phần cuối để đặt câu hỏi về sự phát triển của điện hạt nhân thời hậu chiến. Một vấn đề quan trọng mà nó đặt ra là lượng uranium có thể chiết xuất được trên thế giới. “Ước tính,” Bản cáo bạch cho biết, “đó là tổng lượng uranium sẵn có trong quặng cao cấp trên Trái đất vào khoảng 20.000 tấn, trong đó khoảng 10.000 tấn đang nằm ở lục địa châu Mỹ. Khối lượng đó sẽ cho phép năm lò loại lớn hơn… hoạt động liên tục trong 75 năm.”[2] Phần tiếp theo của cáo bạch chứng minh phỏng đoán đó, lưu ý nó dựa trên giả định rằng plutonium [được sinh ra trong lò phản ứng trong quá trình hoạt động từ U-238 trong uranium tự nhiên] thường xuyên được loại bỏ và sử dụng cho các mục đích khác. Những “mục đích khác” ở đây chỉ có thể là bom nguyên tử và Bản cáo bạch lưu ý rằng khoảng một pound plutonium được sản xuất trong một lò phản ứng được làm chậm bằng than chì thông thường cho mỗi pound U235 được tiêu thụ. Nếu plutonium được để trong lò phản ứng và cho phép phân hạch, Bản cáo bạch tiếp tục - không mấy khả thi khi Mỹ vẫn tiếp tục chế tạo bom nguyên tử, thì việc cung cấp nhiên liệu cho lò phản ứng sẽ kéo dài gấp 140 lần - năm lò phản ứng sẽ tồn tại 10.500 năm, hoặc, nếu plutonium được chiết xuất và sử dụng để cung cấp nhiên liệu cho các lò phản ứng bổ sung thì ta có bội số của năm lò phản ứng trong một khoảng thời gian ngắn hơn. Mặc dù vậy, khả năng ứng dụng năng lượng hạt nhân trên quy mô lớn vẫn không mấy sáng sủa: chỉ dựa vào dự trữ đã được chứng minh theo Bản cáo bạch, ”năng lượng có sẵn trong 10.000 tấn uranium sẽ không đủ để cho phép nguyên liệu này thay thế than và các vật liệu dễ cháy khác, hay thủy điện, như một nguồn năng lượng.”[3] Bản cáo bạch ước tính rằng lượng tiêu thụ than của Mỹ lúc đó lên tới khoảng một tỉ tấn mỗi năm. Việc phân
hạch uranium cho năng lượng mạnh hơn than ít nhất gấp một triệu lần, 10.000 tấn uranium - toàn bộ lượng dự trữ của Mỹ được các nhà khoa học biết đến vào năm 1944 - sẽ tương đương với mười tỉ tấn than, nghĩa là, bằng mười năm năng lượng than. Trước dự đoán ảm đạm đó, Bản cáo bạch đánh giá rằng “có khả năng” sẽ có phương pháp chiết xuất uranium từ các quặng cấp thấp hơn. Nó đề cập đến thorium như một nhiên liệu lò phản ứng thay thế với trữ lượng dồi dào hơn nhiều. (Nó chưa được ứng dụng thương mại làm nhiên liệu lò phản ứng.) Báo cáo thậm chí suy đoán về phản ứng tổng hợp nhiệt hạch hạt nhân hydro có kiểm soát để tạo năng lượng như về sau được phát triển, “từ đó cho phép dùng nước trong tất cả các đại dương làm nguồn nhiên liệu hoặc năng lượng.” Nhưng Bản cáo bạch đánh giá khả năng đó “với viễn cảnh u ám không kém” (không có nghĩa là tuyệt vời hoặc ngay tương lai gần). (Hơn 80 năm sau, ngành năng lượng hạt nhân vẫn vậy. Phản ứng nhiệt hạch hạt nhân - khai thác sự hợp nhất của các nguyên tố nhẹ chứ không phải sự phân hạch của các nguyên tố nặng - là một vấn đề cực kỳ hóc búa, vì nó tạo ra nhiệt độ hàng triệu độ trong một vật chứa kín. Tính đến năm 2018, không có lò phản ứng nhiệt hạch thử nghiệm nào tiến xa hơn mức hòa vốn - có nghĩa là không sản xuất được nhiều năng lượng vượt xa so với tổng năng lượng dùng dể chạy lò phản ứng.) Bản cáo bạch không được chú thích. Nó không xác minh được nguồn thông tin ước tính thấp và không chính xác về lượng quặng uranium trên Trái đất đó là từ đâu. Ngay cả khi nó đang được viết, Tướng Leslie R. Groves, người điều hành Dự án Manhattan đã chỉ đạo một tổ chức bí mật có mật danh là Dự án Hill Area (tiếp tục dự án Manhattan) để xác định mọi nguồn dự trữ quặng uranium trên thế giới đã thăm dò và mua lại quyền khai thác khoáng sản. Sự đầu tư đó sẽ mở rộng ra đến hơn 50 quốc gia. Bản thân Dự án Manhattan phụ thuộc rất nhiều vào hai nguồn uranium: mỏ Shinkolobwe tại nơi mà lúc đó là Congo thuộc sở hữu của Bỉ ở Trung Phi và mỏ Eldorado trên hồ Great Bear ở tây bắc Canada. Nhưng Groves nhận thức rõ rằng có uranium trên cao nguyên Colorado, một thành