Sabine ước tính có khoảng 200 phụ nữ lượn như đèn cù, phân phát kikombe cha daua (một giọt thần dược) cho những ai trả tiền cùng hai người ngẫu nhiên, tuy không trả tiền nhưng trông dặt dẹo vô cùng

Julius và Sabine cũng uống thử. Thứ đồ uống này có vị đắng và không cho thấy công dụng tức thời nào. Allan phát hiện thấy còn một ít Konyagi trong cái chai không nút. Cụ nghĩ nó cũng đủ màu nhiệm lắm rồi.

Ông thầy thuốc đứng trên cái bục cao đằng xa, lúc này đang hát gì đó bằng tiếng Swahili. Khi ông dừng lại thì một phụ tá liền lên tiếp quản sàn diễn. Cô ta giải thích những gì đã được viết sẵn trên các tấm biển: rằng thuốc chỉ phát huy công hiệu khi có sự hiện diện của Olekorinko và chỉ khi ông ban phúc cho nó (mà ông vừa mới làm xong) và trên hết là chỉ cho những ai lòng không vương tạp niệm.

“Nếu các người không tin Olekorinko thì thuốc của ngài cũng không tin các người, cô phụ tá nói bằng tiếng Anh, tiếng Swahili và tiếng Maa. “Hãy cùng cầu nguyện.

Rồi cô cầu nguyện. Trước hết bằng tiếng Anh.

“Lạy Chúa, xin người ban năng lực cho kikombe cha dawa của tôi tớ Olekorinko của người. Hãy để năng lực đó, đến lượt mình, ngập tràn thân thể và linh hồn của những ai tin tưởng không chút ngờ vực. Tập trung vào hen suyễn và viêm phế quản. Vào thấp khớp và khiếm khuyết trí tuệ. Vào phiền muộn và thất nghiệp. Vào HIV và AIDS. Vào ung thư và viêm phổi. Vào vận xui và yếu sinh lý. Vào vô sinh và vỡ kế hoạch. Ô, lạy Chúa, xin hãy dẫn lối cho Olekorinko và các học trò của ngài theo con đường đúng. Hãy ban phát tình thương của người, lạy Chúa. Người là tất cả! Amen.”

Người đàn ông bên cạnh Sabine thất vọng vì chứng viêm tuyến tiền liệt nhiễm trùng của ông ta không có trong lời cầu nguyện, nhưng hầu như từ mọi hướng đều nổi lên những tiếng kêu đắm đuối.

Rồi Olckorinko bắt đầu hát lại bằng tiếng Swahili. Tiếng hát nhịp nhàng đơn điệu trên nhịp trống. Việc này kéo dài ít nhất nửa giờ. Trong khi đó 200 phụ nữ lại len lỏi qua đám đông cử tọa, thu thập các nguyện vọng còn rơi rớt để kịp thời bổ sung. Người đàn ông bị viêm tuyến tiền liệt lúc đó mới xin mọi người hãy khấn cả tên căn bệnh của mình nữa và được đáp ứng.

Toàn bộ buổi lễ kéo dài chưa đến một tiếng chứ không phải hai tiếng như đã hứa. Lời giải thích mà người phụ tá đưa ra là hôm nay sức mạnh tâm linh của Olekorinko dồi dào hơn mọi khi, do đó tốc độ năng lượng chữa bệnh tỏa ra trong mỗi phút nhanh hơn bình thường. Chả có lừa bịp gì ở đây cả.

Olekorinko đứng phía sau gật gù đồng tình với lời giải thích của phụ tá và kết luận bằng câu “Hallelujah.”

Những tiếng hallelujah lẻ tẻ từ bên dưới họa theo trước khi 10.000 người đồng loạt chuẩn bị cho chuyến trở về nhọc nhằn không kém, nhưng thỏa mãn hơn và chắc mẩm mình đã được giải thoát khỏi những là tuyến tiền liệt phì đại hay AIDS.

*

Hai mươi phút của Sabine với Olekorinko bắt đầu bằng việc ông ngồi thiền một mình. Allan, Julius và Meitkini ngồi trên mấy cái ghế ngay phía sau lều và được dặn không được tham gia vào phiên trị liệu. Nếu họ làm thế, Olekorinko sẽ tốn nhiều năng lượng hơn và vì vậy họ phải trả thêm

“Ông này biết kiếm tiền phết,” Allan nói.

“Im nào!” Julius gắt.

Sau khi thiền, Olekorinko mở mắt và bắt gặp ánh mắt của Sabine. “Ta có thể làm gì cho con đây, con của ta?” Ông hỏi.

Sabine không cảm thấy Olekorinko giống cha mình chút nào. Nhưng rốt cuộc bà đã đến được nơi cần đến. Bà ước sao Gertrud mẹ mình cũng đang cùng ở đây.

“Tôi có vài câu hỏi thẳng thắn thế này,” bà nói. “Trước hết, thứ đồ uống màu nhiệm kia gồm có những gì ngoài linh hồn của ông và sự trợ giúp của Chúa?”

Olekorinko nhìn bà đề phòng. Trước đây, ông đã từng gặp đám nhà báo rồi. Lại thêm nữa à? Có đứa thậm chí còn lén đem thần dược về phân tích trong phòng thí nghiệm nữa. Hành động ấy dẫn đến một án lệnh của chính phủ, tuyên bố rằng thứ đồ uống đó “không gây hại cho sức khỏe của người dùng và do đó được kinh doanh”. Từ cái thời ấy, đã có bảy nghị sĩ ở các phe phái khác nhau đáp trực thăng đến đây gặp vị thần y.

“Thành phần chủ chốt thì đúng như con vừa nói: đó là năng lượng của Chúa thông qua ta, tôi tớ của người. Nhưng Chúa và ta đã hành động thuận theo tự nhiên. Chất đăng đắng kia đến từ cây mtandamboo, Con có biết nó không?”

Không, Sabine không biết. Nhưng bà biết chắc chắn ông thần y này không có công thức bí mật nào. Cứ bớ đại một thứ nước ép nào đó, gán cho nó câu chuyện nghe có vẻ to tát và xuất bán là đủ hái ra tiền ở châu Âu. Nhưng Chúa thì không đơn giản thế. Ưu nhược của ngài thì ở nhà người ta biết cả rồi. Hơn nữa, sao lại phải là Chúa? Chẳng phải Olckorinko là thầy mo sao?

“Ở nhà, tôi tiến hành gọi hồn và xua đuổi tà ma. Ông có dính dáng gì với chúng không?”

Bốn vệ sĩ của Olekorinko đột nhiên hoảng hốt. Bản thân Olekorinko thì nhìn chằm chằm vào người khách. Sabine vừa nói gì đó rất hớ.

“Bùa phép là của ma quỷ,” ông nói. “Nếu cô là phù thủy thì uống kikombe cha daua là dính vào thần chết. Thứ này là dành cho những người chọn con đường của lẽ phải.”

Gì thế này?

“Con đường của lẽ phải,” Sabine lẩm bẩm, nhận thấy không khí trong lều trở nên căng thẳng. Bà đã bỏ sót điều gì khi thu thập thông tin sao?

“Con đường của lẽ phải,” Olekorinko nhắc lại và tiếp tục, bằng giọng trầm trầm hung hăng giống như lên lớp, về bùa phép phù thủy và làm sao để chống lại nó. Diễm phúc làm sao là mỗi năm có 500 phụ nữ Tanzania bị giết vì can tội là phù thủy. Nhưng như vậy chưa đủ đâu. Cái ác luôn đi trước một bước. Điều an ủi duy nhất là phù thủy với thầy bùa thường giết nhau. Mới đây, một tay có phép lạ ở Ngorongoro đã giết một phù thủy và chặt mụ ta thành từng khúc, mỗi khúc đều sẽ đem lại may mắn cho hắn. Giờ thì hắn đi bóc lịch 18 năm rồi. Vận may cũng chỉ đưa hắn đi tới xa thế được thôi. Tuy nhiên, thầy bùa không thể mãn kiếp trong nhà tù; chúng có thể dễ dàng tiếp tục gieo rắc tai họa ở đây. Chúng phải chết cùng với phù thủy.

Sabine bối rối. Tên này ngồi chễm chệ ở đây và tự cho mình là khác biệt giới phù thủy nói chung hay sao? Nhưng hắn ta chính là lý do để Sabine đến. Lại còn mang theo bạn mình. Và cả Allan nữa.

Trong lòng bà trào lên cảm giác rằng chuyến đi Tanzania này thật vô bổ. Hay chẳng qua là họ đã tìm đến cậy nhờ một đại diện không tiêu biểu lắm cho mô hình kinh doanh mình đang ấp ủ. Thứ nước thiêng chiết từ rễ cây tự nhiên uống vào liền giải thoát người ta khỏi bệnh tuyến tiền liệt mà không phải phép phù thủy thì là gì?

Bà dại dột đặt câu hỏi như vậy. Nhưng thay cho câu trả lời, Olekorinko ra hiệu cho các vệ sĩ. Mỗi tên sẵn tới một bước, rồi thêm bước nữa. Chúng định...

Đúng lúc đó Meitkini đứng phắt dậy. Anh nói gì đó bằng tiếng Swahili. Tiếng nói nghe quyết liệt và bọn vệ sĩ đứng yên tại chỗ. Chúng nhìn quanh, ngóng ra những bụi cây bên ngoài lều. Vẻ chững chạc của Olekorinko không cho phép ông ta làm thế nên ông ta chỉ ngồi đó, căng thẳng nhìn Meitkini.

Người Maasai tìm cách câu giờ cho anh và các bạn. Anh bảo Allan, Julius và Sabine rời lều ngay và lên xe ngồi.

“Nhưng tôi xin phép hỏi một câu,” Allan nói.

“Không, không hỏi,” Meitkini nói, mắt vẫn không rời Olekorinko. “Làm như tôi nói. Ngay!”

Sau chừng một phút, họ đã lái xe rời khỏi lều của vị thần y. Đi thêm một đoạn nữa, Meitkini đã có thể thư thái trở lại. Việc đầu tiên mà anh làm là xin lỗi vì đã nói sẵng, nhưng tình thế lúc đó còn hung hiểm hơn Sabine và mọi người tưởng.

“Giờ tôi đã hỏi được chưa?” Allan nói.

“Cụ hỏi đi.”

“Thế tay đó có tin chính mình hay không?”

Meitkini lúc đó mới mỉm cười. “Cháu mừng là cụ đã không liều mạng hỏi câu đó trong lều. Nếu không cụ sẽ không thể già thêm được tí nào nữa đâu” "

“Tôi chắc mình đằng nào cũng không già hơn được nữa. Cậu đã nói gì khiến chúng phải dừng tay, không làm tiếp điều chúng định làm thế?”

“Cháu bảo rằng cây tên thuốc độc châu Phi đang theo dõi chúng và sẽ đâm chúng nếu chúng không dịu lại.

“Cái gì châu Phi cơ?”

“Chúng biết cháu muốn nói gì. Cháu mở cổ áo để chúng thấy vòng cổ chứng tỏ cháu là người Maasai. Chúng nghĩ chắc đồng bào cháu có thể đang theo dõi chúng. Ngoài kia có ít nhất mười bụi cây, tảng đá và các hốc để mà ẩn nấp. Đến bây giờ hẳn chúng đã phát hiện cháu nói dối rồi, nhưng đã quá muộn.”

“Trừ phi chúng đang đuổi theo ta,” Sabine lo lắng nói.

Meitkini liếc nhìn gương chiếu hậu và nhận ra kiểu xe cùng miếng decal dán trên kính chắn gió. “Không, đó là xe thuê thôi. Kiểu các du khách vẫn thuê để chạy chứ không phải của Olekorinko và những người theo lão ta.

“Nhưng mà gì châu Phi cơ?” Allan lại hỏi.

“Là cây tên độc. Loài cây mà bọn cháu chiết chất độc để tẩm vào mũi giáo. Một cú đâm trúng sẽ giết chết con trâu nặng bảy tạ trong vòng mười giây. Với một người nhẹ cần như Olekorinko thì chỉ cần sượt qua là đủ. "

“Bọn cháu ở đây là ai vậy?” Sabine hỏi.

“Là người Maasai “Nhưng chẳng phải anh nói người các anh hiền lành à?”

“Đúng vậy. Miễn đừng chọc tức chúng tôi”

“Giống như con trâu chẳng hạn?”

“Phải. Hoặc một tên lừa đảo” "

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 70

Đang tải bình luận...