phần muốn tin rằng Chúa quan tâm đến tôi đến mức gửi thư cho tôi. Tôi rất hoang mang, sau bấy nhiêu thời gian. Tôi cảm thấy như chúng tôi đang mất Kate và điều đó làm tôi đau khổ muốn chết. Có lẽ chuyện xảy ra với Missy là sự phán xét của Chúa cho việc làm của tôi đối với bố tôi. Tôi không biết được.” Anh ngước nhìn vào mặt người đàn ông quan tâm đến anh hơn ai hết mà anh biết, ngoại trừ Nan. “Tôi chỉ biết tôi cần phải trở lại.” Lại một sự im lặng giữa họ trước khi Willie lên tiếng trở lại. “Vậy chừng nào mình đi?” Mack xúc động bởi người bạn sẵn sàng nhảy vào cơn điên của mình. “Cám ơn anh bạn, nhưng tôi rất cần làm chuyện này một mình.”
“Tôi biết anh sẽ nói vậy mà,” Willie vừa đáp vừa quay bước ra khỏi phòng. Một lát sau anh quay lại với một khẩu súng lục và một hộp đạn trong tay. Anh đặt nhẹ chúng lên quầy. “Tôi đoán là tôi không thể thuyết phục anh đừng đi, nên tôi nghĩ biết đâu anh cần đến thứ này. Tôi tin là anh biết cách dùng.” Mack nhìn khẩu súng. Anh biết Willie có thiện ý và đang cố gắng giúp đỡ. “Willie, tôi không biết dùng. Ba mươi năm rồi tôi chưa cầm súng trở lại và bây giờ tôi cũng không định. Bài học của tôi trong đời là nếu dùng bạo lực để giải quyết một vấn đề thì tôi luôn gặp một vấn đề tệ hại hơn.” “Nhưng nếu đó là tên giết hại Missy thì sao? Nếu hắn đang chờ anh trên đó thì sao? Khi ấy anh sẽ làm gì?” Anh nhún vai. “Tôi thật lòng không biết, Willie. Chắc tôi sẽ thử thời vận vậy.” “Nhưng anh vô phương tự vệ. Làm sao biết hắn nghĩ gì trong đầu, hay thủ sẵn trong tay. Cứ cầm đi, Mack.” Willie đẩy khẩu súng và đạn trên quầy về phía anh. “Anh đâu có bị bắt buộc phải dùng.” Mack nhìn xuống khẩu súng và sau khi suy tính bèn từ tốn với lấy súng và đạn, cẩn thận nhét vào túi. “Ok, để dự phòng.” Rồi anh quay lại lấy thêm một số dụng cụ và với súng đã nạp đạn, bước ra xe Jeep. Willie xách túi đồ lớn còn lại, thấy nặng hơn anh tưởng, vừa nhấc lên vừa kêu. “Trời, Mack, nếu anh nghĩ là Chúa đang chờ ở đó thì đem đủ thứ đồ theo làm gì?” Mack cười khá buồn “Tôi chỉ định mang dự phòng thôi. Chuẩn bị nếu sẽ có chuyện gì đó... hay chẳng có gì cả.” Họ đi ra khỏi nhà đến chỗ lối đi nơi chiếc Jeep đang đậu. Willie rút chìa khóa trong túi ra trao cho Mack. “Vậy,” Willie phá tan sự im lặng, “mọi người đâu rồi, còn Nan nghĩ gì khi anh đi đến căn chòi đó? Tôi không tưởng tượng được cô ấy hài lòng.” “Nan và mấy đứa nhỏ đi thăm người chị cô ấy ở đảo, mà... tôi không nói với cô ấy,” Mack thú thật.
Willie ngạc nhiên ra mặt. “Gì! Anh chưa bao giờ giấu cô ấy điều gì. Tôi không ngờ anh nói dối cô ấy!” “Tôi đâu có nói dối cô ấy,” Mack phản ứng. “Bỏ qua cho tôi vì đã xía vào chuyện này,” Willie đáp trả. “Đúng rồi, anh đâu có nói dối cô ấy vì anh đâu có nói với cô ấy toàn bộ sự thật. Ừ thì cô ấy cũng sẽ hiểu hết thôi.” Willie nhướn mày. Mack không đếm xỉa đến cơn bực dọc và bước lui vào trong phòng làm việc trong nhà. Trong ấy, anh tìm thấy một bộ chìa khóa dự phòng của xe hơi và nhà, ngập ngừng giây lát, anh cầm lấy chiếc hộp thiếc. Rồi anh quay trở ra đến chỗ Willie. “Vậy anh nghĩ con người ấy trông ra sao?” Willie cười tủm tỉm khi anh tiến đến. “Ai?” Mack hỏi. “Chúa chứ ai. Anh nghĩ Ngài trông ra sao, nếu như Ngài xuất hiện? Tôi hình dung chắc anh sẽ làm cho mấy người đi dã ngoại sợ chết khiếp - anh sẽ hỏi xem có phải Ngài là Chúa không rồi bắt Ngài trả lời đủ thứ.” Mack cười toe toét khi nghe ý đó. “Không biết nữa. Có thể Ngài là một nguồn sáng rực rỡ, hay là một bụi cây bốc lửa. Tôi thì lúc nào cũng hình dung Ngài là một ông cụ thật to lớn râu dài bạc phơ, giống như Gandalf trong Chúa tể của những chiếc nhẫn của Tolkien.” “Này, nếu Chúa xuất hiện thì cho tôi gửi lời chào nhé,” Willie vừa nói vừa cười. “Bảo Ngài rằng tôi cũng có mấy câu hỏi riêng. Mack này, đừng có làm Ngài nổi giận nhé.” Cả hai cùng cười. “Nói nghiêm túc đấy,” Willie tiếp lời, “tôi lấy làm lo cho anh bạn. Giá mà tôi đi cùng, hay là Nan, hay là một ai đó. Hy vọng anh sẽ tìm thấy những gì cần tìm trên đó. Tôi sẽ cầu nguyện cho hai người.” “Cám ơn nhé, Willie. Tôi quý anh lắm.” Anh vẫy chào trong khi Willie lùi ra khỏi lối đi. Mack biết anh bạn của mình sẽ giữ lời. Chắc là anh cũng cần đến tất cả những lời cầu nguyện có thể có được. Anh dõi nhìn đến lúc Willie chạy qua khúc quanh rồi mất dạng, rồi rút lá thư trong túi áo ra đọc một lần nữa, rồi cất lại vào trong chiếc hộp thiếc
nhỏ, đặt trên ghế sau cùng với các đồ đạc chất trên đó. Khóa cửa lại, anh quay vào nhà để trải qua một đêm không ngủ. *** Từ mờ sáng thứ sáu, Mack đã ra khỏi thành phố theo đường I-84. Nan đã gọi điện đêm trước từ nhà chị gái báo tin cả gia đình đến nơi an toàn, và anh định bụng ít ra đến chủ nhật mới có một cú điện nữa. Đến lúc đó chắc anh đã trên đường về rồi, nếu như chưa về đến nhà. Anh đã chuyển tiếp cuộc gọi từ điện thoại nhà sang điện thoại di động để dự phòng, mặc dù không định nghe điện thoại khi đã vào khu bảo tồn. Anh đi lại con đường đã đi ba năm rưỡi trước đó, với một vài đổi thay nho nhỏ: không có quá nhiều ổ gà và anh lướt qua thác Multnomah mà không ngắm nhìn. Anh đã dẹp bỏ mọi ý nghĩ về nơi ấy từ khi Missy mất tích, giam sâu chôn chặt cảm xúc tận đáy lòng. Trên chặng đường dài đến hẻm núi, Mack bắt đầu cảm thấy một nỗi hoang mang càng lúc càng trỗi dậy. Anh cố tránh không nghĩ đến việc đang làm và cố gắng luôn dấn bước, nhưng giống như trứng chọi đá, cảm xúc và nỗi sợ bị kìm nén bắt đầu tìm cách len ra. Mắt anh tối sầm và bàn tay siết chặt tay lái để chống lại sự thôi thúc quay xe về nhà mỗi khi đến khúc quanh. Anh biết mình đang lái thẳng vào chính giữa nỗi đau của mình, cơn lốc xoáy của nỗi đau lớn đã từng triệt hạ trong anh ý thức về sự sống. Những hình ảnh chớp nhoáng của ký ức và những khoảnh khắc cuồng dại nhói đau giờ đây ập đến thành từng đợt sóng, hòa cùng vị đắng và vị máu trong miệng. Cuối cùng anh đến La Grande, dừng lại đổ xăng, rồi đi theo xa lộ 82 đến Joseph. Trước đó, anh đã tần ngần muốn dừng bước tìm Tommy nhưng rồi quyết định thôi. Càng ít người nghĩ anh là một tên lú lẫn điên rồ càng tốt, đổ xăng xong anh đi tiếp. Xe cộ thưa thớt, vùng Imnaha và những con đường nhỏ khá trống trải và khô ráo vào mùa này, ấm hơn nhiều so với anh hình dung. Nhưng dường như càng lái lâu anh càng đi chậm, như thể căn chòi đang khước từ anh. Chiếc Jeep băng vào vùng tuyết vĩnh cửu để bắt đầu những dặm cuối cùng dẫn đến con đường mòn hướng đến căn chòi. Át cả tiếng rú của động cơ, anh nghe thấy cả tiếng lốp xe lì lợm nghiến vào tuyết và băng dày. Thậm
chí sau mấy lần quẹo sai đường phải quay lui, khi Mack đậu xe lại ở đầu đường mòn, lúc ấy chỉ mới đầu giờ chiều. Anh ngồi đó gần năm phút tự trách mình sao ngốc nghếch đến vậy. Mỗi dặm đường đi qua từ Joseph, ký ức lại quay về rõ ràng đến choáng ngợp, và bây giờ trí não anh biết chắc rằng mình không muốn đi thêm nữa. Nhưng sự thôi thúc từ bên trong lại không gì cưỡng được. Trong lúc tinh thần giằng xé, anh đưa tay cài áo khoác và với lấy đôi găng da. Anh đứng đó nhìn xuống con đường, quyết định bỏ lại mọi thứ trong xe và đi bộ chừng cả dặm đường để đến hồ; ít nhất theo cách đó anh không phải vác theo thứ gì đi ngược trở lại lên đồi khi quay về, một điều mà giờ đây anh mong sắp diễn ra. Trời đủ lạnh để không khí anh thở ra ngưng đọng lại quanh mình và tưởng chừng như nó sắp đóng băng. Cơn đau chất chứa trong bụng anh giờ đây khiến anh phát hoảng. Sau năm bước chân, anh dừng lại và ọe thốc ra mạnh đến độ ngã quỳ xuống đất. “Cứu con với!” anh rên rỉ. Anh đứng dậy trên đôi chân run rẩy và dợm bước về phía chiếc xe. Rồi anh dừng lại và quay bước. Anh mở cửa sau rồi với tay vào sục sạo đến khi sờ thấy chiếc hộp thiếc. Anh cạy nắp hộp ra và tìm thấy thứ mình đang tìm kiếm, bức ảnh Missy mà anh yêu thích, rồi lấy nó ra cùng với bức thư. Đậy nắp lại, anh bỏ chiếc hộp lại trên ghế. Anh dừng một lát ngắm nhìn ngăn kéo trên xe. Cuối cùng, anh mở ra lấy khẩu súng của Willie, kiểm tra xem đạn đã nạp chưa rồi cài chốt an toàn. Đứng dậy, anh đóng cửa xe, với lấy áo khoác, nhét khẩu súng vào thắt lưng phía sau. Anh quay người nhìn con đường một lần nữa, nhìn tấm ảnh Missy một lần cuối trước khi nhét vào túi áo sơmi cùng với lá thư. Nếu người ta tìm thấy anh đã chết, ít nhất họ biết anh đang nghĩ đến ai. Con đường mòn đầy bất trắc, những tảng đá đóng băng và trơn trượt. Mỗi bước đều phải tập trung trong khi đi xuống khu rừng rậm rạp. Cảnh vật yên ắng một cách khác lạ. Âm thanh duy nhất anh nghe thấy là tiếng bước chân lạo xạo trên tuyết và hơi thở của anh nặng nhọc. Mack bắt đầu có cảm giác mình bị theo dõi, và thậm chí một lần anh quay phắt lại xem có ai không. Anh càng muốn quay người bỏ chạy về chỗ chiếc xe Jeep thì đôi
bàn chân dường như lại càng có ý riêng của chúng, quyết đi tiếp xuống dưới và đi sâu vào cánh rừng lờ mờ và càng lúc càng rậm rạp. Đột nhiên có thứ gì đó di chuyển gần kề. Giật mình, anh đứng bất động, im lặng và cảnh giác. Tim đập thình thịch bên tai, miệng chợt khô khốc, anh từ từ với tay ra sau lưng rút súng ra khỏi thắt lưng. Bật chốt an toàn, anh nhìn chăm chú vào trong bụi cây thấp tối mò, cố dõi nhìn hay lắng nghe một thứ gì đó để giải thích cho tiếng động và làm mình bớt xáo động. Nhưng thứ gì đó đã chuyển động giờ đây đã ngừng. Nó đang chờ anh? Để chắc ăn, anh đứng bất động trong vài phút trước khi bắt đầu nhích tới trên con đường mòn về phía dưới, cố gắng càng yên lặng càng tốt. Khu rừng dường như vây quanh anh và anh bắt đầu thắc mắc một cách sợ sệt liệu mình có đi sai đường không. Trong khóe mắt anh lại thấy có sự chuyển động và lập tức ngồi thụp xuống, nhìn xuyên qua tán cành thấp của một cái cây cạnh đó. Một thứ gì đó ma quái, như một cái bóng, đã luồn vào trong bụi rậm. Hay là anh tưởng tượng ra? Anh lại chờ đợi, không nhúc nhích một cơ bắp nào. Có phải Chúa không? Lòng anh đầy hoài nghi. Có lẽ một con thú? Anh không nhớ nổi trên này có sói, hươu hay nai sừng tấm có thể gây tiếng động. Rồi anh nghĩ đến điều mà anh vẫn tránh né: “Nếu tệ hơn thì sao? Nếu hắn đã và đang rình rập trên này thì sao? Nhưng để làm gì?” Từ từ đứng dậy khỏi nơi ẩn nấp, súng vẫn trong tay, anh bước một bước về phía trước thì đột nhiên bụi rậm phía sau anh dường như bùng nổ. Mack quay phắt lại, kinh sợ và chuẩn bị chiến đấu để thoát thân, nhưng chưa kịp bóp cò thì anh nhận ra phần sau của một con lửng lao vụt đi lên trên con đường mòn. Anh từ từ thở ra một hơi thở từ nãy giờ nén lại không hề hay biết, hạ súng xuống rồi lắc đầu. Chàng Mack gan dạ chỉ còn là một cậu bé sợ sệt trong rừng. Cài lại chốt an toàn, anh nhét súng vào. “Có người mệt đấy,” anh nghĩ bụng trong khi thở ra nhẹ nhõm. Hít một hơi sâu và thở ra chầm chậm, anh trấn tĩnh lại. Nhận định rằng mình đã hết sợ rồi, anh tiếp tục đi, cố gắng tỏ ra tự tin hơn cảm giác trong lòng. Anh hy vọng mình không vượt qua bao nhiêu dặm đường vô ích. Nếu Chúa sắp gặp anh ở đây, anh rất nôn nao muốn trút bỏ vài nỗi niềm chất chứa, dĩ nhiên là một cách tôn kính.
Sau vài lần rẽ lối, anh thoát khỏi khu rừng và bước ra khoảng trống. Xa xa dưới sườn đồi anh lại thấy nó - căn chòi. Anh đứng, nhìn nó, lòng rối bời cảm xúc và bấn loạn. Vẻ ngoài nó dường như chẳng có gì thay đổi ngoài tiết đông đã làm trụi lá cây cối và bức màn tuyết trắng bao trùm xung quanh. Căn chòi trông có vẻ chết chóc và trống rỗng, nhưng khi anh nhìn chằm chằm dường như trong khoảnh khắc nó biến thành một gương mặt quái quỷ, vặn vẹo trông một dung mạo xấu xí của quỷ sứ, nhìn ngược lại anh và thách thức anh dám tiến đến. Bất chấp cảm giác sợ hãi trào dâng, Mack kiên quyết bước một trăm bộ cuối cùng về phía dưới đến trước hiên nhà. Ký ức và nỗi kinh hoàng của lần cuối cùng đứng tại khung cửa này tràn về và anh ngập ngừng trước khi đẩy cửa. “Xin chào?” anh gọi, không quá lớn tiếng. Hắng giọng, anh gọi lại lần nữa, lần này lớn hơn. “Xin chào? Có ai ở đây không?” Giọng anh vang dội vào khoảng trống trong nhà. Cảm thấy gan lì hơn, anh bước hẳn qua khung cửa rồi dừng lại. Khi mắt quen dần với bóng tối, anh bắt đầu nhận ra chi tiết của căn phòng bởi ánh sáng chiều lọt qua khung cửa sổ vỡ. Bước vào phòng chính, anh nhận ra cái ghế và cái bàn cũ. Mack không cưỡng lại được chính mình khi đôi mắt anh hướng về nơi mà anh không dám nhìn. Đã mấy năm rồi mà vết máu phai vẫn còn nhìn rõ mồn một trên ván gỗ gần lò sưởi nơi người ta tìm thấy chiếc áo của Missy. “Bố hết sức xin lỗi con, con ơi.” Nước mắt bắt đầu dâng lên trong mắt anh. Rồi cuối cùng tim anh bùng nổ như một cơn thác lũ, tháo tung cơn tức giận tích tụ để nó chảy tràn trên thung lũng cảm xúc sỏi đá. Ngước mắt lên trời, anh bắt đầu hét lên những câu hỏi khổ đau. “Tại sao? Tại sao Chúa lại để xảy ra chuyện này? Tại sao người lôi tôi đến đây? Bao nhiêu nơi để gặp - tại sao lại ở đây ?” Con tôi bị giết hại chưa đủ sao? Người lại đùa với cả tôi nữa sao?” Trong một cơn cuồng nộ mù quáng, Mack chộp lấy chiếc ghế gần nhất và ném vào cửa sổ. Nó gãy tan. Anh nhặt một chân ghế lên rồi bắt đầu tàn phá mọi thứ trong tầm tay. Những tiếng kêu rên rỉ, than van của tuyệt vọng và điên cuồng bật ra từ môi anh trong khi anh trút cơn thù hằn vào nơi chốn khủng khiếp này. “Tôi căm ghét người!” Trong cơn mê loạn anh trút hết thịnh nộ cho đến khi nhừ tử và kiệt lực.
Thất vọng và bất lực, Mack ngồi sụp xuống sàn cạnh vết máu. Anh chạm vào nó một cách cẩn trọng. Đây là tất cả những gì còn lại của Missy. Nằm xuống cạnh cô bé, ngón tay anh dịu dàng lần bước theo viền máu đã phai màu và thầm thì nhẹ nhàng: “Missy, bố hết sức xin lỗi. Bố xin lỗi đã không bảo vệ được con. Bố xin lỗi đã không tìm thấy con.” Thậm chí trong lúc kiệt lực, cơn tức giận vẫn trào sôi và một lần nữa anh lại nhắm vào đấng Chúa thờ ơ mà anh hình dung đang ở đâu đó bên trên mái nhà. “Chúa, người còn không để cho chúng con tìm thấy con bé để chôn cất cho tử tế. Đòi hỏi như thế có gì quá đáng không?” Trong hỗn độn của cảm xúc hết cuốn trôi lại dâng trào, cơn thịnh nộ của anh nhường bước cho nỗi đau, một con sóng đau buồn mới mẻ lại bắt đầu hòa nhịp với hoang mang. “Vậy người ở đâu? Người muốn gặp tôi ở đây mà? Tôi đây, Chúa ơi. Còn Chúa? Chẳng thấy người ở đâu! Khi tôi cần chẳng bao giờ thấy Chúa - cả khi tôi còn nhỏ, cả khi tôi mất Missy. Giờ đây nữa! ‘Papa’ gì kỳ vậy!” Anh phun ra hàng tràng. Mack ngồi đó trong yên lặng, sự trống rỗng của nơi này xâm lấn hồn anh. Mớ bòng bong những câu chất vấn không có lời đáp và những lời cáo buộc cuồng nộ lắng xuống bên cạnh anh trên sàn nhà, rồi từ từ trôi vào chiếc hố ưu phiền. Nỗi đau siết chặt quanh anh, và anh gần như mời mọc cảm giác âm ỉ này. Nỗi đau này anh biết. Anh đã quen với nó rồi, gần như một người bạn. Mack cảm nhận được khẩu súng đằng sau lưng, cảm giác cuốn hút lành lạnh trên da. Anh rút súng ra, không biết để làm gì. Ồ, để không còn quan tâm, để không còn cảm giác đau, để không còn cảm giác gì nữa. Tự tử? Trong khoảnh khắc ý tưởng ấy thật hấp dẫn. “Thật dễ quá,” anh nghĩ. “Không còn nước mắt, chẳng còn nỗi đau...” Anh như thấy cả một hố đen toác ra trên sàn đằng sau khẩu súng mà anh đang ngắm nhìn, một khoảng tối hút lấy mọi dấu vết hy vọng cuối cùng trong tim anh. Tự sát là một cách để trả đũa Chúa, nếu như có Chúa. Những đám mây bên ngoài dạt ra, và một tia nắng mặt trời chợt lọt vào phòng, xuyên thấu nỗi tuyệt vọng của anh. Nhưng... còn Nan thì sao? Còn Josh, Kate, Tyler và Jon thì sao? Anh muốn ngăn nỗi đau trong tim mình biết bao, anh biết anh cũng không thể làm chúng thêm đau.
Mack ngồi thẫn thờ trong sự khánh kiệt cảm xúc, cân nhắc những sự lựa chọn với khẩu súng trên tay. Một làn gió lạnh lướt trên mặt anh và trong thâm tâm anh phần nào muốn nằm xuống để chết đi vì lạnh cóng, anh đã quá kiệt sức. Anh ngồi thụp xuống dựa vào tường rồi dụi đôi mắt mệt mỏi. Anh nhắm mắt lại và lẩm bẩm: “Bố yêu con Missy. Bố nhớ con nhiều lắm.” Rồi chẳng mấy chốc anh trôi tuột vào giấc ngủ li bì. Chắc chỉ vài phút sau thì Mack choàng dậy. Ngạc nhiên vì mình ngủ thiếp, anh đứng phắt dậy. Nhét súng trở lại trong thắt lưng và cất cơn giận vào đáy sâu thẳm trong tâm hồn, anh bước ra cửa. “Thật là quái gở! Mình đúng là thằng đần! Lại còn hy vọng Chúa quan tâm đến mức gửi thư!” Anh nhìn lên xà nhà. “Đủ rồi, Chúa,” anh thì thào. “Tôi hết chịu nổi rồi. Tôi đã mệt mỏi phải tìm kiếm người khắp nơi.” Vừa nói anh vừa bước ra cửa. Anh quyết định đây là lần cuối anh đi tìm Chúa. Nếu Chúa muốn anh, Chúa phải đến với anh. Anh thò tay vào túi lấy ra bức thư nhận được từ thùng thư rồi xé thành từng mảnh, để mặc cho nó từ từ rơi qua kẽ tay, cuốn bay theo cơn gió lạnh tràn tới. Một người đàn ông mệt mỏi, anh bước ra khỏi hiên nhà, với những bước chân nặng nề và một cõi lòng còn nặng nề hơn, anh bắt đầu cuốc bộ trở lại xe. *** Anh bước đi chưa được năm mươi bộ lên con đường mòn thì cảm thấy một luồng khí ấm bất chợt ập đến với mình từ phía sau. Tiếng chim hót chiêm chiếp phá tan sự tĩnh lặng băng giá. Con đường phía trước mặt anh thoắt biến mất lớp băng tuyết bao phủ, như thể có ai bật máy sấy. Mack dừng lại nhìn trong khi bốn bề xung quanh màu trắng bao trùm tan biến và được thay thế bằng một sự lớn dậy rực rỡ. Ba tuần lễ mùa xuân nảy nở trước mắt anh trong vòng ba mươi giây. Anh dụi mắt và trấn tĩnh lại giữa cơn lốc các sự việc. Thậm chí những bông tuyết mỏng đang rơi xuống cũng chợt biến thành những bông hoa li ti rơi lững lờ rồi đáp xuống đất. Cảnh tượng anh đang nhìn thấy dĩ nhiên là hoàn toàn không thể. Lớp tuyết biến mất và hoa dại mùa xuân bắt đầu tô điểm bên lề con đường mòn và cả trong rừng đến tận nơi thật xa mà mắt anh nhìn thấy. Chim cổ đỏ và se sẻ đuổi nhau giữa các tàn cây. Sóc và sóc chuột thỉnh thoảng băng ngang
con đường phía trước, một số con còn ngồi lại và nhìn anh một lát trước khi lủi vào bụi cây. Anh thậm chí còn nghĩ rằng mình đã thoáng thấy một con hươu đực hiện ra từ một trảng tối trong rừng, nhưng nhìn lại thì nó đã đi mất. Như thể bấy nhiêu chưa đủ, hương hoa bắt đầu lan trong không trung, không phải là mùi thoang thoảng của hoa dại trên núi, mà là hương ngào ngạt của hoa hồng, hoa lan và các hương thơm lạ lùng khác chỉ thấy ở những vùng nhiệt đới. Mack không còn nghĩ về nhà nữa. Một nỗi khiếp sợ chụp lấy anh, như thể anh đã mở tung hộp Pandora và đang bị cuốn đi vào giữa cơn khùng điên, biến mất mãi mãi. Lảo đảo, anh cẩn thận xoay người lại, cố bám víu lấy một chút ý thức minh mẫn. Anh choáng váng. Chẳng còn giống mấy với trước đây, nếu có giống. Căn chòi đổ nát đã được thay thế bằng một ngôi nhà gỗ các chắc chắn và xây cất đẹp đẽ, đang đứng chắn giữa anh và hồ nước, mà anh đang nhìn từ ngay phía trên mái nhà. Nó được làm bằng những thanh gỗ dài hết cỡ và bào bằng tay, mỗi thanh đều được cưa đo vừa khít. Thay cho những bụi rậm tăm tối um tùm khủng khiếp, những dây tầm xuân, và hang ổ của quỷ sứ, mọi thứ Mack nhìn thấy giờ đây hoàn hảo như tranh. Khói lững lờ bốc lên từ ống khói buông vào bầu trời chiều hôm, một dấu hiệu của sự sinh hoạt trong nhà. Một lối đi đã được làm sẵn dẫn thẳng đến và vòng quanh hàng hiên, viền bởi một hàng rào cọc trắng. Âm thanh tiếng cười vẳng đến từ đâu đó gần kề - có lẽ từ bên trong, nhưng anh không chắc. Có lẽ cảm giác này cũng giống như trải nghiệm một cơn loạn thần kinh. “Mình mất trí rồi,” Mack nhủ thầm. “Không thể có chuyện này được. Không thể có thực được.” Đó là một nơi Mack chỉ có thể tưởng tượng trong những giấc mơ tươi đẹp nhất, và điều này càng làm cho chuyện thêm đáng ngờ. Cảnh tượng thật kỳ thú, hương thơm gây đê mê, còn đôi bàn chân anh, như thể chúng có trí não riêng, đã đưa anh quay trở lại lối đi và tiến đến hàng hiên trước nhà. Hoa nở khắp nơi và hương hoa cỏ các loại gợi trong anh những ký ức từ lâu quên lãng. Anh vẫn nghe nói chiếc mũi là mối liên hệ tốt nhất với
quá khứ, và khứu giác là mạnh nhất để tìm lại ký ức lãng quên, và giờ đây ký ức xưa cũ của thời niên thiếu vụt lướt trong tâm trí anh. Khi đến hàng hiên anh lại dừng chân. Những giọng nói rõ ràng phát ra từ trong nhà. Mack cưỡng lại sự thôi thúc đột nhiên trỗi dậy muốn anh bỏ chạy, như thể anh là một cậu nhóc đã ném bóng vào vườn hoa của người láng giềng. “Nhưng nếu Chúa ở trong thì cũng đâu có hay ho gì mấy?” Anh nhắm mắt lại rồi lắc đầu xem thử mình có giũ bỏ được ảo giác và tái hiện lại thực tại không. Nhưng khi mở mắt ra, mọi thứ vẫn còn đó. Anh ngập ngừng đưa tay ra chạm lấy thanh vịn bằng gỗ. Rõ ràng nó có vẻ thật. Giờ đây, anh lại đối diện với một tình thế tiến thoái lưỡng nan. Ta sẽ làm gì khi đứng trước cửa một căn nhà, hay là căn chòi trong trường hợp này, mà Chúa ở bên trong? Có nên gõ cửa không? Mà chắc là Chúa cũng đã biết Mack đang ở đây rồi. Có lẽ cứ bước vào và tự giới thiệu thôi, nhưng như thế dường như cũng kỳ cục chẳng kém. Rồi xưng hô với Chúa thế nào đây? Gọi người là Cha, hay Đấng Toàn năng, hay đơn giản là Chúa, rồi tốt nhất có phải là sụp xuống để tôn kính người hay không, thật sự anh thấy tâm trạng mình không sẵn sàng. Trong khi cố gắng lấy lại quân bình trong tâm trí, cơn thịnh nộ mà anh tưởng mới đây đã tan biến trong lòng giờ lại bắt đầu trỗi dậy. Không còn băn khoăn hay nghĩ ngợi phải xưng hô với Chúa như thế nào và bị kích động bởi cơn thịnh nộ, anh bước thẳng đến cửa. Mack quyết định xô mạnh cửa bước vào xem sao, nhưng khi anh vừa vung tay định làm thế thì cửa mở ra, và anh ngay trước mặt anh là một phụ nữ to lớn người Mỹ gốc Phi đang tươi cười. Anh nhảy lùi lại theo bản năng, nhưng quá chậm. Với tốc độ trái ngược với vóc dáng của mình, chị bước lên xóa nhòa khoảng cách giữa họ và ôm anh trong đôi tay, nhấc bổng anh lên khỏi mặt đất và xoay anh vòng quanh như một đứa bé. Và miệng kêu vang tên anh - “Mackenzie Allen Phillips” - với một sự nồng nhiệt của những ai gặp lại họ hàng thân thiết mà lưu lạc lâu năm. Cuối cùng, chị ta đặt anh xuống đất trở lại và đặt tay lên vai anh, đẩy anh lùi lại như thể để nhìn cho kỹ. “Mack, xem nào!” chị thốt lên. “Anh đây rồi, trưởng thành quá. Tôi cứ mong đợi suốt để được gặp anh tận mặt. Thật là tuyệt, anh đã đến đây với
mọi người. Ối cha cha, tôi yêu anh biết bao!” Nói đoạn, chị lại ôm choàng lấy anh. Mack không nói nên lời. Trong mấy giây đồng hồ, người phụ nữ này đã phá tan hầu như mọi ngăn cách xã hội mà anh vẫn an bình nấp mình trong đó. Nhưng có điều gì đó trong cách chị nhìn anh và kêu vang tên anh làm anh cũng vui sướng không kém được gặp chị, cho dù anh chẳng mảy may biết chị ta là ai. Đột nhiên, anh thấy choáng ngợp bởi hương thơm tỏa ra từ chị, và nó làm anh run rẩy. Đó là hương hoa dành dành và hoa nhài, nước hoa của mẹ anh không thể lẫn vào đâu được, thứ nước hoa mà anh giấu trong chiếc hộp thiếc nhỏ. Trước đó anh đã bị xô đến bên vách đá chênh vênh của cảm xúc rồi, và giờ đây mùi hương ngào ngạt và ký ức đeo đẳng làm anh chao đảo. Anh đã có thể cảm nhận được cái ấm của nước mắt bắt đầu ngấn trong mắt, như thể chúng đang gõ cửa trái tim anh. Dường như chị cũng thấy. “Được rồi, anh cứ khóc đi... Tôi biết anh đau khổ, và tôi biết anh tức giận và hoang mang. Cứ khóc đi. Đôi lúc hãy để nước mắt tuôn rơi cho tâm hồn được thư thái - nước mắt ấy sẽ chữa lành.” Nhưng mặc dù Mack không kìm được những giọt nước mắt ngấn đầy trong mắt, anh vẫn không sẵn sàng khóc được - chưa thể, đối với người phụ nữ này. Với tất cả cố gắng, anh giữ cho mình không rơi trở lại chiếc hố đen cảm xúc. Trong khi ấy, người phụ nữ đứng đó giang rộng đôi tay như vòng tay người mẹ. Anh cảm thấy sự hiện hữu của tình yêu. Ấm áp, mời gọi và tan chảy. “Chưa phải lúc?” chị lên tiếng. “Thôi được rồi, chúng ta sẽ làm mọi việc theo ý anh và thời gian của anh. Nào, vào nhà đi. Tôi cầm áo khoác cho anh nhé? Và súng nữa. Anh đâu cần đến nó phải không? Chúng ta đâu có muốn bị hại phải không nào?” Mack không biết chắc phải làm gì hay nói gì. Chị ta là ai? Làm sao chị ta biết? Anh đứng chôn chân một chỗ, nhưng từ từ cởi áo khoác ra một cách máy móc.
Người phụ nữ da đen to lớn cầm lấy áo và anh đưa súng cho chị mà chị đón lấy bằng hai ngón tay như thể nó ô uế. Ngay khi chị xoay người để bước vào nhà, một người phụ nữ nhỏ nhắn, rõ ràng gốc Á xuất hiện đằng sau chị. “Đây, để đó cho tôi,” giọng chị véo von. Rõ ràng chị ta không nói về chiếc áo khoác hay khẩu súng, mà là một điều gì khác, và trong nháy mắt đã đứng ngay trước mặt anh. Không hề nhúc nhích, anh nhìn xuống và thấy chị đang cầm một cái chai pha lê mỏng manh và một chiếc cọ nhỏ, như mấy chiếc cọ mà Nan và Kate thường dùng để trang điểm, rồi nhẹ nhàng quét gì đó trên mặt anh. Trước khi anh kịp lên tiếng hỏi, chị mỉm cười rồi thì thầm, “Mackenzie, tất cả chúng ta đều có những thứ mình thấy quý giá để sưu tập đúng không nào?” Chiếc hộp thiếc nhỏ thoáng hiện trong tâm trí anh. “Tôi sưu tập nước mắt.” Khi chị lùi lại, Mack thấy mình nheo mắt nhìn chị một cách không chủ đích, như thể làm thế anh sẽ nhìn chị rõ hơn. Nhưng lạ thay, anh vẫn thấy khó khăn để chú tâm vào chị; chị ấy dường như lung linh ánh sáng và tóc tung bay mọi hướng cho dù chẳng hề có chút gió. Dường như nhìn chị qua khóe mắt còn dễ dàng hơn nhìn thẳng trực diện. Rồi anh liếc ra sau chị và nhận ra một người thứ ba đã xuất hiện trong nhà, người này là nam giới. Anh ta diện mạo như người Trung Đông và ăn vận như một công nhân, có cả thắt lưng đeo dụng cụ và găng tay. Người đó đứng thong dong, khoanh tay dựa vào khung cửa ngay trước mặt anh. Người đó vận một chiếc quần jean phủ đầy bụi gỗ và một chiếc sơ mi choàng xắn tay quá khuỷu, để lộ đôi cánh tay cơ bắp. Dáng vẻ anh ta thật dễ nhìn nhưng không hẳn đẹp trai - không phải là một người đàn ông nổi bật trong đám đông. Nhưng ánh mắt anh ta và nụ cười làm sáng bừng gương mặt và Mack cảm thấy khó mà quay đi. Mack lại bước lùi lại, cảm giác hơi choáng ngợp. “Còn ai nữa không?” giọng anh hơi khàn. Cả ba người nhìn nhau rồi cười phá. Mack cũng không cưỡng lại được nụ cười. “Không, Mackenzie,” người phụ nữ da đen cười rồi nó. “Chúng tôi chỉ có bấy nhiêu anh thấy rồi, quá đủ rồi.”
Mack cố gắng nhìn lại người phụ nữ châu Á. Theo diện mạo anh có thể nói con người rắn rỏi này có lẽ gốc Bắc Trung Quốc hoặc Nepal hay thậm chí người thiểu số Mông Cổ. Khó mà nói vì mắt anh phải tập trung mới nhìn được chị. Theo trang phục của chị, Mack phỏng đoán chị ta là một người quản vườn hoặc làm vườn. Chị có đôi găng dắt trong thắt lưng, không phải loại bằng da nặng nề như của người đàn ông, mà loại bằng vải nhẹ và cao su mà chính Mack cũng dùng để làm vườn ở nhà. Chị mặc đồ jean thô có thêu các họa tiết ở diềm - đầu gối lấm đất do quỳ xuống - một chiếc áo sơmi màu sáng có mảng vàng, đỏ và xanh dương. Nhưng anh biết tất cả những điều này do ấn tượng về chị hơn là do thực tế thị giác, vì dường như chị ẩn hiện trong tầm nhìn của anh. Người đàn ông bước đến, chạm vào vai Mack, hôn lên hai má anh, rồi ôm chặt anh. Mack biết ngay mình thích anh ấy. Khi họ rời ra, người đàn ông lùi lại, còn người phụ nữ châu Á lại tiến về phía anh, lần ôm lấy gương mặt anh trong đôi bàn tay mình. Từ từ và cố ý, chị đưa mặt mình đến gần rồi ngay lúc anh hình dung chị sẽ hôn mình thì chị dừng lại và nhìn sâu vào mắt anh. Mack tưởng như có thể nhìn xuyên qua chị. Rồi chị mỉm cười và hương thơm của chị phủ trùm lấy anh rồi nhấc lấy một trọng lượng khổng lồ ra khỏi vai anh, như thể lâu nay anh vẫn thồ đồ đạc trong một chiếc balô. Mack đột nhiên cảm thấy nhẹ hơn không khí, gần như thể anh không còn chạm đất nữa. Chị ta ôm lấy anh mà như không, hay thật sự như không chạm vào anh. Chỉ khi chị lùi lại, mấy giây sau thì anh mới nhận ra mình vẫn đang đứng trên đôi bàn chân và chúng vẫn còn chạm vào sàn. “Ồ, đừng màng đến chị ta,” người phụ nữ da đen to lớn cười. “Chị ta gây cảm giác đó cho tất cả mọi người.” “Tôi thích đấy,” anh lẩm bẩm, và cả ba người phá lên cười tiếp, và giờ đây Mack thấy mình cũng đang cười cùng với họ, không hiểu vì sao và cũng chẳng quan tâm lắm. Khi mọi người dứt tiếng cười, người phụ nữ to lớn khoác vai Mack, kéo anh lại gần rồi nói, “Được rồi, chúng tôi biết anh là ai, nhưng chắc chúng tôi phải tự giới thiệu với anh. Tôi,” chị nhiệt tình vung vẫy tay, “là quản gia và nấu bếp. Anh có thể gọi tôi là Elousia.”
“Elousia?” Mack hỏi, không hiểu gì cả. “Được rồi, anh không cần gọi tôi là Elousia; đó chỉ là tên gọi thôi. Cho nên,” chị khoanh tay lại và một tay tì cằm như đang suy nghĩ rất lung, “anh có thể gọi tôi như Nan vẫn gọi.” “Cái gì? Chị không định nói...” Bây giờ, Mack ngạc nhiên và thậm chí hoang mang hơn nữa. Chắc chắn đây không phải là vị Papa đã gửi thư? “Ý tôi là, định nói là Papa?” “Đúng,” chị đáp rồi cười, chờ cho anh nói như thể anh sắp nói điều gì nhưng anh không nói. “Còn ta,” người đàn ông ngắt lời, trông anh ở tuổi ngoài ba mươi và hơi thấp hơn Mack một chút. “Ta lo bảo dưỡng đồ đạc quanh đây. Ta thích làm công việc chân tay mặc dù hai người này sẽ nói cho anh biết, ta cũng thích nấu nướng và làm vườn hệt như họ.” “Trông anh như người gốc Trung Đông, chắc Ả rập?” Mack đoán. “Thật ra, ta là con kế trong một đại gia đình. Ta là người Do Thái, nói chính xác là dòng dõi Judah.” “Vậy thì...” Mack đột nhiên chao đảo khi nhận ra. “Vậy ra, người là...” “Jesus! Đúng. Anh có thể gọi ta như thế nếu anh muốn. Dù sao thì nó cũng đã trở thành tên gọi quen thuộc của ta. Mẹ ta gọi ta là Yeshua, nhưng ta cũng quen nghe gọi là Joshua hay thậm chí cả Jesse.” Mack đứng chết điếng và câm lặng. Những gì anh đang nhìn thấy và lắng nghe đơn giản không thể nào lường được. Hoàn toàn thật không tưởng... nhưng anh đang ở đây rồi, hay là anh có thật sự đang ở đây không? Anh chợt thấy chóng mặt. Cảm xúc tràn qua anh trong khi tâm trí anh cố gắng một cách vật vã để nhận thức tất cả thông tin. Vừa lúc anh sắp khuỵu xuống thì người phụ nữ châu Á bước đến gần và lôi anh ra khỏi luồng tập trung. “Còn tôi là Sarayu,” chị vừa nói vừa nghiêng đầu cúi chào và mỉm cười. “Quản vườn và làm nhiều việc khác.” Ý tưởng xô lấn lên nhau trong khi Mack vất vả hình dung phải làm gì. Có phải một trong những người này là Chúa? Nếu họ là ảo giác hay thiên
thần thì sao, hay là Chúa lát nữa mới đến? Như thế thì hơi rối. Tại vì có ba người, đây có thể là Ba ngôi. Nhưng sao lại là hai phụ nữ và một đàn ông mà chẳng có ai da trắng? Thế nhưng mà tại sao anh lại tự nhiên giả định Chúa là người da trắng? Anh biết đầu óc mình đang hỗn độn nên anh tập trung vào câu hỏi mà anh muốn được trả lời nhất. “Vậy thì,” Mack đánh liều hỏi, “người nào trong các vị là Chúa?” “Ta đây,” cả ba đồng thanh lên tiếng. Mack nhìn từng người, và mặc dù anh chẳng biết bám víu vào đâu từ thị giác và thính giác của mình, không hiểu vì sao, anh đã tin.
• 6 • MỘT CHÚT CỦA HẰNG SỐ PI Cho dù quyền năng của Chúa ra sao, diện mạo đầu tiên của Chúa không bao giờ mang dáng vẻ một Bậc thống lĩnh tuyệt đối, Đấng Toàn năng. Chúa luôn đặt mình vào tầm vóc con người và giới hạn chính mình. — JACQUES ELLUL, Tình trạng Vô chính phủ và Cơ đốc giáo Này, Mackenzie, đừng có đứng đực ra đó trợn mắt nhìn như thế, người phụ nữ da đen to lớn nói luôn miệng trong khi xoay người đi băng qua gian phòng. “Vào đây nói chuyện với ta trong khi ta nấu bữa tối. Hoặc nếu không muốn thì anh cứ làm gì tùy thích. Đằng sau nhà,” chị ta chỉ tay qua mái nhà mà không thèm nhìn hay chùng bước, “anh sẽ thấy có cần câu cạnh chỗ đậu xuồng, có thể dùng để câu cá hồi trong hồ.” Chị dừng ở cửa để hôn Jesus. “Có điều phải nhớ,” chị quay lại nhìn Mack, “anh phải rửa sạch những thứ anh bắt được.” Rồi nhoẻn cười, chị mất hút vào trong nhà, trên tay khoác chiếc áo của Mack và vẫn còn xách khẩu súng bằng hai ngón tay, giang cánh tay ra xa hết cỡ. Mack đứng đó với cái miệng há hốc và cảm xúc hoang mang tràn ngập trên gương mặt. Anh suýt không nhận ra Jesus bước đến khoác vai anh. Sarayu dường như vừa mới bốc hơi. “Chị ta tuyệt không nào!” Jesus thốt lên, cười với Mack. Mack quay lại đối diện với người đàn ông, lắc đầu. “Tôi có đang điên không? Liệu tôi có nên tin Chúa là một phụ nữ da đen to lớn và có khiếu hài hước đến vậy không?” Jesus cười. “Chị ta là một kẻ nổi loạn! Lúc nào chị ta cũng sẵn sàng cho anh một vố bất ngờ. Chị ta thích những điều bất ngờ, và thậm chí anh không nghĩ ra, chị ta luôn chọn thời điểm hoàn hảo.” “Thế à?” Mack nói, vẫn còn đang lắc đầu, và không chắc mình có thật sự tin điều đó. “Vậy bây giờ tôi phải làm gì?” “Anh chẳng phải làm gì cả. Anh muốn làm gì thì làm.” Jesus dừng rồi nói tiếp, cố giúp bằng cách đưa cho Mack vài gợi ý. “Ta đang làm đồ gỗ
trong xưởng; Sarayu đang ở trong vườn; anh có thể đi câu, bơi xuồng hoặc vào nói chuyện với Papa.” “Tôi cũng cảm thấy phải vào nói chuyện với Ngài, ừm... chị ấy.” “Ồ,” giờ thì Jesus nghiêm giọng. “Đừng vào nếu anh cảm thấy bị ép buộc. Điều đó chẳng có ý nghĩa gì ở đây cả. Hãy vào vì anh muốn.” Mack nghĩ một lúc rồi nhận thấy việc đi vào trong nhà thật ra chính là điều anh muốn. Anh cảm ơn Jesus, người mỉm cười với anh rồi quay bước đi về xưởng, còn Mack băng qua sàn để bước đến bên cửa. Một lần nữa, anh đơn độc, nhưng thoáng nhìn xung quanh, anh cẩn thận mở cửa ra. Anh thò đầu vào, ngập ngừng, rồi quyết định đánh liều. “Chúa ơi?” anh gọi, khá rụt rè và cảm thấy hơi ngốc nghếch. “Ta đang ở trong bếp, Mackenzie. Hãy đi theo giọng nói của ta.” Anh bước vào và lướt mắt quanh phòng. Liệu nơi này có thể chính là nơi ấy? Anh rùng mình khi những ý nghĩ tăm tối thoáng qua và xua chúng đi. Bên kia phòng hành lang chạy khuất vào góc. Liếc qua góc phòng về phía phòng khách, mắt anh dò tìm vị trí gần lò sưởi, nhưng chẳng có dấu vết gì trên bề mặt gỗ. Anh nhận ra căn phòng được trang trí tinh tế, có treo tranh như được vẽ hoặc làm bằng tay bởi trẻ con. Anh thắc mắc có phải người phụ nữ này đã nâng niu từng bức tranh này, như bất kỳ bậc cha mẹ yêu con nào cũng làm. Có lẽ đó là cách Ngài ấy trân trọng bất kỳ thứ gì được trao cho mình từ đáy lòng, một điều mà trẻ con dường như làm rất dễ dàng. Mack bước theo giọng ngâm nga nhè nhẹ của người vào một hành lang ngắn rồi đến một khu vực bếp rộng mở, có một chiếc bàn nhỏ với bốn ghế và mấy chiếc ghế mây. Bên trong căn nhà rộng rãi hơn anh hình dung. Papa đang làm gì đó và đứng xoay lưng lại phía anh, bột bay lên trong khi Ngài lắc lư theo tiếng nhạc nào đó đang lắng nghe. Bài hát ắt đã đến đoạn kết, được ghi dấu bằng vài cú lắc hông và lắc vai sau cùng. Quay lại nhìn anh, Ngài tháo tai nghe ra. Đột nhiên Mack muốn hỏi một ngàn câu hỏi, hay nói một ngàn điều mà có những câu không thể nói ra được và thật khủng khiếp. Anh biết chắc gương mặt mình đã phản bội lại những cảm xúc mà anh vất vả kiềm chế,
và rồi trong nhấp nháy anh dồn tất cả chúng vào trong ngăn buồng tơi tả tận đáy lòng, khóa chặt cửa rồi quay ra. Giá mà Ngài biết được mâu thuẫn nội tâm của anh, Ngài chẳng bộc lộ điều gì ra nét mặt - vẫn cởi mở, đầy sức sống và mời gọi. Anh thắc mắc: “Cho phép tôi hỏi, Ngài đang nghe gì vậy?” “Anh muốn biết thật à? “Thật!” Giờ đây, Mack tò mò. “West Coast Juice. Nhóm tên là Diatribe và một album chưa phát hành tên là Hành trình con tim . Thật ra mà nói,” Ngài nháy mắt với anh, “mấy đứa nhỏ này thậm chí chưa ra đời.” “Rồi,” Mack đáp, khá hoài nghi. “West Coast Juice à? Nghe không có vẻ tôn giáo lắm.” “Ồ, tin ta đi, không phải đâu. Giống nhạc funk Eurasian và blue hơn, nhịp điệu hay hơn.” Ngài bước sang một bên về phía Mack như đang diễn một động tác múa rồi vỗ tay. Mack lùi lại. “Vậy là Chúa nghe nhạc funk à?” Mack chưa bao giờ nghe từ “funk”được nói đến trong bất kỳ trường hợp nào như một ngữ vựng nghiêm chỉnh. “Tôi tưởng Ngài nghe George Beverly Shea hoặc là ca đoàn Mormon Tabernacle chứ - một thứ nhạc gì đó đạo giáo hơn.” “Này Mackenzie. Anh không cần phải lo lắng cho ta. Ta nghe mọi thứ - và không chỉ nghe nhạc, mà nghe những cõi lòng đằng sau nhạc. Anh không nhớ những lớp thần học sao? Những đứa nhỏ này chẳng nói điều gì mà ta chưa từng nghe; toàn là những lời chanh chua và ồn ào. Đầy bực tức và cả lý sự nữa. Chúng cũng là con của ta, đang bày tỏ và bộc bạch. Ta rất yêu mến những đứa con trai này. Ừ, ta sẽ để mắt đến chúng.” Mack cố gắng bắt kịp Ngài, cố hiểu chuyện gì đang diễn ra. Chẳng có tri thức nào ở trường dòng cũ có thể giúp chút gì cho anh. Anh chợt mất hết ngôn từ và hàng triệu câu hỏi dường như đã bỏ anh ra đi. Thế là anh đành nói lên điều hiển nhiên nhất. “Ngài phải biết là,” anh mở lời, “gọi Ngài là Cha thì hơi gượng ép.”
“Thế à?” Ngài nhìn anh với vẻ ngạc nhiên một cách đùa cợt. “Dĩ nhiên ta biết chứ. Lúc nào ta cũng biết.” Ngài cười. “Nhưng nói ta nghe xem, tại sao anh nghĩ là khó gọi? Có phải tại vì nó quá thân thuộc với anh, hay tại vì ta đang xuất hiện như một người phụ nữ, một người mẹ, hay là...” “Không phải chuyện nhỏ đâu,” Mack ngắt lời với một tiếng cười gượng gạo. “Hay là vì những thiếu sót của chính người cha của anh?” Mack thở hắt ra một cách không tự chủ. Anh không quen với những điều bí mật thăm thẳm bị phơi bày nhanh chóng và cởi mở như thế. Ngay lập tức tội lỗi và thịnh nộ trào dâng và anh muốn đáp trả ngay bằng những lời mai mỉa. Mack cảm thấy mình như đang lơ lửng trên một vực thẳm không đáy và lo rằng nếu bộc lộ ra bất kỳ điều gì, mình sẽ mất kiểm soát với mọi chuyện. Anh cố tìm một vị thế an toàn, nhưng chỉ được phần nào, cuối cùng đáp lại qua kẽ răng: “Có lẽ, đó là vì tôi chưa bao giờ biết bất kỳ ai tôi có thể thật sự gọi là Cha.” Sau khi đặt tô bột trộn đang ôm trên tay xuống, và mặc kệ chiếc muỗng gỗ đang nằm trong đó, Ngài xoay qua nhìn Mack dịu dàng. Ngài không cần nói; anh biết Ngài hiểu những gì đang diễn ra trong lòng anh và bằng cách nào đó anh biết Ngài quan tâm đến anh hơn ai hết. “Nếu anh cho phép, Mack, ta sẽ là người Cha mà anh chưa bao giờ có.” Lời đề nghị vừa mời mọc lại vừa gây phẫn uất. Lúc nào anh cũng muốn tìm một người Cha có thể tin cậy, nhưng anh không chắc sẽ tìm được nơi đây, nhất là nếu người này thậm chí không che chở được cho Missy. Một quãng yên lặng dài giữa họ. Mack không chắc nên nói gì, và Ngài chẳng gấp gáp cứ để những khoảnh khắc trôi qua thoải mái. “Nếu Ngài không lo được cho Missy, làm sao tôi tin Ngài lo cho tôi?” Đó, anh đã thốt ra - câu hỏi dày vò anh từng ngày trong nỗi đau lớn . Mack cảm thấy gương mặt mình đỏ lựng vì tức giận trong khi nhìn chằm chằm vào cái mà giờ đây anh cho là một sự hiện thân kỳ dị của Chúa, và anh nhận ra hai bàn tay mình đã siết chặt thành những nắm đấm. “Mack, ta rất tiếc.” Nước mắt bắt đầu lăn trên má Ngài. “Ta biết chuyện này đã gây ra một vực thẳm lớn dường nào giữa chúng ta. Ta biết anh chưa
hiểu chuyện này, nhưng ta hết sức yêu mến Missy, và anh cũng vậy.” Anh thích cái giọng Ngài nhắc đến tên Missy nhưng cũng ghét nó phát ra từ miệng Ngài. Nó bật ra từ lưỡi Ngài như loại rượu ngọt nhất và cho dù bao cuồng nộ đang sôi sục trong trí não anh vẫn biết người nói thật lòng. Anh muốn tin và từ từ cơn thịnh nộ của anh bắt đầu tháo lui. “Đó là lý do tại sao anh có mặt ở đây, Mack,” Ngài tiếp lời. “Ta muốn chữa lành vết thương đã lớn lên trong anh, và giữa chúng ta.” Để lấy chút tự chủ, anh đưa mắt nhìn ra cửa. Mới một phút trước đây anh có bao điều để thì thầm mà chẳng cần ngước lên. “Tôi cũng muốn điều đó,” anh thú nhận, “nhưng không biết làm sao...” “Anh bạn yêu dấu, chẳng có một câu trả lời đơn giản nào có thể cất được nỗi đau của anh. Tin ta đi, nếu ta mà có thì bây giờ ta sẽ dùng. Ta không có gậy thần để vung lên cho anh để rồi mọi chuyện đều tốt đẹp hơn. Cuộc đời là một chút thời gian và thật nhiều các quan hệ.” Mack mừng là họ đã tránh xa được lời cáo buộc thù địch của anh. Nó làm anh hoảng sợ vì đã có lúc anh gần như hoàn toàn bị nó lấn át. “Tôi nghĩ cuộc nói chuyện này sẽ dễ dàng hơn nếu Ngài không mặc váy đầm,” anh đề nghị và cố cười một nụ cười thật là yếu ớt. “Nếu chuyện dễ dàng hơn thì ta đã không làm thế,” Ngài nói với trong tiếng cười nhẹ khúc khích. “Ta không cố gây khó khăn hơn cho ai trong chúng ta về chuyện này. Nhưng đây là chỗ tốt để khởi đầu. Ta thường thấy rằng giải tỏa những vấn đề chính yếu trước thì sau đó các vấn đề tình cảm dễ dàng thu xếp hơn... khi tâm tư đã sẵn sàng.” Ngài lại nhặt lên chiếc muỗng gỗ đang nhễu một loại bột gì đó. “Mackenzie, ta chẳng phải là nam hay nữ, cho dù cả hai giới đều phát sinh từ ta. Nếu ta chọn xuất hiện trước mặt anh như một người đàn ông hay một người phụ nữ, đó là vì ta yêu thương anh. Đối với ta, việc xuất hiện như một người phụ nữ và gợi ý cho anh gọi ta là Cha chỉ đơn giản là để trộn lẫn các thứ ẩn dụ, để giúp anh không dễ rơi vào những khuôn khổ tôn giáo.” Ngài chồm tới như để chia sẻ một điều bí mật. “Hiện ra trước anh trong hình hài một ông lão rất to lớn, da trắng và râu dài, như Gandalf, chỉ tổ
củng cố những hình tượng tôn giáo có sẵn trong anh, và kỳ cuối tuần này không nhằm để củng cố các hình tượng tôn giáo của anh.” Mack suýt cười phá lên để nói: “Ngài biết không? Tôi đến đây chắc mẩm mình là kẻ điên rồ!” Thay vì nói thế, anh chú tâm vào lời người phụ nữ vừa nói và trấn tĩnh lại. Anh tin rằng, ít nhất trong đầu mình, Chúa là một linh hồn, chẳng phải nam hay nữ, nhưng mặc dù vậy, anh thấy xấu hổ phải thú nhận với chính mình rằng mọi hình dung của anh về Chúa đều hoàn toàn là một nhân vật da trắng và nam giới. Ngài ngừng nói, chỉ trong giây lát để cất gia vị vào kệ trên mép cửa sổ rồi lại xoay sang nhìn anh. Ngài nhìn Mack chăm chú. “Có phải lúc nào anh cũng gặp vấn đề khi nhìn nhận ta là Papa của con? Và sau bao nhiêu chuyện đã trải qua, giờ đây con khó có thể chấp nhận một người cha đúng không?” Anh biết Ngài nói đúng, và anh nhận ra sự ân cần và tình thương trong việc Ngài đang làm. Nhưng bằng cách nào đó, cách mà Ngài tiếp cận anh đã dấy lên trong anh sự phản kháng đối với tình yêu ấy. Thật kỳ lạ, và đau đớn, và có lẽ một chút tuyệt vời nữa. “Nhưng vậy thì,” anh ngưng lại, vẫn chú tâm giữ vững lý trí, “tại sao lại có sự nhấn mạnh việc Ngài làm Papa? Dường như đó là cách Ngài tự thể hiện mình phổ biến nhất.” “Ừ,” Papa đáp, xoay lưng đi vì bận tay với bếp núc, “có nhiều lý do cho việc đó, và một số lý do rất thâm sâu. Giờ đây ta phải nói rằng kể từ ngày Sáng thế, vai trò người cha rất thiếu thốn so với vai trò người mẹ. Đừng hiểu sai ta, cả hai đều cần - nhưng cần phải nhấn mạnh vai trò người cha vì sự thiếu hụt lớn lao của nó.” Mack quay đi hơi bối rối, cảm thấy chuyện đã vượt ngoài sức mình. Trong khi suy tư, anh nhìn qua cửa sổ ngắm khu vườn trông hoang dã. “Ngài biết con sẽ đến, có đúng không?” Rốt cục, Mack thốt lên lặng lẽ. “Dĩ nhiên ta biết.” Người lại bận rộn, quay lưng về phía anh. “Vậy thì con có được tự do không đến chăng? Con không có sự lựa chọn nào trong việc này ư?”
Cha quay lại nhìn anh, hai bàn tay dính đầy bột nhào. “Câu hỏi hay - con muốn mổ xẻ vấn đề sâu đến đâu?” Ngài không chờ câu trả lời, biết rằng Mack chẳng có câu nào. Thay vào đó, Ngài hỏi: “Con có tin rằng con tự do ra đi không?” “Con nghĩ thế. Có phải không?” “Dĩ nhiên rồi! Ta không quan tâm đến những tù nhân. Con có quyền tự do bước ra khỏi cửa ngay lúc này và quay trở về ngôi nhà vắng của mình. Hoặc, con có thể xuống chỗ Cối Xay chơi với Willie. Nhưng ta biết rằng con rất tò mò muốn đến, liệu điều đó có hạn chế quyền tự do bỏ đi của con không?” Ngài dừng lại rồi quay sang làm việc tiếp, nói ngoái lại với anh. “Hay là nếu con muốn đi sâu, ta có thể trò chuyện về bản chất của tự do. Liệu tự do có phải là mình được phép làm mọi điều mình muốn? Hay là ta có thể nói chuyện về những ảnh hưởng có tính kiềm chế trong cuộc sống và đi ngược lại tự do của con. Di sản di truyền của con, DNA của con, cơ chế sinh hóa riêng biệt của con, thế giới lượng tử đang diễn ra ở cấp độ hạ nguyên tử mà chỉ có ta là người quan sát mọi lúc. Hay là sự xâm nhập của căn bệnh trong tâm hồn con để kiềm chế và trói buộc con, hay là các ảnh hưởng xã hội xung quanh, hay là các thói quen đã tạo ra những mối liên kết và đường dẫn tiếp hợp trong não con. Rồi còn vấn đề quảng cáo, tuyên truyền và khuôn mẫu. Giữa một hợp lưu của những yếu tố khống chế đa diện ấy,” Ngài thở dài, “tự do thật sự nghĩa là gì?” Mack chỉ đứng đó không biết nói gì. “Chỉ riêng ta có thể giải thoát cho con, Mackenzie, nhưng tự do không thể ép buộc.” “Con không hiểu,” Mack đáp. “Thậm chí con còn chưa hiểu những gì Ngài vừa nói.” Ngài quay lại mỉm cười. “Ta biết. Ta nói không phải để con hiểu ngay bây giờ. Ta nói cho con về sau. Vào lúc này, con thậm chí còn không hiểu rằng tự do là một quá trình dần dà.” Từ từ đưa tay ra, Ngài nắm lấy bàn tay Mack, với đầy bột, rồi nhìn thẳng vào mắt anh Ngài nói tiếp: “Mackenzie, chân lý sẽ giải thoát cho con và chân lý có một cái tên; hắn đang ở trong
xưởng ngay bây giờ và dính đầu mùn cưa. Mọi thứ đều liên quan đến hắn . Và tự do là một qui trình xảy ra bên trong mối quan hệ với hắn. Thế rồi tất cả mọi thứ con thấy khuấy tung bên trong sẽ bắt đầu chuyển biến ra ngoài. “Làm sao Chúa biết thật sự con có cảm giác thế nào?” Mack hỏi, nhìn ngược lại vào mắt Ngài. Cha không trả lời, chỉ nhìn xuống đôi bàn tay. Anh dõi mắt nhìn theo và lần đầu tiên Mack nhận ra vết sẹo trên cổ tay Ngài, giống như những vết sẹo anh đang giả định là Jesus cũng mang trên người. Ngài để cho anh âu yếm chạm vào mấy vết sẹo, dấu tích của một vết đâm sâu, và cuối cùng anh ngước lên nhìn Ngài. Nước mắt bắt đầu lăn trên gương mặt Ngài thành những con đường nhỏ trên lớp bột dính trên má Ngài. “Cũng đừng nghĩ những gì con trai ta lựa chọn thì chúng ta không phải trả giá đắt. Tình yêu luôn để lại một dấu ấn quan trọng,” Ngài nói giọng êm ái và dịu dàng. “Chúng ta đã ở bên nhau lúc ấy.” Mack ngạc nhiên. “Ở thập tự giá? Khoan đã, con nghĩ Ngài đã bỏ Chúa - ‘Chúa ơi, Chúa ơi, sao người lại bỏ rơi con?’” Đó là một đoạn Kinh thánh đã ám ảnh Mack trong nỗi đau lớn. “Con đã hiểu sai mầu nhiệm ở đó. Bất chấp, Người cảm thấy thế nào vào lúc ấy, ta không bao giờ bỏ Người.” “Sao Ngài lại có thể nói thế? Ngài đã bỏ mặc Chúa cũng hệt như Ngài đã bỏ mặc con!” “Mackenzie, ta chưa bao giờ bỏ Người, và ta chưa bao giờ bỏ con.” “Con không thấy có lý,” anh quật lại. “Ta biết không có lý, ít nhất cũng chưa. Con hãy xem lại điều này: Khi con chỉ thấy toàn nỗi đau, có lẽ con không còn thấy ta nữa phải không?” Khi Mack không đáp, Ngài quay lại tiếp tục nấu nướng để anh có chút không gian cần thiết. Ngài dường như nấu nhiều món một lúc, thêm thắt đủ thứ gia vị và nguyên liệu. Ngâm nga một giai điệu ngắn ám ảnh, Ngài hoàn tất chiếc bánh đang làm để cho vào lò nướng. “Đừng quên, câu chuyện không kết thúc khi con người ý thức bị ruồng bỏ. Người đã vượt qua để đến trọn vẹn trong vòng tay. Thật là một giây
phút thánh linh!” Mack dựa người vào quầy bếp trong tâm trạng bối rối. Cảm xúc và tư duy của anh đang rối tung. Một phần trong con người anh muốn tin vào mọi điều Cha đang nói. Thật là hay ho! Nhưng phần kia lại đang lớn tiếng phản đối: “Không thể nào có chuyện này được!” Cha với tay lấy chiếc đồng hồ bếp, vặn một vòng rồi đặt lên bàn trước mặt họ. “Ta không phải là nhân vật con nghĩ đâu, Mackenzie.” Giọng Ngài không giận dữ hay biện bạch. Mack nhìn Ngài, nhìn chiếc đồng hồ rồi thở dài: “Con cảm thấy hoàn toàn mất mát.” “Vậy thử xem ta có tìm ra con giữa cuộc hỗn độn này không.” Như thể được ra hiệu, một con chim giẻ cùi màu xanh đậu xuống bậu cửa sổ bếp rồi bắt đầu đi lui tới vênh váo. Cha thò tay vào trong một chiếc hộp trên quầy rồi lùa mở cửa sổ, xòe cho chú chim một nắm hạt mà ắt là Cha cất giữ để cho chúng ăn. Không chút ngần ngại, và với một chút dáng vẻ khiêm nhường và biết ơn, chú chim bước thẳng đến tay người để ăn. “Hãy xem người bạn nhỏ của chúng ta đây,” Ngài mở lời. “Hầu hết chim chóc đều được sinh ra để bay. Bị nhốt là một giới hạn trong khả năng bay của chúng, chứ không phải là ngược lại.” Người dừng lại để Mack suy ngẫm về câu nói. “Con, ngược lại, được tạo ra để thương yêu. Cho nên con sống như thể không được yêu là một sự giới hạn, chứ không phải ngược lại.” Mack gật đầu, không hoàn toàn đồng ý hẳn, mà để ra hiệu rằng anh hiểu và đang theo dõi thì đúng hơn. Chỉ đơn giản vậy thôi. “Sống mà không được yêu thì giống như cắt lìa đôi cánh của chim để truất khả năng bay của nó. Một điều ta không muốn đối với con.” Vấn đề là ở đó. Anh không cảm thấy được yêu thương gì lắm trong lúc này. “Mack, nỗi đau sẽ cắt lìa đôi cánh của chúng ta và khiến chúng ta không thể bay được.” Ngài chờ một khoảnh khắc để lời mình đọng lại. “Và mọi
chuyện đã không được giải quyết từ rất lâu, con hầu như đã quên mất mình được tạo ra ngày đầu để bay.” Mack im lặng. Lạ thay, sự im lặng không mấy khó chịu. Mack nhìn con chim nhỏ. Con chim nhìn lại Mack. Anh thắc mắc không biết con chim có cười được không. Ít nhất, con chim trông cũng chẳng khác gì với tâm trạng chính anh, về mặt đồng cảm. “Ta không giống con, Mack.” Đó không phải là lời kẻ cả; chỉ đơn thuần là một lời trần thuật thực tế. Nhưng đối với Mack, lời nói đó giống như một gáo nước lạnh. “Ta là Chúa. Ta là ta. Và khác với con, đôi cánh của ta không thể cắt lìa được.” “Vậy thì tuyệt vời với Ngài, nhưng rồi điều đó sẽ đưa con đến đâu?” Mack thốt ra, âm sắc nghe cáu kỉnh hơn mức độ mà anh tưởng. Cha bắt đầu vuốt ve con chim nhỏ, nâng nó lên sát mặt rồi nói: “Ngay tâm điểm tình yêu thương của ta!” khi Ngài và con chim nhỏ kề mũi và mỏ. “Con đang nghĩ chắc con chim đó hiểu điều đó rõ hơn con,” Mack không nghĩ được gì hay hơn để nói. “Ta biết, con yêu dấu. Đó là lý do chúng ta đang ở đây. Con nghĩ tại sao ta nói ‘Ta không giống con?’” “Thật sự con không biết. Thì Ngài là Chúa còn con thì không.” Anh không giấu được vẻ mỉa mai trong giọng nói, nhưng Ngài hoàn toàn không màng. “Đúng, nhưng không hẳn. Ít nhất không phải theo cách con đang nghĩ. Mackenzie, ta là một Đấng mà một số người nói ‘rất thánh, và trọn vẹn khác với con.’ Vấn đề là nhiều người muốn nhận thức ta là ai theo cách hay ho nhất đối với họ, đẩy khái niệm lên đến những cấp độ tột bực, bao hàm mọi điều tinh túy nhất mà họ cảm nhận được, mà thường chẳng là bao, rồi họ gọi đó là Chúa. Và mặc dù điều đó dường như là một nỗ lực đáng quý, sự thật là nó khác xa với sự thật ta là ai. Ta không phải là phiên bản hay ho nhất của con mà con có thể nghĩ ra. Ta hơn thế nhiều, vượt trên và vượt ngoài mọi điều con có thể hỏi đến hay nghĩ ra.” ẳ
“Con xin lỗi, nhưng những lời đó chỉ là ngôn từ đối với con. Chẳng mấy ý nghĩa.” Mack nhún vai. “Cho dù con không thể hiểu được ta, con biết gì không? Ta vẫn muốn được biết đến.” “Ngài đang nói đến Jesus phải không? Đây có phải là câu chuyện tacùng-nhau-tìm-hiểu-Ba-Ngôi không?” Ngài cười. “Đại loại vậy, nhưng đây không phải là lớp giáo lý ngày chủ nhật. Đây là một bài tập bay. Mackenzie, như con cũng tưởng tượng được, làm Chúa trời có một số ưu thế. Về bản chất, ta hoàn toàn không bị giới hạn, không bị trói buộc. Ta luôn biết đến sự trọn vẹn. Ta tồn tại trong một trạng thái toại mãn vĩnh hằng,” Ngài nói, hoàn toàn hài lòng. “Chỉ có ta là chính ta.” Điều đó làm Mack mỉm cười. Con người này hoàn toàn vui hưởng, một mình, và không có chút ngạo mạn nào trong đó. “Thiên Chúa đã tạo ra con để chia sẻ điều đó. Nhưng rồi Adam đã chọn con đường riêng cho mình, như chúng ta đã biết, rồi mọi chuyện rối lên. Nhưng thay vì loại bỏ Sáng thế, Thiên Chúa đã xắn tay áo để lao vào mớ hỗn độn ấy - đó là điều Thiên Chúa đã làm với Jesus.” Mack đứng đó, anh cố hết sức để theo kịp luồng tư duy của Ngài. “Khi ba chúng ta hiện diện trong thế giới loài người trong vai Con của Thiên Chúa, chúng ta đã trở nên con người hoàn toàn. Chúng ta cũng đã chọn lựa gánh chịu tất cả những hạn hẹp của kiếp người. Cho dù chúng ta vẫn hằng hữu trong sáng thế này, giờ đây chúng ta đã trở nên xác phàm. Cũng như con chim này, vốn sinh ra để bay lượn, lại chọn lựa chỉ đi lại và ở dưới đất. Thiên Chúa không ngăn nó làm kiếp chim, nhưng hoàn cảnh đã làm thay đổi cảm nghiệm sống của nó một cách hệ trọng.” Ngài dừng lại để Mack theo kịp. Mặc dù cảm nhận được một sự căng thẳng đang hình thành trong trí não, anh thốt lên, “Vâng...?” để mời Ngài nói tiếp. “Mặc dù về bản chất Ngài hoàn toàn là Chúa, Jesus là một con người trọn vẹn và đã sống như thế. Mặc dù chưa bao giờ mất đi khả năng bay, Ngài đã chọn lựa suốt từng khoảnh khắc để sống dưới đất. Đó là lý do tên
Ngài là Immanuel, Thiên Chúa ở cùng chúng ta, hay Thiên Chúa ở cùng anh em, nói chính xác hơn.” “Nhưng còn bao nhiêu phép màu thì sao? Phép chữa lành? Làm người chết sống lại? Điều đó không chứng minh Jesus là Chúa sao - hơn người phàm rồi?” “Không, điều đó mới chứng minh rằng Jesus thật sự là con người.” “Sao ạ?” “Mackenzie, ta có thể bay, nhưng con người không thể. Jesus hoàn toàn là con người. Mặc dù hoàn toàn là Thiên Chúa, Ngài chưa bao giờ viện đến bản thể Thiên Chúa để làm một điều gì. Ngài chỉ sống bằng quan hệ với ta, sống theo đúng cách ta muốn sống với từng con người. Ngài chỉ là người đầu tiên sống đến cực điểm - người đầu tiên tuyệt đối tin tưởng vào đời sống của ta trong Ngài, người đầu tiên tin tưởng ở tình yêu và sự ân cần của ta mà không quan tâm đến hình thức và kết quả.” “Vậy, khi Ngài chữa người mù thì sao?” “Ngài đã làm thế như một con người bị lệ thuộc, bị giới hạn nhưng tin cậy vào đời sống của ta và sức mạnh của ta đến với Ngài và thông qua Ngài. Jesus, như một con người, chẳng có quyền năng gì trong chính mình để chữa lành cho ai.” Đó là một cú sốc đối với hệ thống tín ngưỡng của Mack. “Chỉ khi Ngài an nghỉ trong quan hệ với ta, và trong mối đồng cảm với ta - sự đồng hợp nhất của chúng ta - Ngài có thể bộc lộ tâm tư và ý chí trong mọi hoàn cảnh. Cho nên, khi con nhìn Jesus và thấy hình như Ngài đang bay, đúng là Ngài đang... bay đấy. Nhưng cái mà con thật sự nhìn thấy là ta; cuộc sống của ta trong Ngài. Đó là lối sống và hành động của Ngài như một con người thực thụ, cách mỗi con người được định đoạt để sống - từ đời sống của ta. “Một con chim không được vạch định để ở dưới đất mà bởi khả năng bay của nó. Hãy nhớ điều này, con người không được vạch định bởi các giới hạn của mình, mà bởi những ý nguyện ta dành cho họ; không phải bởi những gì bản thể họ dường như đang hiện diện, mà bởi mọi điều có thể tạo dựng trong hình tượng của ta.”
Mack cảm thấy lượng thông tin ập đến quá tải. Anh bèn kéo ghế và ngồi xuống. Điều này phải mất chút thời gian để hiểu. “Vậy điều này có nghĩa là Ngài bị giới hạn khi Jesus hiện diện trên trái đất? Tức là, Ngài đã giới hạn mình vào chỉ Jesus?” “Không đâu! Mặc dù ta chỉ bị giới hạn vào Jesus, ta không hề bị giới hạn nào trong chính ta.” “Toàn bộ vấn đề Thiên Chúa Ba ngôi là điều mà con hình như không hiểu.” Cha cười phá một tràng dài làm Mack cũng muốn cười theo. Ngài đặt con chim nhỏ xuống bàn cạnh Mack, xoay sang mở lò nướng để liếc nhìn ổ bánh đang nướng. Hài lòng với mọi chuyện, Cha kéo ghế ngồi cạnh. Mack nhìn con chim nhỏ đang vui vẻ ngồi đó với họ một cách lạ thường. Sự vô lý ấy làm Mack bật cười. “Trước tiên, việc con không thấu hiểu được huyền nhiệm từ bản chất của ta là một điều tốt thôi. Ai muốn thờ phụng một Thiên Chúa mà mình hoàn toàn thấu hiểu? Chẳng còn mấy bí ẩn nữa.” “Nhưng có khác gì khi Thiên Chúa có ba ngôi, và tất cả đều là một Thiên Chúa. Con nói thế đúng không?” “Đúng đấy.” Ngài mỉm cười. “Mackenzie, đó là toàn bộ sự khác biệt!” Có vẻ Ngài thích thú điều này. “Chúng ta không phải là ba Chúa, và ta cũng không nói là một Chúa với ba thánh trạng, như một người đàn ông vừa là chồng, là cha và là thợ. Ta là một Thiên Chúa và ta là ba người, và mỗi một trong ba người đều là trọn vẹn và toàn thể của nhất thể.” Tiếng “Hả?” mà Mack vẫn kìm nén cuối cùng bật tung ra. “Đừng quan tâm điều đó,” Ngài tiếp. “Điều quan trọng là đây: Nếu ta đơn thuần là Một Chúa và chỉ là Một Người, thì các con sẽ thấy mình ở trong Sáng thế này không có gì lý thú, thậm chí không có gì thiết yếu nữa. Và ta dứt khoát sẽ khác đi.” “Và chúng con sẽ không có...?” Mack không biết làm sao để kết câu hỏi. “Tình yêu và mối liên hệ. Tất cả tình yêu và những mối liên hệ đến được với con chỉ vì nó đã tồn tại sẵn trong Ta, trong chính ta là Thiên
Chúa. Tình yêu không phải là giới hạn; tình yêu là sự tung cánh. Ta là tình yêu.” Như thể đáp lại lời tuyên xưng ấy, chiếc đồng hồ rung chuông và con chim nhỏ vỗ cánh bay ra ngoài khung cửa. Ngắm nhìn chim bay trong niềm hân hoan khó tả, anh xoay sang Cha, và nhìn chằm chằm đầy kinh ngạc. Một vẻ rạng rỡ lạ lùng bừng lên trên gương mặt Ngài, và cho dù vẫn đang cảm thấy một chút mất mát và cho dù nỗi đau lớn vẫn còn đeo đẳng mình, anh cảm thấy mình đã có phần an vị trong bình an của sự kề cận bên Ngài. “Con hãy hiểu,” Ngài tiếp, “rằng trừ phi ta có một đối thể để thương yêu - hay, nói chính xác hơn, một ai đó để thương yêu - nếu ta không có một quan hệ như thế trong bản thân ta, thì ta sẽ có thể yêu thương được không? Con sẽ có một đức Chúa không thể thương yêu. Hay là tệ hơn nữa, con sẽ có một đức Chúa mà, khi lựa chọn, chỉ có thể yêu được như một sự giới hạn của bản chất. Chúa như thế có thể hành động không vì tình yêu, và đó sẽ là một tai họa. Và đó chắc chắn không phải là ta.” Nói đoạn, Cha đứng dậy đến bên lò nước, kéo chiếc bánh mới nướng ra, đặt lên quầy và xoay người như đang trình diễn, nói tiếp: “Thiên Chúa bản thể - như chính ta là ta - không thể hành động tách rời tình yêu!” Mack biết rằng những gì anh đang nghe, dù thật khó hiểu, là đầy kinh ngạc và không thể tin được. Cứ như những lời Ngài nói đang cuốn quanh anh, quyện lấy anh và nói với anh bằng những phương cách ngoài những gì anh có thể nghe. Nhưng thông phải anh thật lòng tin vào bất cứ điều gì. Giá mà được như vậy. Trải nghiệm cuộc đời đang nói với anh khác. “Kỳ cuối tuần này dành cho tình yêu và những mối liên hệ. Giờ đây, ta biết con có nhiều điều muốn nói với ta, nhưng bây giờ con đi tắm gội thì hơn. Hai người kia đang vào để ăn tối.” Ngài bắt đầu bước đi, nhưng dừng bước và quay lại. “Mackenzie, ta biết lòng con tràn ngập đớn đau và thịnh nộ cũng như hoang mang. Cùng nhau, con và ta, chúng ta sẽ đi vào vấn đề đó trong khi con ở đây. Nhưng ta cũng muốn con biết rằng có nhiều điều đang diễn ra hơn con có thể hình dung hay thấu hiểu, cho dù ta có nói với con. Con hãy cố hết mức để an nhiên trong niềm tin con có nơi ta, cho dù nhỏ nhoi, có được không?”
Mack vẫn cúi đầu nhìn xuống sàn. “Ngài biết,” anh nghĩ bụng. Niềm tin nhỏ nhoi của anh chắc gần như chẳng còn gì. Gật đầu ưng thuận, anh ngước lên và chú ý lần nữa đến vết sẹo trên cổ tay Ngài. “Papa?” Rốt cục Mack thốt lên một cách khá vụng về theo cảm nhận của anh, nhưng anh đang cố gắng. “Gì, con?” Mack đánh vật để tìm từ nói diễn đạt với Ngài những gì trong tim mình. “Con rất tiếc rằng Ngài, rằng Jesus, phải chết.” Ngài bước vòng qua bàn và ôm choàng lấy Mack. “Ta biết con, cám ơn con. Nhưng con cần biết rằng chúng ta không hối tiếc gì cả. Điều đó xứng đáng. Có đúng không con trai?” Ngài xoay người khi hỏi về Jesus, người vừa bước vào nhà. “Đúng vậy!” Người đàn ông dừng lại rồi nhìn Mack. “Ta có thể làm như thế cho dù chỉ vì mỗi mình con, nhưng chuyện đã không phải như thế!” người nói với một nụ cười mời gọi. Mack xin phép đi ra nhà tắm, rửa tay và rửa mặt rồi cố định thần.
• 7 • CHÚA TRÊN BẾN NƯỚC Chúng ta hãy cầu cho nhân loại không bao giờ thoát ra khỏi địa cầu để lan truyền tội lỗi của mình đến nơi khác. — C. S. LEWIS Mack đứng trong buồng tắm, vừa nhìn vào gương vừa lau khô mặt bằng một chiếc khăn lông. Anh đang tìm kiếm dấu hiệu nào đó của sự điên rồ trong đôi mắt đang nhìn ngược lại mình. Chuyện này có thật không? Dĩ nhiên là không, không thể. Nhưng rồi... anh đưa tay ra chầm chậm sờ lên kính. Có lẽ đây là một ảo giác xảy đến bởi bao phiền muộn và tuyệt vọng. Có lẽ đây là một giấc mơ, và anh đang ngủ thiếp đâu đó, có lẽ trong căn chòi băng giá đến chết cóng? Có lẽ... Đột nhiên, một tiếng loảng xoảng chát chúa làm anh choàng tỉnh. Âm thanh phát ra từ phía nhà bếp, và Mack bất động. Trong khoảnh khắc là một sự im lặng chết chóc, rồi bất ngờ anh nghe tiếng cười phá lên. Tò mò, anh ra khỏi buồng tắm và thò đầu vào cửa bếp. Mack kinh ngạc trước cảnh tượng trước mắt. Hình như Jesus đã làm rơi một thố bột hay nước sốt gì đó trên sàn, làm tung tóe khắp nơi. Chắc là nó rơi gần Papa vì