Người Ru Ngủ

phần còn lại của thành phố. Các ngôi nhà là những vũ trụ

phần còn lại của thành phố. Các ngôi nhà là những vũ trụ

phần còn lại của thành phố. Các ngôi nhà là những vũ trụ riêng biệt. Mila đã lớn lên ở đây cùng với bố và mẹ, chỉ ba người với nhau. Ba tinh cầu với quỹ đạo khác xa, và chỉ thỉnh thoảng, thậm chí là hiếm hoi, chúng mới giao nhau trên đường di chuyển. Chiếc xe hơi nhún nhảy liên tục trên các gờ giảm tốc tạo ra những âm thanh kim loại trầm đục. Mila chạy xe trên đại lộ bao quanh những khu vườn yên tĩnh rồi phanh gấp để dừng chiếc Hyundai sau khi nó đã leo qua vỉa hè và chồm bánh lên thảm cỏ trước nhà. Mila bỏ lại chiếc điện thoại trên ghế hành khách, vớ lấy khẩu súng rồi vội vã xuống xe, gần như không kịp thở. Các cửa sổ của ngôi nhà nhỏ hai tầng đều tối om. Bên cánh cửa ra vào màu xanh có một ngọn đèn trắng canh gác. Ngoài ra chỉ có lũ dế đang kêu. Mila ấn chuông, rồi dùng lòng bàn tay đập lên cánh cửa gỗ. Thậm chí cô còn không có chìa khoá của ngôi nhà mà mình từng sống. Chỉ có mấy con chó nhà hàng xóm đáp lại cô. Trong một thoáng, Mila đã quên sạch mọi quy tắc được dạy ở trường cảnh sát. Cô đã không tìm kiếm các dấu hiệu cho thấy ngôi nhà bị đột nhập. Cô cũng không tự đảm bảo an toàn cho mình trước những đòn tấn công nếu có của đối phương. Cuối cùng, cô đã phá vỡ

quy tắc quan trọng nhất, theo đó dù có chuyện gì xảy ra cũng phải tự kiểm soát mình. Gọi cửa mãi không được, Mila đã định bắn vào ổ khoá thì chợt nhớ ra mẹ cô có giấu một chiếc chìa khoá dự phòng dưới một chậu hoa trong vườn. Thử đến lần thứ ba thì cô tìm được nó dưới một cây thu hải đường. Khi cuối cùng cũng vào được bên trong nhà, Mila nhận thấy mọi thứ hoàn toàn yên ắng. - Mẹ ơi! Mẹ đâu rồi? - Cô gào toáng lên. - Mẹ trả lời con đi! Trông thấy một bóng đèn bật sáng trên đầu cầu thang, Mila lao lên bốn bậc một. Mẹ cô đang tựa vào lan can, tay thắt lại dây lưng chiếc áo choàng ngủ. - Có chuyện gì vậy? Mila, con đó à? - Bà hỏi với giọng ngái ngủ. Nhưng Mila gạt mẹ mình ra để lao đến phòng Alice. - Cái qu… - Bà Inès lắp bắp, suýt nữa thì mất thăng bằng. Tim Mila đập thình thịch, tựa như một sinh vật to lớn đang lồng lộn trong cô - một con quái vật trong truyền thuyết. Khi chạy đến cuối hành lang, Mila vươn tay mò trong bóng tối tìm công tắc đèn phòng Alice. Một bóng đèn trần hình con ong bật lên. Thấy con gái đang nằm ngủ, Mila dùng một tay tóm lấy như thể giật nó ra khỏi chiếc giường giờ đã trở thành một con ngoáo ộp hung ác, tay kia chĩa súng. Alice ré lên sợ hãi. Không nhận ra điều đó, Mila dùng chân hất tung tấm nệm để xem có gì bên dưới. Hai lá phổi bơm không khí trở vào lồng ngực Mila. Trong một vài giây, đó là âm thanh duy nhất mà cô nghe thấy. Hai tai cô đột nhiên ù đặc như thể vừa bị hạ độ cao đột ngột. Cô thở một cái, rồi hai cái. Thế rồi những âm thanh khác quay trở lại. Đầu tiên là tiếng khóc của Alice đang giãy giụa trong tay cô. Dưới sàn chỉ có chăn gối và thú nhồi bông nằm ngổn ngang.

43 Bà Inés đi pha một bình trà thảo mộc trong bếp. Nhìn mẹ lúi húi với cái ấm, Mila như được sống lại một cảnh của thời thơ ấu khi vào ban đêm, mẹ - cũng những cuộn lô trên tóc, cũng áo choàng ngủ màu hồng - đi đun nước, điểm khởi đầu cho nghi thức an ủi thường thấy sau khi cô gặp ác mộng. - Con không biết mình bị cái gì nữa. - Cô lí nhí. - Con xin lỗi. Mila không muốn nhắc đến chiếc camera giấu trong phòng ngủ của Alice - không ai biết điều đó. Cô không muốn bị mẹ nghĩ là mình không tin tưởng bà, vậy nên cô nói dối. - Đúng là con chưa bao giờ gọi điện vào ban đêm, nhưng tự dưng con muốn hỏi thăm tình hình Alice, và vì mẹ không nhấc điện thoại nên con hoảng lên. - Con đã giải thích rồi mà. - Bà Inès mỉm cười đáp. - Đừng nhắc lại nữa. Lỗi tại mẹ. Mẹ ngủ mê mệt nên không nghe thấy chuông điện thoại. Bà đã phải dỗ Alice ngủ lại và kiên nhẫn chờ cho con bé ngủ say trong khi Mila đã đứng ngoài hành lang, lưng tựa vào tường, đầu cúi gằm, lắng nghe mẹ một lần nữa thay vào vị trí của mình. Cô những muốn nói với con gái rằng mọi thứ đều ổn, chẳng có nguy hiểm gì, rằng cô đã nhầm lẫn và không có ai nấp dưới giường con bé cả. Ngôi nhà khá an toàn. Mình đã không ngủ suốt bốn mươi tám giờ qua, Mila tự bào chữa thầm trong đầu. Tình trạng thiếu ngủ đã ảnh hưởng đến sự nhìn nhận thực tế của cô, chưa nói tới việc giờ đây cô phải đương đầu với một kẻ điều khiển nhận thức đang tự do hành động. Tất cả chuyện này gợi lại trong cô sự sợ hãi như hồi điều tra vụ “Kẻ nhắc tuồng”. Bà Inès đổ nước sôi vào hai cái tách, bưng ra bàn, rồi ngồi đối diện với con gái. Ánh sáng ấm áp từ ngọn đèn tạo ra một thứ giống như quả cầu bảo vệ quanh hai mẹ con.

- Thế nào, con ổn chưa? - Mẹ Mila hỏi. - Con ổn ạ. Cô biết mẹ sẽ hài lòng với câu trả lời của mình, bà sẽ không hỏi han gì thêm. Mẹ không thích quyết định vào ngành cảnh sát của Mila. Bà thích cô làm công việc khác. Trở thành bác sĩ, kiến trúc sư chẳng hạn. Rồi lấy chồng, đương nhiên rồi. - Mẹ muốn nói chuyện với con từ lâu rồi, Mila à. - Bà Inès nói với giọng lo lắng. - Về chuyện của Alice. Hôm nọ ở trường, con bé đã trèo lên bậu cửa sổ ở tầng hai. Người ta đã phải mất một lúc mới thuyết phục được nó leo xuống. Con bé bảo chuyện đó không nguy hiểm gì mà lại vui nữa mới chết. - Lại nữa sao? - Mila phản đối. Đây không phải là lần đầu hai người tranh cãi về chuyện này. - Alice không có khái niệm nguy hiểm. Con còn nhớ chuyện ở ngoài biển không? Con bé cứ thế bơi ra xa bờ, tí nữa thì chết đuối. Cả cái lần mẹ chỉ nhãng ra một chút là đã thấy nó đi bộ giữa đường trong khi xung quanh xe cộ bấm còi inh ỏi. - Alice là một đứa bé hoàn toàn bình thường, các bác sĩ đã nói như thế rồi mà. - Mẹ muốn tham khảo thêm một ý kiến khác. Làm thế nào một tay bác sĩ tâm lý trẻ em có thể đánh giá được vấn đề kia chứ? Anh ta có ngồi hàng giờ với con bé mỗi ngày đâu? Mila cụp mắt nhìn xuống tách trà. - Cả con cũng vậy. Ý mẹ là thế chứ gì? Bà Inès thở dài. - Không phải mẹ có ý gì… Chỉ làm mẹ đã học được cách hiểu Alice hơn bất cứ ai, từ khi con bé sống với mẹ. Mẹ không nói là con bé có gì đó không bình thường, mẹ chỉ thấy lo vì không thể giám sát nó mọi lúc được. - Bà nắm lấy tay Mila. - Mẹ biết con yêu quý Alice, và việc ở xa con bé khó khăn đến thế nào với con. Mila cảm thấy sức nặng không thể chịu nổi của cánh tay mẹ đè trên tay mình. Cô muốn rụt tay lại, cô không thích sự đụng chạm. Nhưng cô cố chịu, mặc kệ làn da ngứa ngáy và cảm giác ghê tởm như thể bị một loài bò sát quấn lấy các ngón tay mình. - Mẹ định thế nào? Bà Inès rút tay lại và nhìn con gái đầy thông cảm.

y ạg yg - Alice hỏi mẹ rất nhiều về bố nó. Hay là cho con bé đi gặp… - Mẹ đừng nhắc đến tên ông ấy. Con không còn gọi ông ấy như vậy nữa. Đúng hơn là con không hề nhắc đến ông ấy nữa. - Được rồi, nhưng mẹ nghĩ Alice ít ra cũng phải biết mặt bố mình. Mila suy nghĩ một chút. - Được rồi. Ngày mai con sẽ đưa nó đi gặp ông ta. - Con làm thế là phải. Bây giờ con bé cũng đủ lớn rồi. - Chiều mai con sẽ ghé qua. - Mila nói, rồi đứng lên khỏi ghế. - Sao con không ở lại đây tối nay luôn? - Con không thể. Sáng mai con phải dậy sớm đi làm. Bà Inès không nằn nì, bà biết có làm thế cũng chẳng được gì. - Con để ý đến mình một chút. Bà có vẻ lo lắng cho Mila. Cùng với câu nói đơn giản mà chỉ các bà mẹ biết mang rất nhiều hàm ý ấy, bà muốn Mila hiểu cô cần phải thay đổi vì chính sự an nguy của mình. Mila muốn đáp lại là mọi thứ đều ổn, nhưng nói thế thì không thành thật. Cô chỉ cầm lấy khẩu súng trên bàn và đi ra cửa bếp. Nhưng khi ra đến nơi, cô quay lại nhìn mẹ, cảm thấy lúng túng vì điều mình sắp hỏi. - Con búp bê ưa thích nhất của Alice là con có màu tóc hung, phải không mẹ? - Mẹ đã mua nó cho con bé hồi Giáng sinh. - Bà Inès xác nhận. - Mẹ này, mẹ có biết con bé đặt tên nó là gì không? - Mẹ nghĩ con bé gọi nó là Miss. - Miss. - Mila nhắc lại, nhấn nhá cái tên như thể nó là một thành quả đạt được. - Thôi, con đi đây. Cám ơn mẹ.

44 Cô đã hi vọng tìm thấy anh tại tiệm ăn Tàu. Trong gian phòng đông nghẹt, chiếc bàn của Berish không có ai ngồi. Nhưng cô nhận thấy trên bàn có một phần ăn sáng chưa được dùng hết. Mila đang định hỏi người phục vụ xem Berish đã đi được bao lâu thì thấy Hitch dưới ghế. Ngay sau đó, chủ của nó bước ra từ hướng nhà vệ sinh, vừa đi vừa dùng một chiếc khăn giấy để lau vệt cà phê trên áo. Không khó để hình dung chuyện đã xảy ra. Phía cuối phòng, một nhóm cảnh sát đang cười rinh rích. Kẻ đã hất món trứng vào Berish hôm trước cũng ở trong nhóm đó. Tay đặc vụ ngồi vào bàn trở lại và tiếp tục ăn trong lặng lẽ. Mila đến bên cạnh anh. - Lần này để tôi mời. Berish ngỡ ngàng nhìn cô. - Cũng đã khá lâu tôi không giao du gì với những người khác, nên tôi hơi lụt nghề trong việc giải mã ý nghĩa các cử chỉ và ngôn từ. Tôi không hiểu những câu nói hai nghĩa, không nắm bắt được các lối nói giảm nói tránh, ngay đến phép ẩn dụ cũng gây khó khăn cho tôi… Đề nghị của cô đồng nghĩa với việc cô muốn chúng ta hợp tác, có phải không nhỉ? Lời châm chọc của Berish suýt làm Mila bật cười, nhưng cô nén lại. Làm thế nào người đàn ông này có thể tỏ ra thân thiện đến thế sau khi vừa bị đồng nghiệp sỉ nhục? - Thôi được rồi, tôi không nói nữa. - Anh vừa nói vừa giơ tay lên đầu hàng. - Tốt, như vậy là chúng ta hiểu nhau rồi đấy. Mila ngồi xuống, gọi thức ăn cho mình và một bữa trưa để mang đi. Berish tự hỏi chỗ thức ăn mang đi là để dành cho ai, nhưng anh

không nói gì. Khi cô phục vụ đã đi khuất, anh hỏi Mila một câu mà anh muốn hỏi từ lâu lắm rồi. - Tại sao một cảnh sát giỏi như cô, người đã từng làm sáng tỏ vụ án “Kẻ nhắc tuồng”, lại quyết định vào làm trong Minh Phủ? Mila tỏ ra cân nhắc, mặc dù cô đã biết câu trả lời. - Để không phải đi săn lùng những kẻ phạm tội. Thay vào đó, tôi đi tìm các nạn nhân. - Nghe rất ngụy biện, nhưng chấp nhận được. Thế cô có thể giải thích cho tôi tại sao người ta lại dùng cái tên Minh Phủ được không? Tôi luôn thắc mắc không hiểu nó từ đâu ra. - Có lẽ là do các tấm ảnh gắn trên tường trong Sảnh Đợi. Những người đó ở trong tình trạng u minh vô định… Những người sống không biết họ còn sống. Và người đã chết không thể chết đi. Lời giải thích nghe có vẻ hợp lý đối với Berish. Loại người đầu tiên lang thang trên trái đất như những bóng ma, không ai biết, và cũng không biết ai, trong khi chờ đợi một người nào đó khẳng định với họ là họ vẫn còn sống. Loại thứ hai thì vẫn được tính là còn sống chỉ vì những người thân đang chờ đợi họ chưa chấp nhận suy nghĩ là họ có thể đã chết. Từ khóa ở đây là “vẫn” - một sự kéo dài vô hạn định của thời gian với kết thúc duy nhất là sự thật, hoặc sự quên lãng. - Anh vẫn tin rằng tôi không cần phải báo cáo với Thẩm phán, Gurevich và Boris là anh có tham gia điều tra à? - Mila hỏi, đưa Berish quay lại thực tại. - Cứ để họ bận bịu với bọn khủng bố trong khi chúng ta lo cái giáo phái này. - Bước tiếp theo là gì? Berish hạ thấp giọng, chồm người tới trước. - Cô còn nhớ đoạn nhạc chúng ta đã nghe ở khách sạn Ambrus chứ? - Còn. Tại sao? Berish tỏ ra rất hài lòng với bản thân. - Tôi đã phát hiện ra nó là gì. - Bằng cách nào vậy? - Thú thật, tôi không phải chuyên gia về nhạc cổ điển… Nhưng sáng nay tôi đã đến nhạc viện và xin gặp một ông thầy. Tôi đã ngâm

g y ạ ệ gặp ộg yg nga đoạn nhạc đó và ông ta đã nhận ra ngay. - Berish kể lại với vẻ hơi ngượng ngịu. - Anh đã hát á? - Mila không giấu nổi sự thích thú. - Tôi không có cách nào khác. Đổi lại, ông ấy đã tặng tôi cái này… - Berish lôi từ trong túi ra một chiếc CD. Con chim lửa, của Stravinsky. - Đây là một vở ba lê được soạn vào năm 1910… Lần theo manh mối này, chúng ta sẽ khám phá ra án mạng kế tiếp. - Thật tình mà nói, tôi không hiểu phải sử dụng thông tin này như thế nào. - Trong vở ba lê này, đoạn nhạc mà chúng ta đã nghe tương ứng với cảnh hoàng tử Ivan bắt con chim lửa. - Vậy là có ba thứ. - Mila suy đoán. - Sự bắt giữ, con chim lửa và cái tên Ivan. Cái đầu tiên có thể là một kiểu thách thức. - Không hoàn toàn như thế. Kairus không phải đang tranh đua với chúng ta. Kẻ thuyết giáo đó đang muốn khai sáng cho chúng ta. Như vậy đây không hẳn là thách thức, mà là phép thử hắn muốn đưa ra. Khi hắn đặt chúng ta vào một bài kiểm tra, hắn muốn chúng ta thành công. Cú điện thoại trong phòng 317 là một phép thử của hắn. Hắn muốn chúng ta cảm thấy bị hạ thấp, nhưng xét cho cùng thì hắn ở về phía chúng ta. Chính vì vậy, các mật mã của hắn tuy phức tạp nhưng câu trả lời luôn đơn giản. - Có gì đơn giản trong hình ảnh một con chim lửa kia chứ? - Tôi không biết, nhưng chúng tôi sẽ khám phá ra nó. Còn lúc này, tôi tập trung chủ yếu vào cái tên Ivan. - Anh nghĩ hắn đã tiết lộ cho chúng ta danh tính của nạn nhân kế tiếp à? - Hoặc là sát thủ kế tiếp… Hãy nghĩ đi, việc gì phải đưa cho chúng ta một cái tên nếu như ta không có cách nào xác định cái tên đó thuộc về ai? - Nhưng làm cách nào đây? Berish đấm tay xuống bàn. - Chúng ta sẽ sàng lọc hồ sơ lưu trữ về các vụ mất tích để tìm một sự liên hệ với cái tên Ivan. - Căn cứ trên quãng thời gian ta quan tâm trải dài những hai mươi năm, anh có biết số cá nhân cần sàng lọc là bao nhiêu không?

g ọg - Không, cô mới là chuyên gia trong lĩnh vực này. - Không kịp đâu. Đã trôi qua kha khá thời gian kể từ vụ án mạng cuối cùng, và một môn đồ mới của kẻ truyền giáo chắc chắn đã sẵn sàng ra tay. Berish tỏ ra thất vọng. - Cần phải tìm một ý tưởng khác. - Mila nói thêm để an ủi tay đặc vụ. - Có lẽ chúng ta phải tự hỏi mình xem thực sự Người ru ngủ chờ đợi gì ở chúng ta. - Ở cuối con đường nhập đạo, có lẽ một khải huyền đang chờ chúng ta. - Tôi không biết liệu mình có thể đi đến cùng hay không. - Vẫn là vì con gái cô, tôi đoán vậy. Mila cảm thấy mình đã nói quá nhiều về chuyện này, nên cô để cho Berish tin rằng sự lo sợ của cô chỉ liên quan đến Alice. Nếu có điều gì đó trong bóng tối thì tôi luôn muốn xem thử. Đáng ra cô phải thú thật điều này với Berish. Nhưng cô quyết định cứ để mặc anh với giả thuyết của mình và hỏi: - Anh có gia đình chứ, Berish? - Tôi chưa bao giờ kết hôn, tôi cũng không có con cái. Anh nghĩ đến Sylvia và chuyện đáng lẽ đã xảy ra nếu họ vẫn còn ở với nhau, nhưng anh ngăn không để hồi ức đau buồn đó làm vẩn đục hiện tại. - Tôi không đặt bản thân vào nguy hiểm nhiều như cô, tôi biết điều đó. Nhưng tôi cũng biết đây là một trò rủi ro tính toán được. - Ý anh là sao? - Họ là con người. - Anh đang nói tới những đối thủ của chúng ta à? - Họ là những sinh vật dễ bị tổn thương, giống như tất cả chúng ta. Chỉ có điều chúng ta không thể thấy họ. Nhưng có một sự giải thích cho điều họ đang làm, và nó dựa trên logic. Có thể nó tỏ ra phi lý đối với chúng ta, nhưng như những gì môn nhân học đã dạy tôi, chắc chắn có một yếu tố con người ở đây. Hai người nghiền ngẫm nhận định đó trong im lặng. Mặc cho đám đông ồn ào xung quanh, họ bỗng cảm thấy cái lạnh của sự cô độc. Mila yêu cầu tính tiền, nữ nhân viên phục vụ mang hóa đơn cho cô cùng phần thức ăn đem đi.

g p - Cô cũng nuôi chó à? - Berish nói để phá vỡ tảng băng, trái với quyết định không xen vào đời tư của cô trước đó. - Thật ra, nó là để cho một người vô gia cư sống dưới chân chung cư nhà tôi. - Ông ta là bạn của cô à? - Tôi thậm chí còn không biết ông ta tên gì. Mà này, nếu suy nghĩ kỹ, việc mang một cái tên thì có ý nghĩa gì kia chứ? Nó hoàn toàn thừa thãi đối với một kẻ đã quyết định để cho mình bị lãng quên, anh không thấy vậy sao? - Cô vừa cho tôi một ý. Tôi đã biết làm thế nào khai thác manh mối nằm trong bản nhạc của Stravinsky! - Berish reo lên. - Như thế nào? - Để tìm một cái tên, chúng ta cần một người chưa bao giờ có nó.

45 Hai người dừng xe ở một buồng điện thoại công cộng. Mila ngồi đợi Berish trong xe cùng với Hitch. Cô tự hỏi tại sao anh phải thận trọng như thế. Sau khi gác máy, tay đặc vụ vẫn đứng yên không nhúc nhích. Mila không hiểu gì cả. Sau đó Berish rời buồng điện thoại và đi tới đi lui trên vỉa hè, như thể chờ đợi ai đó. Hai mươi phút trôi qua. Đúng lúc Mila đã định rời khỏi chiếc Hyundai để đi tìm một lời giải thích thì Berish quay lại buồng điện thoại hình như vừa đổ chuông. Anh nói chuyện với một người bí ẩn nào đó, rồi quay ra xe. - Chúng ta phải ghé qua hai nơi. - Anh thông báo vỏn vẹn có thế. Mila khởi động xe mà không hỏi gì thêm. Đầu tiên họ tạt qua nhà Berish. Anh không mời cô lên căn hộ của mình, mà nhanh chóng đi vào rồi quay ra trong vài phút, không nói nửa lời. Mila để ý thấy anh nhét một chiếc phong bì ở túi trong của áo khoác. Berish chỉ đường cho cô lái xe tiếp, và nửa tiếng đồng hồ sau thì họ đến một khu công nghiệp ở phía tây thành phố, nơi có những dãy nhà kho giống nhau và nhiều xe tải chạy trên đường. Điểm đến của họ là một xí nghiệp chế biến thịt. Khi họ vào trong bãi đậu xe, Berish ra hiệu cho Mila dừng lại và tắt máy. Có một đoạn dốc để xếp dỡ hàng nằm bên cạnh những tòa nhà màu trắng không tên. Đó là nơi gia súc được đưa vào dây chuyền để giết mổ. Một ống khói phả ra những cụm khói xám có mùi chua tởm lợm. - Này, bạn anh là ai vậy? - Mila hỏi. Cô vừa tò mò vừa bực dọc vì Berish chẳng hé lộ điều gì. - Anh ta không thích bị đặt câu hỏi đâu. Mila chịu hết nổi. Cô hi vọng bức màn bí ẩn nực cười của Berish nhanh chóng được gỡ bỏ. Họ ngồi đó trong im lặng. Rồi một người đàn ông bước ra từ cửa

sau của xí nghiệp. Ông ta mập lùn, trạc năm mươi tuổi, trên người khoác áo blu trắng và đội mũ bảo hiểm. Tay đút túi, ông ta sải những bước dài đến bên chiếc Hyundai. Berish để ông ta lên xe. - Chào đặc vụ. Lâu quá rồi nhỉ. Vẫn chú cún này à? - Người đàn ông lên tiếng đáp lại tiếng sủa của Hitch. Rõ ràng là con chó không coi ông ta là bạn. Người đàn ông nhìn sang Mila. - Còn cô này là ai? - Đặc vụ Vasquez. - Cô tự giới thiệu với giọng ngang tàng. - Anh là ai? Người đàn ông cố tình phớt lờ câu hỏi của Mila. - Anh chưa nói với cô ấy là tôi không thích bị đặt câu hỏi à? - Tôi nói rồi. - Berish đáp, đồng thời tặng cho Mila một cái nhìn quở trách. - Nhưng tôi chưa giải thích với cô ấy chúng ta làm gì ở đây, tôi muốn nhường vinh dự đó cho anh. Người đàn ông có vẻ khoái chí. Ông ta nói với Mila: - Tôi không có tên. Nghề nghiệp của tôi không tồn tại. Cô phải quên ngay những gì sắp được nghe. - Tôi còn chưa biết anh làm chuyện gì mà. - Mila đáp. Ông ta bật cười khe khẽ. - Tôi làm người ta biến mất. Trong mười lăm phút sau đó, Mila dần hiểu ra ý nghĩa câu nói của người đàn ông. - Giả sử cô là một doanh nhân giàu có, nhưng gặp một vài rắc rối với pháp luật. Tôi là người có thể giúp cô biến đi. - Thật à? - Mila ngạc nhiên hỏi lại. - Anh giúp những kẻ phạm pháp trốn tránh pháp luật sao? - Chỉ những người gặp rắc rối với thuế hoặc tài chính thôi. Tôi cũng có nguyên tắc của mình. Chứ cô tưởng thế nào? - Anh bạn của chúng ta, - Berish xen vào, - là một nghệ nhân thực sự về đào tẩu. Với một chiếc máy tính, anh ta có thể xóa sổ sự tồn tại của một người bằng cách đột nhập vào những nơi mà cảnh sát chỉ

được tiếp cận khi có lệnh: kho lưu trữ quốc gia, hệ thống dữ liệu của các ngân hàng và công ty bảo hiểm… vân vân. - Tôi xóa dấu vết của cô, đồng thời tạo ra những dấu vết khác để lái các điều tra viên đi sai hướng. Tôi mua một vé máy bay đi Venezuela, sau đó thực hiện mua hàng bằng thẻ tín dụng của cô ở sân bay Hong Kong, và thuê một chiếc phi cơ riêng đến Antigua, mặc dù thời điểm hạ cánh trên máy bay chỉ có mỗi tay phi công… Mọi chuyện diễn ra như thế. Trong khi những kẻ truy lùng cô lạc lối trong mê hồn trận mà tôi đã vẽ ra, thì cô bình thản nằm phơi nắng trên một bãi tắm ở Belize. - Chuyện này có thể là thật à? - Mila hỏi Berish. Anh gật đầu. Cái gật đầu của anh hàm ý rằng những kẻ mất tích của Người ru ngủ cũng có thể đi theo con đường này. Ngay cả khi không có điều kiện tài chính như một ông trùm tài phiệt, tất cả những gì họ cần chỉ là sự giúp đỡ của một chuyên gia máy tính. Biết đâu Kairus có năng lực đó. - Luôn có một sự giải thích logic, cô còn nhớ không? Lần này, đến lượt Mila gật đầu. - Nhưng nghệ nhân đào tẩu của chúng ta cũng có thể làm điều ngược lại, tức là thâm nhập vào những kho dữ liệu khó tiếp cận nhất để truy lùng dấu vết của người mà chúng ta đang tìm. Ở Minh Phủ các cô không thể làm điều đó. Vài phút trao đổi là đủ để Mila hiểu những phương tiện cô hiện có trong công việc tìm người của mình là không đầy đủ. Kể từ nay, những gương mặt trong Sảnh Đợi sẽ đòi được đối xử tốt hơn. Berish quay sang phía người đàn ông không tên. - Vậy, anh giúp chúng tôi được không? Qua gương chiếu hậu, Mila thấy Berish tuồn vào túi người đàn ông chiếc phong bì anh đã lấy ở nhà mình. Họ để Hitch ở lại canh chừng chiếc xe và đi theo người đàn ông vào trong xưởng giết mổ. - Khi xong việc, anh có thể mang cho con cún một miếng steak ngon lành. - Ông ta nói với Berish.

- Làm thế nào anh lại làm việc ở đây? - Mila hỏi. - Tôi chưa hề nói là tôi làm việc ở đây. - Nghĩa là sao? - Tôi không có máy tính cá nhân hay máy tính xách ta, thẻ tín dụng cũng không nốt. Tôi không tồn tại, cô quên rồi à? Tất cả những thứ đó đều để lại dấu vết. Berish đã tiếp xúc với tôi bằng cách để lại một lời nhắn trong hộp thư thoại mà tôi nghe trung bình mỗi giờ một lần. Tôi gọi lại anh ta theo số điện thoại được cung cấp. - Thế chúng ta làm gì ở đây? - Mila thắc mắc. - Một nhân viên nghỉ ốm ngày hôm nay, máy tính của anh ta trống. Chúng ta sẽ dùng nó. Có hỏi vì sao ông ta biết chuyện này cũng vô ích, Mila thầm nghĩ. Người này thực sự rất giỏi trong việc thu thập thông tin. Ba người gặp nhiều công nhân trên đường đi, nhưng không ai chú ý đến họ. Nơi này quá rộng nên chẳng ai để ý đến những sự đi lại bất thường hoặc những khuôn mặt không quen. Họ dừng lại trước một cánh cửa. Người đàn ông nhìn quanh để đảm bảo không có ai quanh đấy, rồi dùng một chìa khóa vạn năng để mở cửa. Đó là một căn phòng nhỏ có một bàn làm việc và vài tủ hồ sơ. Trên tường có các tấm áp phích hình những con bò trên đồng cỏ, một thứ thật ghê rợn xét trong bối cảnh lò giết mổ này. Ngoài ra cũng có các tấm ảnh gia đình của người nhân viên làm việc trong phòng. - Yên tâm đi, chẳng ai đến đâu. Hai người cần gì? - Người đàn ông hỏi trong khi ngồi vào máy tính. - Chúng tôi tìm một người đã biến mất trong khoảng hai mươi năm qua, có tên hoặc biệt danh là Ivan, hoặc tương tự như thế. - Berish giải thích. - Manh mối có vẻ hơi yếu nhỉ. Anh chị không có gì hơn à? Berish kể cho ông ta nghe cảnh hoàng tử bắt con chim lửa trong vở Con chim lửa của Stravinsky. - Người đã cung cấp cho chúng tôi chỉ dẫn này muốn chúng tôi tìm ra một câu trả lời, điều này chắc chắn là có thể làm được. - Một thách thức. Tốt, tôi thích thách thức. Không, không phải một thách thức, mà là một thử thách. Mila định chỉnh lại ông ta, giống như Berish đã chỉnh cô khi anh giải

ị ạg g g g thích cho cô nghe mục đích của kẻ thuyết giáo. Nhưng cô chỉ im lặng quan sát. Người đàn ông gõ những câu lệnh vào máy tính, truy cập kho dữ liệu số của các ngân hàng, bệnh viện, báo chí, thậm chí của cảnh sát. Những ngón tay ông ta di chuyển linh hoạt trên bàn phím như thể dã biết đường vào bên trong tất cả những chỗ bí mật của thế giới mạng. Mật khẩu và các mã an ninh rắc rối đều bị bẻ gãy một cách dễ dàng đến ngạc nhiên. Những thông tin đủ thể loại xuất hiện trên màn hình máy tính: bài báo, hồ sơ y khoa, hồ sơ tội phạm, sao kê tài khoản ngân hàng. Đã gần một giờ trôi qua. Berish không hé răng nửa lời. Anh đi qua đi lại trong phòng, thỉnh thoảng nhìn qua cửa sổ. Mila đến bên cạnh anh. - Hai người gặp nhau như thế nào? - Cô hỏi. - Anh ta từng làm việc cho chươmg trình bảo vệ nhân chứng, anh ta giúp chúng tôi che giấu các nhân chứng khỏi những kẻ muốn họ im miệng. Mila đoán Berish không muốn tiết lộ nhiều hơn. Hoặc cũng có thể chính cô mới là người không muốn biết toàn bộ sự thật. Cô vẫn còn chưa hết sốc khi thấy anh đưa cho người đàn ông kia chiếc phong bì cất trong áo. Cô nhớ lại những lời mà Joanna Shutton đã nói về Berish: “Một trong những đặc vụ có liên quan đã đánh mất uy tín của mình trong một vụ án bẩn thỉu khác. Anh ra đã chấp nhận một khoản tiền để thu xếp cho một tên tội phạm hối cải trốn mất, người mà lẽ ra anh ta phải bảo vệ và theo dõi”. Sự trợ giúp của tay hacker chắc chắn không rẻ. Và Berish làm gì với tất cả chỗ tiền mặt đó ở nhà mình? Bỗng tiếng gõ phím dừng lại. Người đàn ông không tên đã tìm thấy câu trả lời. - Anh ta tên là Michael Ivanovic. Biến mất hồi sáu tuổi. Bằng tuổi Alice. Những vụ mất tích của trẻ em khiến Mila đặc biệt xúc động kể từ khi cô có con. - Người ta vẫn cho rằng anh ta bị bắt cóc. - Tay hacker lên tiếng. - Nếu chính là người này thì bây giờ anh ta hai mươi sáu tuổi. - Anh ta đã biến mất cùng thời kỳ với nhóm người mất ngủ. - Mila vừa nói vừa nhìn Berish. - Anh ta không được kể đến trong số các nạn nhân của Kairus hồig ợg ạ đó là do không có chi tiết thuốc ngủ. Bảy người đã biến vào hư không, cộng thêm nhân chứng Sylvia. Và bây giờ có vẻ như đã có thêm người mất tích thứ chín. - Anh ta đã ở đâu trong suốt thời gian qua? - Mila hỏi. - Tôi không biết. - Chuyên gia đào tẩu đáp. - Nhưng tôi có thể khẳng định chắc chắn là những dấu vết của anh ta đã tái xuất hiện trên mạng cách đây một tuần. Như thể anh ta đã quay lại trên “thế giới ảo”. - Ngay cả khi không có chi tiết thuốc ngủ, sự trùng hợp vẫn rất lớn, cô không thấy vậy sao. - Berish nói một cách hăng hái. - Theo tôi anh ta chính là người chúng ta đang tìm. Mila gật đầu. - Vậy làm thế nào tìm ra anh ta bây giờ? - Để làm việc đó chúng ta sẽ dùng đến các dấu vết mà tôi đã nói với cô. Ivanovic đã gọi cho một công ty điện thoại để mở một thuê bao với tên họ của mình. Đồng thời, anh ta đã yêu cầu mở một tài khoản ngân hàng trực tuyến. Tuy nhiên hai địa chỉ mà anh ta cung cấp không khớp với nhau, điều này cho thấy anh ta chỉ muốn tung một thông điệp lên mạng với hi vọng ai đó bắt được nó. Michael muốn hai người biết anh ta đã tái xuất, nhưng không muốn bị tìm ra. Bởi vì hắn có một nhiệm vụ cần hoàn thành, Mila nghĩ thầm. Hắn phải giết ai đó. - Chúng tôi phải làm gì đây? - Berish hỏi. - Tôi đã có câu trả lời. - Tay hacker mỉm cười. - Theo một hồ sơ y khoa hồi bé, Michael Ivanovic là người mang một dị tật bẩm sinh khá hiếm tên là nghịch đảo phủ tạng toàn phần. - Tức là sao? - Mila thắc mắc. - Tất cả các cơ quan nội tạng đều đảo ngược vị trí: tim nằm bên phải, gan bên trái… vân vân. - Berish giảng giải cho cô. Mila chưa bao giờ nghe tới dị tật này. - Thông tin này sẽ giúp ích cho chúng tôi như thế nào? - Chín mươi lăm phần trăm những người bị nghịch đảo phủ tạng mắc bệnh tim. Như vậy họ cần đi kiểm tra y tế đều đặn. - Nghệ nhân bắt đầu nói. - Chúng ta không đi tìm tên anh ta, mà tìm bệnh lý khác thường của anh ta! - Berish thốt lên. - Ngay cả nếu như trong suốt những

g yg g năm qua anh ta sống với tên giả, chúng ta vẫn có thể lần ra được hoạt động của anh ta thông qua những người đã khám bệnh cho anh ta. - Chuyện không đơn giản thế đâu. - Tay hacker nói ngay để làm giảm bớt nhiệt tình của Berish. - Tôi không tìm thấy trên mạng bất kỳ hồ sơ lâm sàng nào mô tả một ca nghịch đảo phủ tạng ở một bệnh nhân nam hai mươi sáu tuổi. - Sao có thể thế được? - Có thể trong suốt thời gian qua Michael Ivanovic không đi bệnh viện, mà chỉ đi khám bác sĩ đa khoa hoặc chuyên khoa ở các phòng mạch. Chuyện này sẽ mất thời gian hơn một chút. - Chúng tôi không có thời gian. - Berish thở hắt ra. - Rất tiếc, tôi không thể làm gì hơn. - Thôi, - Mila nói với Berish, - có xuống tinh thần cũng chẳng được ích gì. Tôi tin chắc nếu để cho anh ta làm việc, anh ta sẽ phát hiện được điều gì đó về Michael. - Đồng ý, chúng ta sẽ thử. Trong khi chờ đợi, ta làm gì đây? Mila xem giờ. - Tôi có một cuộc hẹn.

46 Lần đầu tiên Alice hỏi về bố là khi con bé được chừng bốn tuổi. Tuy nhiên, thắc mắc của con bé đã xuất hiện trong đầu nó được một thời gian. Như thường thấy ở bọn trẻ con, câu hỏi đó mang những hình thức khác - bằng cử chỉ, hoặc lời nói. Đùng một cái Alice vẽ hình gia đình mình gồm một người mà con bé chưa bao giờ được nghe nhắc đến. Không thể xác định được con bé ý thức được mình còn có một đấng sinh thành nữa từ khi nào. Nhưng chắc chắn chuyện đó xảy ra khi con bé so sánh mình với những đứa bạn cùng tuổi, hoặc khi nghe bà Inès kể về chồng mình, tức ông ngoại của nó. Dẫu sao thì, câu hỏi đầu tiên của con bé về bố là một dạng thoả hiệp. - Bố con bao nhiêu tuổi ạ? Đó là một cách để nói tránh đi mà không đánh mất mục tiêu chính. Một thời gian sau, Alice quay lại chủ đề đó, lần này là chiều cao của bố. Như thể thông tin quý báu đó có thể thay đổi số phận của nó vậy. Kể từ đó, các câu hỏi cứ nối tiếp nhau. Màu mắt, cỡ giày, món ăn yêu thích của bố. Từng chút một, Alice cố gắng xây dựng lại hình ảnh người bố của mình. Đó là một việc đòi hỏi nhiều công sức, đặc biệt là đối với một đứa trẻ. Mila hiểu rõ điều ấy. Bà Inès đã bóng gió đề cập đến một cuộc gặp giữa hai bố con, nhưng Mila cứ trì hoãn. Cô muốn đợi một thời điểm thích hợp, mặc dù cô không biết thời điểm đó là khi nào. Khi nghe mẹ mình lại nhắc đến chuyện ấy đêm hôm qua, Mila đã đồng ý ngay không do dự, như thể hai mẹ con chưa từng bàn cãi chuyện đó với nhau bao giờ. Sau tất cả những chuyện cô đã làm - đêm hôm xông vào nhà làm mọi người hoảng vía - Mila cảm thấy mình mắc nợ Alice. Cô không nghĩ mình là một người mẹ tốt, nhưng cô không thể ngăn cản việc con gái mình được cảm thấy là

một người con ngoan. Mà những đứa con ngoan thì phải đi thăm bố. Ngoài ra, những sự việc trong tuần đã đưa Mila trở lại với thời kỳ xảy ra vụ “Kẻ nhắc tuồng”. Ước mong của Alice không còn bất khả thi nữa. Có lẽ định mệnh đã muốn cô đối diện với quá khứ. Hoặc cũng có thể Alice đã cho Mila thấy cô không thể lờ đi sự việc tồi tệ đã xảy ra. Bởi lẽ, nếu không có sự việc đó, con bé đã không được sinh ra. Con đường uốn lượn quanh quả đồi và được ôm ấp bởi những nhánh cây. Alice nhìn qua cửa xe. Trong một thoáng, Mila ngỡ như nhìn thấy hình ảnh của chính mình hồi bé trong kính chiếu hậu. Cô cũng thích chộp bắt những khoảng khắc trong khi di chuyển với tốc độ nhanh. Những hình ảnh lướt qua trước mắt mà cô chỉ tóm được một phần nhỏ. Một ngôi nhà, một cái cây, một người phụ nữ đang phơi quần áo. Hai mẹ con không nói chuyện nhiều kể từ lúc bắt đầu đi. Mila đã lấy cái ghế an toàn trẻ em ở trong cốp xe ra đặt vào băng ghế sau, để bà ngoại cho Alice ngồi vào, không quên bảo đảm con bé được thắt dây an toàn và mang theo con búp bê ưa thích. Bà Inès đã mặc cho Alice một chiếc váy hai dây bằng vải bông màu hồng. Con bé đi giày và kẹp tóc cùng màu trắng. Sau khi đi được vài cây số, Mila đã hỏi Alice xem con bé có bị nóng hay muốn nghe radio không, nhưng Alice lắc đầu, tay ôm con búp bê tóc hung vào lòng chặt hơn. - Con biết mẹ con mình đang đi đâu đúng không? - Bà nói rồi ạ. - Con có vui không? - Con không biết. Alice đã dập tắt mọi ý định tiếp tục cuộc đối thoại của Mila. Một bà mẹ khác sẽ tìm hiểu cặn kẽ ý nghĩa sự do dự của con bé. Một bà mẹ khác có thể sẽ đề nghị quay về. Nhưng Mila không phải là một người mẹ thật sự của Alice, bà Inès mẹ cô đã thay thế cô trong vai trò

này. Toà nhà xây bằng đá xám hiện lên ở phía xa. Đã bao nhiêu lần cô đi thăm ông trong bảy năm qua? Đây mới là lần thứ ba. Lần đầu tiên, chín tháng sau biến cố, cô đã không thể bước qua ngưỡng cửa và bỏ chạy. Lần thứ hai cô đã đi đến tận phòng ông nằm, đã nhìn thấy ông, nhưng không nói gì với ông hết. Xét cho cùng, họ đã trải qua quá ít thời gian bên nhau, nên cũng chẳng có gì nhiều để chia sẻ. Cái đêm duy nhất cô ở cùng ông đã cứa vào lòng cô hơn cả ngàn vết dao. Nỗi đau thật khủng khiếp, nhưng cũng thật đẹp, nó mạnh mẽ đến độ không thể so sánh với bất kỳ dạng thức yêu đương nào. Ông, người khi cởi quần áo cho cô đã phơi bày bí mật của một cơ thể đầy thương tích. Ông, người đã hôn khắp lượt những vết sẹo của cô. Ông, người đã thổ lộ với cô về sự tuyệt vọng của mình vì biết cô sẽ sử dụng nó đúng đắn. Ít nhất đã bốn năm rồi cô không đến thăm ông. Một người hộ lý da màu ra đón hai mẹ con ở bãi đậu xe. Mila đã gọi điện để báo trước chuyến thăm của mình. - Chào chị. - Anh ta tươi cười lên tiếng. - Chị đến thăm, chúng tôi vui quá. Hôm nay ông ấy đỡ nhiều lắm rồi đấy. Hai mẹ con vào đây, ông ấy đang đợi. Những lời vừa rồi là để dành cho Alice, để không làm con bé hoảng sợ. Mọi thứ phải thật tự nhiên. Họ đi vào qua cửa chính. Hai người bảo vệ ngồi phía sau một cái quầy, họ hỏi xem Mila có còn nhớ thủ tục ra vào toà nhà không. Cô giao nộp vũ khí, phù hiệu và điện thoại di động. Hai người bảo vệ cũng kiểm tra con búp bê tóc hung. Alice nhìn thao tác của họ với đôi mắt tò mò chứ không phản kháng. Sau đó hai mẹ con bước qua một máy dò kim loại. - Ông ấy vẫn có nguy cơ bị giết. - Người hộ lý đã đón hai mẹ con giải thích. Họ băng qua hành lang tỏa mùi chất khử trùng với nhiều cánh cửa đóng. Thỉnh thoảng Alice lại phải rảo bước để theo kịp Mila. Có

lúc con bé nắm tay mẹ, nhưng nhận ra sai sót của mình, nó lập tức rụt tay lại. Chiếc thang máy đưa họ lên tầng hai. Những đoạn hành lang khác sinh động hơn so với ở dưới nhà. Những âm thanh đều đặn phát ra từ trong các căn phòng - tiếng bơm của máy hỗ trợ hô hấp, tiếng bíp bíp của máy theo dõi nhịp tim. Các nhân viên ở đây mặc đồng phục màu trắng và thực hiện một cách nghiêm túc quy trình lấy thuốc vào bơm tiêm, thay bình dịch truyền, đổ túi nước tiểu và thay ống thông tiểu. Mỗi người phụ trách một bệnh nhân, cho đến khi thời hạn sống của người này chấm dứt. Ít nhất thì đó là điều mà một bác sĩ đã nói với Mila. “Chúng tôi ở đây vì những người này bẩm sinh đã nhận được một số ngày dôi dư”. Khi nghe như thế cô đã nghĩ đến một dạng lỗi sản xuất. Như thể sự sống và cái chết đã lấy đà để giờ đây song hành với nhau trong một tiến trình lê thê kéo dài sự tồn tại, cho đến khi cái sau thắng cái trước. Dẫu sao thì, không có người nào đang nằm trên những chiếc giường bệnh ở đây có thể hi vọng quay trở lại hành trình mà họ đã đi. Những người chết không biết họ đã chết, và những người sống không thể chết đi. Mila đã định nghĩa những người mất tích như thế cho Berish. Điều tương tự cũng diễn ra ở đây. Người hộ lý dừng lại ở bên ngoài một phòng bệnh. Họ đã đến nơi. - Hai mẹ con muốn ở lại một mình với ông ấy chứ? - Vâng, cám ơn anh. - Mila đáp. Mila tiến lên một bước trong khi Alice chôn chân trên ngưỡng cửa, tay vẫn siết chặt con búp bê vào người. Con bé nhìn chằm chằm người đàn ông đang nằm dài trên giường với đôi tay ló ra khỏi tấm ga trắng được gấp cẩn thận ngang ngực. Hai bàn tay của ông nằm hờ hững trên lớp vải, lòng bàn tay úp xuống. Chiếc ống thở gắn nơi cổ họng ông đã được che đi bằng một miếng gạc trắng để không làm vị khách nhỏ tuổi hoảng sợ. Alice vẫn đứng bất động, cố gắng khớp con người nằm trước mặt

mình với hình ảnh nó đã xây dựng trong đầu. Đáng lẽ ngay từ đầu Mila đã có thể làm cho con bé tin ông đã chết, như thế sẽ đơn giản hơn, kể cả cho cô. Nhưng theo những gì diễn ra trước mắt thì cô sẽ là một kẻ nói dối. Dù sao thì định mệnh cũng muốn đến một ngày sẽ có những câu hỏi quan trọng hơn và những câu trả lời quan trọng hơn là màu mắt hay cỡ giày của ông. Như vậy tốt hơn nên đợi để giải thích cho con bé hiểu rằng thân xác vô dụng kia là nhà tù không thể thoát ra đối với linh hồn bị kết án của bố nó. Thật may là vẫn còn thời gian cho cả hai. Alice hơi nghiêng đầu, như thể đã cảm nhận một sắc thái của cảnh tượng trước mắt - một trong những cái mà người lớn không thể thấy được. Sau đó nó quay sang Mila và nói: - Bây giờ mình đi được rồi.

47 Vụ mất tích của Michael Ivanovic xảy ra vào thời kỳ mà hình ảnh những đứa trẻ thất lạc được in lên các hộp sữa. Một ý tưởng đơn giản nhưng có thể rất hữu ích đối với việc tìm trẻ lạc. Mỗi sáng, mọi gia đình trên đất nước này đều ngồi vào bàn với khuôn mặt ấy. Nhờ cách làm này, các công nhân có thể ghi nhớ và báo cáo mọi sự xuất hiện đáng ngờ. Nếu đứa trẻ bị bắt cóc, thủ phạm sẽ cảm thấy bị truy lùng. Tuy vậy, việc này cũng có một tác dụng phụ. Đứa trẻ mất tích rốt cuộc được cả đất nước đón nhận. Nó là đứa con, đứa cháu được người ta lo lắng và cầu nguyện cho mỗi tối. Họ chờ đợi việc nó được tìm thấy một cách sốt ruột chẳng kém gì chờ đợi kết quả xổ số, với một niềm tin vững chắc là luôn có một người thắng cuộc. Thế rồi một vấn đề được đặt ra: những nhà điều tra, và cùng với họ là những người sản xuất sữa, phải in hình ảnh đứa trẻ trên vỏ hộp sữa trong bao lâu? Thời gian càng trôi đi, cơ hội có một cái kết có hậu càng giảm xuống. Chẳng ai thích ăn sáng cùng với hình ảnh của một đứa trẻ có khả năng đã chết. Thế là một ngày nọ, hình ảnh những đứa trẻ mất tích biến mất. Nhưng không ai phản đối chuyện đó, họ thấy quên nó đi thì hơn. Michael Ivanovic - với cái tên trìu mến là Michael bé bỏng - đã ở trên hộp sữa trong vòng mười tám tháng. Thằng bé đã ăn sinh nhật lần thứ sáu chỉ một tuần trước khi mất tích. Bố mẹ nó đang tiến hành ly dị. Truyền thông đã bóng gió rằng hai người họ bận tranh cãi để giành quyền chăm sóc cậu con trai duy nhất. Và ai đó đã tận dụng cơ hội để bắt cóc thằng bé. Sự việc diễn ra vào một buổi chiều mùa xuân, trong khu vườn nhỏ ngay trước nơi làm việc của người mẹ. Michael chơi bập bênh. Trong một buồng điện thoại gần đó, mẹ cậu mải miết nói chuyện với người sắp trở thành chồng cũ của mình. Chị ta thề với các điều tra viên là

mình không hề rời mắt khỏi con trai. Hơn nữa, tai chị ta vẫn nghe tiếng cót két của cái bập bênh. Chỉ có điều thanh gỗ đã tiếp tục chuyển động mà không có Michael ngồi bên trên. Một người lính cứu hoả ba mươi lăm tuổi đã bị bắt. Anh ta bị bạn gái tố giác khi cô này tìm thấy ở nhà họ chiếc áo thun kẻ sọc xanh trắng mà cậu bé đã mặc vào hôm bị mất tích. Anh ta thanh minh là mình đã nhặt được cái áo trong một thùng rác và giữ lại vì thằng bé đã trở nên nổi tiếng và anh ta thích được sở hữu một “kỷ vật của ngôi sao”. Lời khai của anh ta rốt cuộc đã được chấp nhận và anh ta chỉ bị buộc tội cản trở điều tra. Ngoài chuyện đó ra thì không một manh mối nào tiết lộ số phận của Michael Ivanovic được tìm thấy trong suốt hai mươi năm. Không một dấu vết, dù là sai lạc. Không ai nói ra, nhưng mọi người đều tin cậu bé đã chết. Như thường gặp trong những vụ việc cùng loại, một thông báo mật đã được chuyển đến tất cả các bác sĩ pháp y trên toàn quốc. Nó chứa đựng các mô tả giải phẫu bệnh cho phép nhận dạng cậu bé trong trường hợp phát hiện thi thể trẻ con. Thông báo có nhắc đến chi tiết chưa bao giờ được tiết lộ cho báo giới về dị tật nghịch đảo phủ tạng bẩm sinh của Michael Ivanovic. Berish đóng hồ sơ lại. Anh đã có nó sau khi tải xuống từ cơ sở dữ liệu trực tuyến của Minh Phủ, nhờ mật khẩu do Mila cung cấp. Nạn nhân thứ chín theo trình tự thời gian của Người ru ngủ, anh nhủ thầm. Tuy vậy, hồ sơ không cho thấy bất kỳ manh mối nào về người có thể là mục tiêu hiện tại của Michael Ivanovic. Do Michael mất tích khi còn nhỏ tuổi, anh ta không thể xác định mục tiêu dựa vào trải nghiệm của bản thân, như trường hợp Roger Valin hay Nadia Niverman. Mối liên hệ giữa nạn nhân và sát thủ chắc sẽ mang tính ngẫu nhiên như trường hợp của Eric Vincenti hay André García. Dẫu vậy, việc Kairus chọn môn đồ trẻ tuổi nhất cho nhiệm vụ lần này đồng nghĩa hắn muốn các điều tra viên phải làm hết sức mình để tìm ra hung thủ. Tại sao? - Hắn muốn chúng ta cảm thấy không đủ năng lực. - Berish thốt lên thành tiếng. - Lần này, mục tiêu sẽ rất tham vọng đây.

g y ụ ọg y Anh đã dành

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 43

Đang tải bình luận...