Năng Lượng

phần còn lại của những năm 1930 và những năm của Thế

phần còn lại của những năm 1930 và những năm của Thế

phần còn lại của những năm 1930 và những năm của Thế Chiến II, Rickover làm nhiệm vụ kỹ thuật trên tàu và trong xưởng đóng tàu. Chiếc tàu mà ông chỉ huy, có lẽ là một trò đùa tàn nhẫn, là thứ mà một trong những cấp dưới của ông, Theodore Rockwell, gọi là “một thứ gỉ sắt tồi tệ, một tàu quét mìn già nua, chiếc Finch.”[12] Với sự sôi nổi quen thuộc, Rickover chỉ huy đội ngũ của mình làm mới chiếc Finch từ đáy tàu đến khoang lái. Từ chiếc Finch, vào năm 1937, ông đã nộp đơn ứng cử vị trí sĩ quan kỹ thuật (EDO)(38) và đã giành được nó, giữ vị trí chỉ huy bộ phận điện của Cục Tàu thủy trong thời chiến. Ông giám sát sự phát triển của một hệ thống thông tin liên lạc hồng ngoại để liên lạc với tàu trên biển vào ban đêm, thay thế tín hiệu ánh sáng có thể nhìn thấy khiến tàu Mỹ bị dính bom và ngư lôi của đối phương. Cuối chiến tranh, ông tái cơ cấu lại kho quân nhu khổng lồ của hải quân tại Mechanicsburg, Pennsylvania, giúp giảm thời gian tiếp tế phụ tùng từ vài tháng xuống còn vài ngày. Rickover là một trong năm sĩ quan hải quân được phân công tới Oak Ridge vào năm 1946 để nghiên cứu năng lượng nguyên tử và hạt nhân. Vì ông hơn hàm bốn người còn lại nên ông nắm quyền chỉ huy và chỉ đạo nghiên cứu độc lập và nghiên cứu tập thể của họ. Các nhà khoa học hải quân đã nghiên cứu động cơ đẩy hạt nhân đẩy cho tàu trong chiến tranh nhưng công nghệ đó chưa được tập trung chú ý. Bản thân dự án Manhattan là dự án của quân đội, giới quan chức hải quân quan tâm nhiều hơn tới sự thống trị của quân đội thông qua vũ khí nguyên tử mới thay vì năng lượng hạt nhân.

Rickover, sau khi nghiên cứu đề tài này, đã kết luận rằng nền tảng chiến đấu hải quân tối thượng sẽ là một tàu ngầm chạy bằng năng lượng hạt nhân, lò hơi của nó sẽ là lò phản ứng hạt nhân không cần oxy, có khả năng lặn dưới nước trong nhiều tuần liền, yên ắng và vô cùng chết chóc. Như vũ khí nguyên tử cuối cùng đã trao cho Không quân Mỹ những quả bom cần thiết để biến tham vọng chiến thắng chiến tranh bằng không quân, sẽ có nhu cầu tương tự với ngư lôi nguyên tử - và hơn thế nữa, tên lửa hạt nhân - thứ đem đến cho hải quân sức mạnh răn đe hạt nhân. Hải quân chưa ý thức được điều đó nhưng Rickover thì có. Trong ba năm tiếp theo, cưỡng lại sự chống đối to lớn từ chính hải quân, ông đã áp dụng cái ông gọi là “cách tiếp cận kiểu nha khoa” - áp lực âm thầm, không ngừng nghỉ để di chuyển răng trong miệng - để làm lung lay sự thờ ơ ngoan cố của hải quân với tàu ngầm hạt nhân. “Tuy nhiên, nhiều quan chức cấp cao,” một thành viên sau đó của nhóm Rickover ghi chép, “coi ý tưởng của Rickover như tìm cách đi lên Mặt trăng vậy.”[13] Một chiến lược quan trọng là để ông hẹn gặp cả Ủy ban Năng lượng nguyên tử lẫn hải quân, cho phép ông cùng lúc chống lại các quan chức phản đối đến từ hai phía. Rockwell nhắc lại lời ông, “Nếu hải quân không thích những gì chúng tôi làm thì chúng tôi sẽ hợp tác với AEC.”[14] Đằng nào ông cũng cần có thẩm quyền của AEC, vì chỉ có hội đồng này được ủy quyền ký hợp đồng liên quan đến vật liệu nguyên tử và bí mật nguyên tử. Nhân tiện, Rickover đã đưa ra quyết định lịch sử là làm chậm các lò phản ứng ở tàu ngầm và tàu biển lớn của mình bằng nước thay cho natri lỏng ít biết đến hơn nhưng là chất làm chậm hiệu quả hơn. Natri, ông lập luận, có những khuyết điểm cũng như ưu điểm của nó. Nó đòi hỏi che chắn cẩn thận vì nó phát ra tia gamma năng lượng cao nguy hiểm khi tiếp xúc với bức xạ. Gây khó khăn cho bảo dưỡng, nó cháy trong không khí, nổ tung trong nước và cần một tuần sau khi tiếp xúc trong một lò phản ứng để tỏa ra hết bức xạ rồi mới có thể tiếp cận để bảo trì. Quan trọng là nước thông thường là một phương tiện quen thuộc với kỹ sư hải quân, được sử dụng lâu dài trong nồi hơi và để truyền nhiệt. Rickover đã có đủ rắc rối khi xây dựng lò phản ứng đầu tiên và đã xoay xở để lắp nó vào thân tàu ngầm mà không tiên phong dùng những chất làm chậm lạ. Song lựa chọn công nghệ này đã thành công qua năm tháng. Các quốc gia khác đã đưa ra các

lựa chọn khác: nước nặng, heli, natri, chì, hoặc như tại Chernobyl là than chì với nước làm mát. Đạo luật Năng lượng Nguyên tử năm 1946 đã khiến cho năng lượng nguyên tử và tất cả các dạng thức của nó do chính phủ Mỹ nắm độc quyền. Tất cả những khám phá liên quan đến năng lượng nguyên tử là bí mật “bẩm sinh” - được coi là bí mật cho đến khi được giải mật - và hình phạt cho việc tiết lộ bí mật nguyên tử là tù chung thân hoặc tử hình. Một nhà máy điện hạt nhân nước áp lực. Nước mang nhiệt lò phản ứng đến một bộ trao đổi nhiệt để cô lập phóng xạ trong bình áp lực lò phản ứng. Từ vòng lặp thứ cấp trở ra, nó hoạt động giống hệt như một nhà máy điện thông thường. Tua-bin hơi dẫn động máy phát để tạo ra điện. Tất cả các vật liệu phân hạch trở thành tài sản của chính phủ Mỹ, giống như xác cá voi bị mắc cạn đã trở thành tài sản của các vị vua thời xưa. Không ai có thể xây dựng hoặc vận hành lò phản ứng trừ phi được chính phủ cấp phép, cũng như không được quyền sở hữu cá nhân. Quyền với năng lượng nguyên tử được trao cho một ủy ban dân sự, Ủy ban Năng lượng Nguyên tử, chịu trách nhiệm trước Tổng thống Mỹ - “ủy ban chính phủ toàn trị nhất trong lịch sử nước Mỹ,” một sử gia nhận xét.[15]

Những người đề xuất dự luật tiền thân của Đạo luật Năng lượng Nguyên tử đã lập luận rằng năng lượng nguyên tử quá quan trọng để cho quân đội độc chiếm. Rõ ràng nó cũng quá nhạy cảm để được sở hữu rộng rãi. ít người bên ngoài Dự án Manhattan và thậm chí ít cá nhân hơn trong Quốc hội biết nhiều về năng lượng nguyên tử. Hầu hết mọi người đều tin rằng bom nguyên tử là phát minh mới chứ không phải là ứng dụng của vật lý hạt nhân và ngành kỹ thuật chất nổ. Hãy giữ “những bí quyết” của bản thiết kế, để Mỹ có thể duy trì thế độc quyền trong nhiều năm hay có lẽ trong nhiều thập niên tới. Cuộc thử nghiệm bom nguyên tử của Liên Xô vào tháng 8 năm 1949 đã phá tan ảo tưởng của giới lãnh đạo Mỹ. AEC đã trả lời phép thử của Liên Xô bằng cách mở rộng việc sản xuất bom nguyên tử vượt xa con số 170 bom nguyên tử dự trữ vào năm 1949. Khi Dwight Eisenhower nhậm chức tổng thống vào tháng 1 năm 1953, chưa đầy ba tháng sau khi Mỹ thử nghiệm bom hydro đầu tiên, ông đã thừa hưởng một kho vũ khí hạt nhân chứa 841 quả bom nguyên tử.[16] Một người tin tưởng vào cân bằng ngân sách, Eisenhower quyết tâm cắt giảm chi tiêu của chính phủ. Vị cựu tướng quân làm như vậy bằng cách cắt giảm ngân sách cho quân đội chính quy và tăng cường dự trữ vũ khí hạt nhân của Mỹ, một chính sách mà Ngoại trưởng John Foster Dulles mô tả như là “động thái răn đe từ sức mạnh trả đũa ồ ạt”: ăn miếng trả miếng hàng loạt.[17] Trong một báo cáo bí mật của Hội đồng An ninh Quốc gia Mỹ tháng 10 năm 1953, NSC 162/2, Eisenhower đã xác nhận chính sách này bằng tuyên bố đơn giản đến nghẹt thở: “Trong trường hợp xảy ra chiến sự, Mỹ sẽ coi vũ khí hạt nhân là vũ khí quân dụng có thể sử dụng như các loại đạn dược khác.”[18] Chiến tranh Lạnh mà Eisenhower kế thừa là một

Bình Luận & Thảo Luận

Thảo luận cho Chương 86

Đang tải bình luận...
phần còn lại của những năm 1930 và những năm của Thế - Năng Lượng | DocTruyen.vip | DocTruyen.vip