phần lớn được phân phát cho các trường đại học trên khắp thế giới dưới dạng các lò phản ứng nhỏ, an toàn để nghiên cứu.[20]) Đệ nhất Phu nhân Mamie Eisenhower là người khánh thành tàu ngầm hạt nhân đầu tiên của hải quân Mỹ, chiếc USS Nautilus, vào ngày 21 tháng 1 năm 1954. Một tháng sau, Eisenhower gửi một thông Năng lượng: Lịch sử nhân loại từ than củi tới hạt nhân 377 điệp tới Quốc hội để xuất sửa đổi Đạo luật Năng lượng Nguyên tử năm 1946 để giải phóng vật liệu và công nghệ hạt nhân cho phát triển dân sự - và nhân đây cho phép ông biến NATO thành một liên minh phòng thủ hạt nhân.[21] Đến lúc đó, ngành công nghiệp hạ tầng kỹ thuật bắt đầu lo lắng về sự cạnh tranh thương mại cho điện hạt nhân. Điện hạt nhân chưa kinh tế ở Mỹ nhưng đã cạnh tranh với các nguồn điện phi hạt nhân ở Tây Âu và Nhật Bản, các khu vực có ít tài nguyên nhiên liệu hóa thạch bản địa. Canada bắt đầu xây dựng một lò phản ứng áp lực nước nặng được cung cấp nhiên liệu uranium tự nhiên với công suất thiết kế 200 megawatt, một cơ cấu tốt hơn cho các quốc gia không có khả năng làm giàu uranium. Một thị trường nước ngoài béo bở đã mở cửa. “Nếu chúng ta thua kém Nga trong cuộc đua này,” Thượng nghị sĩ có ảnh hưởng John O. Pastore của Rhode Island lo lắng, thì sẽ là thảm họa. Nếu chúng ta thua kém Vương quốc Anh hoặc Pháp, sẽ có một thảm kịch kinh tế to lớn đối với thương mại của Mỹ. [22] Các công ty như Westinghouse và General Electric rất muốn cạnh tranh, nhưng họ bị cấm tham gia bởi các điều khoản của Đạo luật Năng lượng Nguyên tử.
Liên Xô khiến thế giới rúng động vào ngày 26 tháng 6 năm 1954 với tuyên bố rằng họ đã bắt đầu tạo ra lưới điện kết nối với một lò phản ứng, nguồn điện hạt nhân đầu tiên trên thế giới. Lò phản ứng 5 megawatt của Liên Xô đang hoạt động tại Viện thí nghiệm V của Trung tâm hạt nhân ở Obninsk, khoảng gần 100 km về phía tây nam Moscow. (Nó được làm chậm bằng than chì và làm mát bằng nước, một thiết kế với điểm yếu thiết kế vốn có mà các nhà khoa học Liên Xô đã nhận thức được: vì nước hấp thụ neutron, một diễn biến làm hao hụt chất làm mát - nước hút ra từ các kênh nhiên liệu hoặc đun sôi - sẽ làm tăng tốc độ phản ứng. “Trong trường hợp 5 lít nước xâm nhập vào than chì,” một trong số họ đã viết sau đó, “và sự phân bố đồng nhất của nó trong lõi, và phản ứng vượt giới hạn sẽ xảy ra.”[23] Các nhà khoa học Liên Xô nghiên cứu và kết luận rằng nước sẽ không phân tán qua lõi nếu có kênh nhiên liệu bị rò rỉ. Hệ thống nước-than chì tiếp tục được ưu tiên cho các lò phản ứng của Liên Xô vì nó có tác dụng kép, có khả năng tạo ra plutonium cho vũ khí trong khi sản sinh ra năng lượng. Các lò phản ứng tại Chernobyl sẽ dùng hệ thống nước-than chì.) Đấu đá nội bộ nặng nề trong Quốc hội xoay quanh việc nhà máy điện hạt nhân thương mại đầu tiên của Mỹ sẽ được xây dựng bởi chính phủ hay doanh nghiệp tư nhân gây khó khăn cho việc luật hóa các đề xuất của Eisenhower. AEC đã bắt đầu ngay với sự chuẩn bị trước dựa vào chuyên môn của Rickover. Năm 1950, người đứng đầu các hoạt động hải quân này đề xuất phát triển một lò phản ứng cho tàu lớn để cung cấp năng lượng cho hàng không mẫu hạm, trở thành một dự án lúc mở lúc đóng trong ba năm trời. Đến tháng 7 năm 1953, AEC giao dự án lò phản ứng dân sự cho Rickover và nhóm của ông.[24] Các kế hoạch lò phản ứng cho tàu lớn sẽ là sự khởi đầu cho thiết kế dân sự của Rickover. Đồng thời, Rickover đưa ra một quyết định quan trọng là thay đổi hình thức nhiên liệu từ kim loại uranium sang uranium dioxid, một loại gốm. “Đây là một thiết kế hoàn toàn khác biệt so với các lò phản ứng của hải quân,” Theodore Rockwell viết, “và yêu cầu phát triển một công nghệ hoàn toàn mới từ đầu.”[25] Rockwell nói với tôi rằng Rickover đã đưa ra quyết định, mặc cho thực tế rằng nó làm phức tạp công việc của họ, để giảm nguy cơ phổ biến hạt nhân: đơn giản là biến thanh kim loại uranium được làm giàu cao thành một quả bom, trong khi uranium dioxid, có nhiệt độ nóng
chảy 5.189°F (2.865°C) đòi hỏi kỹ thuật xử lý khó khăn để chuyển đổi nó thành kim loại. Đến tháng 10 năm 1953, AEC đã sẵn sàng công bố khai thác nhà máy điện thí điểm 60 megawatt thuộc sở hữu của AEC. Nó được xây dựng trên sông Ohio tại Shippingport, Pennsylvania, về phía tây 60 km ở phía bắc của Pittsburgh, gần công ty Westinghouse và Công ty Chiếu sáng Duquesne. Nhóm lò phản ứng hải quân của Rickover sẽ chỉ đạo việc xây dựng, Rickover đã đứng dưới trướng AEC. Philip A. Fleger, chủ tịch hội đồng quản trị của Duquesne, nói rằng lý do cơ bản khiến công ty của ông chuyển đổi sang năng lượng hạt nhân là để “kiểm soát ô nhiễm.”[26] Nhà máy điện hạt nhân thương mại đầu tiên của Mỹ trên thực tế được chào đón hoan nghênh với tư cách là công nghệ “xanh.” Pittsburgh bị ô nhiễm nặng nay bắt đầu tái phát triển đô thị cuối những năm 1940 và kiểm soát khói nghiêm ngặt. Vào thời điểm AEC mời thầu công nghiệp tư nhân cho dự án Shippingport, sắc lệnh kiểm soát oxid lưu huỳnh cũng đang chờ được thông qua tại Pittsburgh. Duquesne kiến nghị xây dựng một nhà máy nhiệt điện than trên sông Allegheny nhưng cư dân trong khu vực đã phản đối quyết liệt. “Chúng tôi vấp phải rất nhiều sự quấy rối và trì hoãn từ những người phản đối,” Fleger kể lại. “Có lẽ chúng tôi không thể hoàn thành nhà máy đúng lúc để đáp ứng nhu cầu năng lượng mà chúng ta đang phải đối mặt.” Dự án lò phản ứng nước áp lực của AEC như một phép màu: không có thiết bị lọc bụi đắt tiến để kiểm soát khói, không có máy lọc đắt tiền để kiểm soát oxid lưu huỳnh, 60 megawatt công suất tải cực đại và sự ủng hộ dành cho công nghệ điện hạt nhân. Triển vọng kinh tế của dự án cũng có vẻ đầy hứa hẹn. “Tôi nhận thấy đến giai đoạn này sẽ rất khó để bất kỳ công ty nào có thể dự đoán được chi phí cuối cùng của dự án,” Fleger nhớ lại. “Tuy nhiên, ở đây chúng ta có thể thương lượng một hợp đồng và yên tâm rằng có mức trần về chi phí.” Duquesne đã sở hữu 271 mẫu đất bằng phẳng bên cạnh sông Ohio tại làng Shippingport, gần ranh giới Pennsylvania-Ohio. Công ty này đã mua thêm 237 mẫu, tạo thành một diện tích tương đối biệt lập. Nó có đủ yếu tố xây dựng các cấu trúc cần thiết cho một nhà máy điện hạt nhân, để lắp đặt tua-bin 100 megawatt sản xuất điện từ hơi nước nóng lò phản ứng, và đáp ứng được lượng điện cần cho nhân công và dịch vụ trị giá 5 triệu đô-la tính vào kinh phí chạy lò phản ứng. Con số 5 triệu đô-la
chi phí gần tương đương với chi phí nhà máy nhiệt điện mà Duquesne sẽ phải mua nếu hệ thống điện là thông thường thay vì điện hạt nhân. AEC thích hồ sơ thầu của Duquesne. Họ thích vị trí mà Duquesne chọn, cùng thành phố có cơ sở Westinghouse, nơi lò phản ứng sẽ được thiết kế và xây dựng. AEC nhận được mười hồ sơ dự thầu. Trong số đó Duquesne là đơn vị tốt nhất và AEC đã chấp nhận điều đó. Vẫn đang nằm trên giường bệnh hồi phục sau cơn đau tim, Eisenhower vẫy một cây đũa thần - hay nguồn neutron - qua một máy phát ở Denver và kích hoạt một máy ủi tự động ở Shippingport để xúc mẻ đất đầu tiên cho nhà máy điện mới vào lễ Lao động, ngày 6 tháng 9 năm 1954. Việc đào móng và xây dựng vào guồng trong mùa xuân năm ấy. Công việc tiến triển thuận lợi. “Chúng tôi có thể thực hiện công việc của mình mà không phải chờ thư và không ồn ào,” Rickover phản