phần lao động bình thường, thu nhập eo hẹp, cuộc sống nhiều áp lực. Nhưng thái độ của họ đối với hai đứa con mới thực sự khiến Cố Hạo bất bình. Cậu bé rõ ràng thuộc diện ngoài chính sách, không được đăng kí hộ khẩu, có thể khiến bố mất việc bất cứ lúc nào, nhưng lại cũng là đứa con kế thừa hương hỏa nhà họ Tô. Hai vợ chồng yêu con thắm thiết không thể tả, cậu bé về cơ bản là muốn gì được nấy, con nhà công nhân mà được nuông chiều thành thói. Ngược lại, địa vị của con gái lớn trong nhà thấp hơn nhiều. Cô bé cao và gầy, khuôn mặt xanh xao, có dấu hiệu thiếu dinh dưỡng. Về nhà, ngoài làm bài còn làm việc nhà, rất ít khi nói chuyện. Em trai luôn có giày mới quần áo mới, cô thì mặc đồng phục cũ kĩ quanh năm. Cô rất lễ phép, hễ chạm mặt là cúi đầu chào “Bác Cố”.Ông thấy cô lau nước mắt trong bếp mấy lần, không biết là giận bố mẹ hay bị em trai bắt nạt. Vụ mất trứng lần này, khỏi phải nói, nhất định là do thằng nhóc coi trời bằng vung kia gây ra. Cố Hạo bề ngoài bình tĩnh, nhưng thâm tâm quyết định dạy cho đứa trẻ một bài học. Đêm hôm sau, ông chiên hai quả trứng, cố tình khua nồi cho ồn. Chiên xong, ông tắt gas và đèn bếp, đi ra cửa, cao giọng nói, “Ông Trương, chờ chút nhé, tôi vào ngay đây.” Đoạn mở cửa bếp và đóng lại, lặng lẽ chuồn về nhà, áp sát người vào cửa, nghe ngóng động tĩnh của căn 101. Vài phút sau, cánh cửa sắt phía đối diện kêu ken két. Tiếng bước chân rón rén. Tiếng nhấc vung nồi. Tiếng nhai nhóp nhép...
Liền đó là tiếng “Úi chà” và “Phì phì phì”. Cố Hạo như mở cờ trong bụng. Thằng khốn nạn, tạo cho thêm ba thìa muối đấy, mặn đứt lưỡi mày ra. Ông mở cửa, đi sang bếp chung, giơ tay lần công tắc. Ánh đèn màu cam bật sáng. Điệu cười khoái chí vì đùa ác thành công lập tức đóng băng ở khóe miệng Cố Hạo. Y như con thỏ nhỏ sợ hãi, cô cả nhà họ Tô một tay che mắt, tay kia cầm miếng trứng cắn dở. Cố Hạo sững sờ, lắp bắp hỏi, “Sao lại là cháu?” Cô gái không trả lời, cũng không cần trả lời. Cô nhích tới gần bếp, đặt miếng trứng trở lại chảo, bàn tay che mắt vẫn chưa buông xuống. Vai cô run lên, những giọt nước mắt long lanh bắt đầu rỉ ra khỏi kẽ tay. Cố Hạo phát hoảng, luống cuống bước tới an ủi, “Đừng khóc... Tôi không trách cháu.” “Xin lỗi, bác Cố.” Cô gái òa khóc. “Cháu vừa hết giờ tự học buổi tối... Chưa ăn cơm...” Cố Hạo nhíu mày, “Bố mẹ cháu đâu?” “Đưa em cháu đi tảo mộ ông bà.” Cô gái khóc nấc. “Cháu đói... Cháu xin lỗi.” “Hôm qua cũng là cháu?” “Vâng.” Cô gái cúi gục mặt xuống. “Cháu tưởng là phần ăn thừa của bác.” Im lặng một hồi, Cố Hạo cầm chảo hất trứng vào thùng rác. “Rửa tay đi.” Ông bật bếp gas. “Rửa mặt nữa, ngoa nguếch cả ra.” Cô gái bật cười, ngoan ngoãn quay vào nhà. Lúc trở lại, trên bếp đã để sẵn một cái đĩa, bên trong là hai quả trứng ốp la nóng
hôi hổi. Cố Hạo kéo ghế, giơ tay bảo cô gái ngồi xuống. “Chiến thêm vài cái màn thầu nhé?” “Không cần ạ.” Cô gái nóng lòng cầm đũa lên. “Cháu cảm ơn bác.” “Có gì đâu, đáng ra tôi không nên trêu chọc cháu.” Cố Hạo ngồi xuống châm thuốc. “Tôi còn tưởng là em cháu cơ.” “Em cháu thì không đâu.” Cô gái mim cười. “Nó muốn thì mẹ sẽ nấu cho ngay.” Cố Hạo khịt mũi, không nói gì. Cô gái cẩn thận nhìn vào mặt ông, “Bố mẹ đối với cháu rất tốt, chỉ là, em cháu đang tuổi ăn tuổi lớn thôi.” “Cháu thì không ư?” Cố Hạo búng tàn thuốc. “Cháu mới tí tuổi đầu, không phải vẫn tuổi ăn tuổi lớn ư?” “Cháu là chị mà.” Cô gái nghiêm túc trả lời. “Chị thì nên nhường em, phải không ạ?” “Mau ăn đi!” Cố Hạo không trả lời cô, chỉ cái đĩa giục. “Để nguội mất ngon.” Căn bếp nhỏ nửa đêm, ánh đèn mờ ảo. Ông già lặng lẽ hút thuốc, cô gái ngấu nghiến ăn trứng. Cảnh sinh hoạt bình yên điển hình. Chẳng mấy chốc, hai quả trứng ốp la đã nằm gọn trong bụng cô gái. Cô nhanh nhảu dọn dẹp bát đĩa đũa chảo rồi cúi đầu chào Cố Hạo, “Cảm ơn Bác Cố.” “Có hai quả trứng, đáng gì mà cảm ơn.” Cố Hạo cân nhắc một lát. “Mấy giờ thì xong tự học buổi tối?” “9 giờ ạ.” Cô gái nghi hoặc. “Sao bác?” “Học về thì sang đây.” Cố Hạo trỏ lên bếp. “Tôi chiên trứng cho
cháu ăn.” “Không được, không được ạ. Phiền phức cho bác.” Cô gái xua tay. “Hơn nữa, bố mẹ mà biết sẽ mắng cháu.” “Cháu không xoay xở để họ khỏi biết được à?” Cố Hạo cau mày. “Thế này nhé, tôi để trứng trên bếp, ăn xong cháu cứ đi đi, không cần rửa đĩa, trật tự thôi.” “Vậy thì...” Cô gái cắn môi, vẻ mặt vừa xấu hổ vừa mong đợi. “Cháu có thể giúp gì cho bác không?” “Tạm thời thì không.” Cố Hạo mỉm cười. “Khi nào nghĩ ra tôi sẽ cho cháu biết.” “Vâng.” Có lẽ nhờ ăn no, khuôn mặt xanh xao của cô gái đã hồng hào. Cô vẫy tay với Cố Hạo, quay người chạy về căn 101. Cứ thế, một già một trẻ đã có chung một bí mật là trứng ốp la. Âm thầm quan tâm, không lời trò chuyện. Mỗi tối cứ đúng giờ Cố Hạo lại chiên bốn quả trứng, ăn hai quả, lấy đĩa úp lên hai quả còn lại và đặt trên bếp. Sáng dậy, đĩa đã rửa sạch sẽ, xếp vào chạn. Không biết cô gái thận trọng rửa lau cách nào để khỏi đánh động bố mẹ. Thỉnh thoảng, Cố Hạo sẽ thấy những bó hoa dại tươi treo ở tay nắm cửa. Khỏi nói cũng biết đây là tấm lòng của cô gái. Giao ước ngầm giữa họ kéo dài cả tháng trời, cho đến đêm mưa dữ dội ấy. Cố Hạo miên man nghĩ ngợi, thuốc cháy cả vào tay mới giật mình bừng tỉnh. Ông vứt thuốc đi, lắc đầu cười gượng. Phải, có liên quan gì đến mình? Không thích ăn trứng nữa, bị bố mẹ mắng... Đủ mọi lý do để ngăn cô bé xuống bếp chung. Làm sao một ông già hiểu được suy nghĩ của thiếu nữ tuổi này. Tốt thôi, cũng chẳng phải họ hàng thân thích, lại còn tiết kiệm được hai
quả trứng. Cố Hạo nằm ngửa ra, thoải mái duỗi mình trên giường, bắt đầu tính xem bữa tối ăn gì và làm sao cho qua ngày dài đằng đẵng. Tâm trí mông lung, lơ đãng và biếng nhác. Tuy nhiên, ông không nhận ra mình đang nhìn chằm chằm vào vỏ chai rượu trên bàn làm việc. Chai cắm một bó hoa dại bắt đầu úa tàn.
K 5 lời nói dối của người cha hông khí sáng hôm đó có chút gì khó xử. Suốt bữa ăn Ngọc Thục và Khương Đình không nói một lời. Lúc chị rửa bát, con gái đã mặc quần áo chinh tế và cách lấy hộp cơm trưa. Ra đến cửa, em lầm bầm “Con đi học” rồi mở cửa bước đi mà không đợi mẹ đáp lại. Ngọc Thục đứng trước bồn rửa một lúc, cố gắng giữ bình tĩnh mà rửa cho xong đống bát đĩa. Tâm trạng của Khương Đình đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến nếp sống và việc học hành. Tệ hơn là, em không chịu chia sẻ với mẹ. Khi phát hiện giường con gái trống không, Ngọc Thục lập tức lục tung mọi ngóc ngách trong nhà. Tuyệt nhiên không tìm thấy Khương Đình, chị cầm đèn pin lao ra cửa. Tình hình này rõ ràng là bất thường. Khương Đình chưa bao giờ lẻn ra ngoài một mình lúc nửa đêm. Ngọc Thục không có thời gian tìm hiểu lý do, hớt hải chạy thẳng xuống lầu, gọi tên Khương Đình và tìm kiếm em khắp khu nhà. Đêm đã khuya, nhân gian chìm trong say ngủ. Ngọc Thục đi sang sân tòa bên cạnh, rồi lại tòa bên cạnh nữa, giọng khàn cả đi, chân mỏi nhừ. Chị không biết con gái đã đi bao lâu và bao xa. Tìm kiếm mông lung ở đây rất có thể chi phí công vô ích, nhưng Ngọc Thục quá rối ren, không còn khả năng phân tích nữa. Chẳng mấy chốc, chị đã đi hết các sân trong khu chung cư,
nhưng vẫn không thấy Khương Đình. Ngọc Thục nhìn đường cái sáng đèn cách đó không xa, định đi ra tìm, nếu còn không tìm thấy, chỉ còn nước báo công an. Chị bèn rời chung cư, bắt đầu tiến ra con đường thỉnh thoảng có xe tải ầm âm chạy qua. Đột nhiên, chị liếc thấy một bóng đen từ từ đi ra khỏi bồn hoa trước một tòa nhà. Ngọc Thục vô thức rọi đèn pin sang, “Đình Đình?” Quả nhiên, cô con gái trong bộ đồ ngủ hiện rõ trong luồng sáng. Tóc tai lòa xòa, mặt mũi nhợt nhạt, em sững sờ nhìn mẹ, gần như không có phản xạ tránh ánh đèn chói mắt. Ngọc Thục rào chân chạy tới, xem xét từ đầu đến chân con để chắc chắn không sây sát chỗ nào, bấy giờ cơn giận mới trào lên trong lòng. “Con đi đâu vậy?” Chị vỗ vai Khương Đình. “Muộn thế này rồi, con muốn làm mẹ chết vì sợ hay sao?” Cô con gái loạng choạng. Tuy nhiên, em không giải thích cũng không cự cãi, chỉ nghiêng đầu đứng lặng. “Nói, con vừa đi đâu?” Cô con gái giữ nguyên tư thế ban đầu, không động đậy, không lên tiếng. Lúc này, những người dân ở tầng trệt tòa nhà ngay đấy đã bật đèn, một người đàn ông cởi trần vừa gãi ngực vừa đi tới cửa sổ, nghi ngờ nhìn họ. Ngọc Thục nghiến răng nghiến lợi nắm lấy tay con gái, “Về!” Vào tới nhà mới nhìn rõ bộ đồ ngủ của con dính đầy bụi bặm, mạng nhện và vết bẩn, dép dưới chân bê bết bùn, bốc mùi hăng hắc. Quá ngạc nhiên, Ngọc Thục luôn miệng chất vấn con gái mới ở đâu về. Khương Đình vẫn không hé môi, lẳng lặng cởi
quần áo và dép bẩn, xoay người đi vào phòng ngủ, chốt cửa lại. Lòng đầy cáu kỉnh và nghi ngờ mà không trút ra được, Ngọc Thục đành mang quần áo và đôi dép bẩn của con gái vào phòng tắm, ngâm trong chậu rồi vò cọ thật mạnh. Xong xuôi thì đã 3 giờ sáng. Ngọc Thục mệt không tả được, định ngồi trên sofa nghỉ ngơi một lát, nhưng thiếp đi lúc nào không hay. Con gái dậy đúng giờ như mọi ngày, không hé một lời về chuyện đêm qua. Khương Đình đi học rồi, Ngọc Thục bứt rứt bồn chồn suốt, sổ sách bày ra bàn mà xem không vào, bèn gạt hết sang một bên, trầm tư suy nghĩ. Con gái ra ngoài ban đêm, hoặc để thư giãn hoặc để gặp ai đấy. Nếu khó chịu vì cuộc trao đổi của bố mẹ thì chắc em đã sẵn sàng nói thẳng ra. Nếu để gặp ai đó thì thật khó tin. Bởi vì, dựa trên sự hiểu biết của Ngọc Thục về con gái mình, hiện tại Khương Đình không yêu đương gì cả, chưa kể bộ dạng lúc quay về cho thấy em đã đi đến một nơi chật chội, bẩn thỉu... Ai lại hẹn hò ở một nơi như thế? Suy nghĩ chán chê, Ngọc Thục vẫn không tìm ra lý do cho hành vi bất thường của Khương Đình. Điều này khiến chị càng thêm bất an. Con gái là da là thịt của chị, kết nối với chị bằng huyết mạch và linh hồn. Giờ đây, có một bàn tay đang ngăn chặn mối kết nối này. Điều khủng khiếp là bàn tay ấy không hình không dạng không cảm giác được và cũng chẳng biết nó xuất hiện từ nơi nào. Chị chỉ biết mọi sự bắt đầu vào đêm mưa lớn ấy. Ngọc Thục mở ngăn kéo, cau mày nhìn hộp bút bọc giấy báo. Ngày dài cuối cùng cũng qua. Hôm nay Khương Đình có buổi tự học tối, 9 giờ mới tan. Ngọc Thục đến cổng trường lúc 8 giờ 30
phút, vươn cổ nhìn vào khuôn viên sáng đèn. Chị không phải là người đến sớm nhất. Ở cổng trường còn có một ông già, vừa kiên nhẫn chờ vừa hút thuốc. Tàn thuốc bên chân cho thấy ông đã có mặt ở đây ít nhất nửa giờ. Ông già gầy gò, người tầm thước, quần áo bình thường, trông không khác gì công nhân nghỉ hưu. Nhận ra Ngọc Thục quan sát mình, ông quay sang nhìn, ánh mắt sắc như chim ưng không hề phù hợp với ngoại hình hiền lành. Ngọc Thục rùng mình, vội nặn ra một nụ cười rồi ngoảnh mặt đi. Ông già cũng cười, ung dung hút thuốc tiếp. Sau 8 giờ 45 phút, cổng trường bắt đầu đông phụ huynh hơn, họ túm tụm trò chuyện theo từng nhóm quen biết. Khương Đình rất nề nếp nên Ngọc Thục hiếm khi phải đến tận trường đón con, vì vậy chị chẳng quen ai cả, cứ đứng trơ trọi một mình. Ông già hút thuốc cũng thế thì phải. Chuông tan học réo vang, cổng trường bắt đầu nhộn nhạo. Vài phút sau, khuôn viên trường cũng trở nên ồn ào. Học sinh đổ ra từ các lớp, tốp năm tốp ba đồng phục xanh trắng giống hệt nhau tràn về cổng trường như sóng xô. Ra tới bên ngoài thì bắn tung thành từng giọt tỏa lan tứ phía. Ngọc Thục không dễ gì nhận ra giọt nước của mình trong làn sóng này. Chị kiễng chân, loay hoay tìm con gái giữa đám đông. Mãi cho đến khi sóng lớn qua đi và chỉ còn lác đác học sinh trong khuôn viên trường, Khương Đình mới chậm rãi bước ra khỏi khu phòng học, mặt cúi gằm, người khòm xuống. Ngọc Thục vẫy tay lia lịa. Khương Đình vẫn nhìn chằm chằm xuống đất, dáng vẻ thất thần, và chỉ nhận ra khi Ngọc Thục rào chân chạy đến trước mặt.
“Mẹ?” Khương Đình kinh ngạc mở to mắt. “Sao mẹ lại ở đây? “Hả, không muốn mẹ tới à?” Ngọc Thục cố ý ra vẻ dữ tợn. “Đói chưa?” “Chưa đói lắm ạ.” Khương Đình bỗng nhiên lại nhõng nhẽo như bình thường. “Có gì ngon hả mẹ?” “Đi, về nhà.” Ngọc Thục phấn khởi khi thấy con gái hào hứng. “Mẹ hầm thịt bò rồi đấy.” Khương Đình khoác tay mẹ, đang định cất bước thì một giọng nam già nua đột nhiên vang lên gần đó, “Xin lỗi cháu!” Hai mẹ con cùng lúc quay lại nhìn. Ngọc Thục nhận ra người cất tiếng chính là ông già hút thuốc ở cổng trường. “Cháu ơi, còn học sinh nào trong trường không?” Ông già chỉ vào khu phòng học. “Về hết rồi à?” “Chắc thế ạ.” Khương Đình nhìn theo tay chỉ, bảo vệ đã bắt đầu đóng cửa kính và cài chốt. “Sắp đóng cửa rồi mà.” “Ồ.” Ông già tư lự gật đầu, đoạn cười nói. “Cảm ơn cháu.” Ánh mắt và giọng điệu ôn tồn, nhưng nét sắc sảo trong mắt vẫn không hề giảm bớt. Ngọc Thục cảm thấy khó chịu, muốn kéo con đi thật nhanh, Khương Đình bỗng lại tỏ ra nhiệt tình. “Bác tới đây đón cháu ạ?” Em hỏi. “Cấp hai hay cấp ba? Lớp nào?” “Hả? Cấp ba.” Ông già do dự. “Không sao, chắc nó đi vệ sinh. Tôi đợi một lúc xem sao, cảm ơn cháu.” Nói đoạn, ông già khẽ gật đầu với Ngọc Thục. Chị luống cuống gật đầu lại rồi chộp lấy tay Khương Đình, hấp tấp rời đi. Dọc đường về nhà, Khương Đình vẫn ít nói, nhưng so với tôi hôm qua đã hoạt bát hơn. Hai mẹ con ăn cơm rồi tắm rửa giặt
giũ. Ngọc Thục ngồi cùng cho đến khi con gái làm bài tập xong. Lúc chuẩn bị đi ngủ, chị kéo con ra sofa, nhẹ nhàng hỏi. “Gần đây con làm sao vậy, có thể cho mẹ biết được không?” Khương Đình lập tức ỉu xìu, đầu gục xuống, ngón tay và nghịch, giọng lí nhí đến mức gần như không nghe ra, “Không có gì.” Ngọc Thục xoa đầu con gái, “Dù là chuyện gì, con cũng có thể nói với mẹ. Đừng làm mẹ lo lắng, được chứ?” Khương Đình không đáp, từ từ ngả mình xuống lòng mẹ. Trái tim mềm nhũn đi, Ngọc Thục đưa tay vuốt ve suốt từ tóc xuống sau lưng con gái. Bình thường, Khương Đình sẽ thoải mái chìm vào giấc ngủ như mèo con. Tuy nhiên hôm nay em có vẻ không thư thái. Cho dù không nhìn được mặt con, Ngọc Thục vẫn biết Khương Đình đang trân trối nhìn vào một góc phòng khách. Một lát sau, Khương Đình khẽ gọi, “Mẹ?” "Ừ?” “Nếu tự dưng con biến mất, mẹ có tìm con không?” “Còn phải nói!” Ngọc Thục buột miệng, và lập tức nhận ra có điều khác lạ, chị liền ngồi thẳng dậy, cố gắng kéo con gái lên. “Rốt cuộc có chuyện gì thế?” Khương Đình không nhúc nhích, chỉ duỗi hai tay ra, ôm chặt lấy mę. Sau khi giám định những người có đặc điểm thể chất giống các nạn nhân, danh tính của ba thi thể đã được xác định. 1. Đỗ Viện, nữ, 33 tuổi, nhân viên Phòng Hậu cần Viện Nghiên cứu Dệt may. Đã kết hôn, có một con trai. Cư trú tại căn 202 tòa
3, số 168 đường Thái Sơn quận Hòa Bình. Ngày 17 tháng Ba chồng cô đã đến trình báo ở công an quận về việc vợ mất tích. 2. Dương Tấn Thiến, nữ, 27 tuổi, y tá khoa Nhi thuộc Bệnh viện Nhân dân Số 4. Đã kết hôn, chưa có con. Cư trú tại căn 501, tòa 1, số 87 đường Liễu Điều Hồ, quận Khoan Bình. Ngày 6 tháng Tư, mẹ cô đã đến trình báo ở công an quận về việc con gái mất tích. 3. Tôn Huệ, nữ, 31 tuổi, giáo viên mầm non thuộc trường Mẫu giáo Số 1 trực thuộc một cơ quan thành phố. Đã ly hôn, chưa có con. Cư trú tại căn 709, tòa 4, số 22 đường Tiểu Nam Nhất, quận Bắc Quan. Ngày 10 tháng Năm, mẹ cô đến trình báo với công an quận về việc con gái mất tích. Theo kết quả khám nghiệm, ba tử thi đã rữa nát nặng, hiện tượng tử thi [*] đều không còn. Phân tích quá trình tiêu hóa của dạ dày thì cho ra kết luận, các nạn nhân đều bị giết trong vòng mười giờ sau lần ăn cuối cùng. Kết hợp với thời điểm người nhà trình báo mất tích, có thể xác định được thứ tự thiệt mạng của họ. Nguyên nhân tử vong của cả ba là do ngạt cơ học, hung khí nghi là dây thép, hung thủ là một người đàn ông có nhóm máu A, trước khi giết chết đã xâm hại họ. Kết hợp các tình tiết trên, công an thành phố xếp án mạng này vào dạng giết người hàng loạt, và quyết định thành lập ban chuyên án để điều tra toàn diện. “Tôn Huệ mất tích vào ngày thường trong tuần, giờ tan trẻ là 5 giờ 30 phút. Theo thông tin của mẹ và các đồng nghiệp cô, Tôn Huệ đi làm bằng xe đạp, lộ trình bình thường là từ cổng trường
Mẫu giáo Số 1 rẽ trái ra đường Huệ Dân, đến phố Phong Thu thì rẽ phải, đến đường Tiểu Nam Nhất thì rẽ trái, rồi cứ thế đi thẳng về phía Nam...” Trong phòng họp, Thai Vỹ đứng bên máy chiếu slide, vạch qua vạch lại trên bản đồ quận Bắc Quan. Đường kẻ đậm màu đỏ hiển thị lộ trình thông thường của Tôn Huệ, trông khá đơn giản. “Chúng tôi đã đi thực địa. Lộ trình về nhà của Tôn Huệ dài bốn mươi phút, cô ấy biến mất trong khoảng thời gian này.” Sau cuộc họp, Thai Vỹ thu dọn tài liệu, bồn chồn nhìn các thành viên ban chuyên án ngồi bên dưới. Phó giám đốc Hồ chuyên trách hình sự thở dài di tắt thuốc trong gạt tàn, rồi xoa xoa mặt vẻ mệt mỏi. “Tìm thấy xe đạp của Tôn Huệ chưa?” “Chưa ạ.” Thai Vỹ mở sổ tay. “Cô ấy đi một chiếc xe đạp nữ rất bình thường. Chúng cháu đã đến một số chợ buôn bán xe đạp cũ ở thành phố mình nhưng chưa tìm thấy.” “Nạn nhân số 1 biến mất trên đường đi dự tiệc tối về. Nạn nhân số 2 biến mất trên đường đi chợ về. Nạn nhân số 3 biến mất trên đường đi làm về. Đúng chưa?” Phó ban chuyên án Vương Hiến Giang gật đầu. “Vâng.” “Thời điểm phạm tội khác nhau, lộ trình khác nhau. Một người đi xe buýt, một người đi xe đạp, một người không rõ...” Phó giám đốc lẩm bẩm. “Không có điểm giao cắt nào sao?” Vương nhìn sang, Thai Vỹ hiểu ý, lập tức xếp chồng ba tờ slide lên nhau. Đường kẻ đậm màu đỏ trở nên phức tạp hơn. Phó giám đốc nhìn kĩ một lúc, nhíu mày. “Không có?” “Hiện tại chưa tìm được.” Vương cân nhắc từng câu từng chữ.
“Manh mối còn rất ít.” “Rất ít cái gì, chưa có một tí nào luôn ấy.” Phó giám đốc khiển trách. “Tiếp theo định làm gì?” “Chúng tôi ngờ rằng thi thể bị ném xuống cống ngầm và theo mưa lớn trôi ra kênh Vệ Hồng.” Vương ngập ngừng. “Chưa chắc nạn nhân chỉ giới hạn ở ba người này.” “Các anh định xuống cống à?” Phó giám đốc mở to mắt. “Anh có biết hệ thống cống ngầm lớn nhường nào không?” “Biết. Chúng tôi có trao đổi với bên Viện Quy hoạch thành phố, cũng đã xét đến các yếu tố như lượng mưa, tốc độ dòng chảy, nhưng vẫn không thể xác định vị trí ban đầu của thi thể trước khi trôi ra kênh.” Vương nhăn nhó. “Vì vậy, chúng tôi dự định xuống xem.” Nghe chẳng khác nào mò kim đáy bể. Trước hết, chưa chắc đã xác định được vị trí ban đầu của tử thi. Thứ hai, cho dù xác định được, cũng chưa chắc tìm ra dấu vết gì đủ làm bằng chứng. Tuy nhiên, đây là hướng điều tra duy nhất hiện giờ, không cố mà cây kim này thì cũng chẳng còn cách nào hơn. Phó giám đốc Hồ cân nhắc