phần vì Midgley ngụ ý trong một báo cáo dè chừng năm 1925 về những tác động độc hại của chì, “đặc biệt cảnh báo về sự nguy hiểm của việc sử dụng nó [so với làm nhiên liệu], chẳng hạn như để rửa các bộ phận động cơ, rửa các bộ phận cơ thể con người, cho mục đích nấu ăn, v.v.”[49] Nhiều dự án phát triển tiếp theo được tiến hành, Midgley nhớ lại. Họ biết rất ít về khám phá có tính đột phá này. “Chúng tôi bắt đầu chi nhiều tiền hơn, nghiên cứu thêm và tìm kiếm các nguyên tố khác để kết hợp với chì tetraethyl, để tạo nên một hợp chất phù hợp cho thương mại.”[50] Trong khi đó, các nhà hóa học hướng đến việc sản xuất sớm. Xăng ethyl đã được bán công khai lần đầu tiên tại một trạm nhiên liệu ở Dayton, Ohio, vào ngày 2 tháng 2 năm 1923.[51] Doanh số bán đã cất cánh khi những chiếc xe ở giải đua Indianapolis 500 năm đó, dùng những động cơ nhỏ hơn so với các giải đua trước đó, đều dùng xăng ethyl, các xe chiến thắng có vận tốc trung bình gần 150 km/h trên quãng đường đua dài 800 km.[52] Công ty Standard Oil của New Jersey và General Motors đều sở hữu bằng sáng chế cho phương pháp sản xuất chì tetraethyl, một hợp chất được biết đến từ những năm 1850. Năm 1924, họ đã hợp tác để thành lập một công ty mới, Công ty Xăng dầu Ethyl, để sản xuẩt và bán sản phẩm mới. Kettering trở thành chủ tịch công ty; Midgley là phó chủ tịch thứ hai kiêm tổng giám đốc.[53] Đến giai đoạn đó, Standard Oil và DuPont đang sản xuẩt chì tetraethyl tại hai xưởng sản xuất: Standard ở Bayway, New Jersey; DuPont Ở Deepwater, New Jersey. Và các thử nghiệm này chưa gì đã gây tai nạn. Con người biết chì là một chất có độc từ thời Cổ đại. Nó khiến bản thân Midgley và ba đồng nghiệp khác đổ bệnh vào mùa đông năm 1922-
1923, khiến Midgley phải bỏ ra một tháng ở Florida hồi phục. Kinh nghiệm đó vẫn chưa đủ để cảnh báo ông, rồi một vụ nổ trong phòng thí nghiêm bắn chì vào mắt ông cũng vây - vụ tai nạn khiến ông phải rửa mắt bằng thủy ngân để lấy chì ra.[54] Trong bài báo ông xuất bản năm 1925 để bảo vệ phát hiện của mình, ông lưu ý rằng các triệu chứng ngộ độc chì tetraethyl đặc trưng bao gồm “tụt huyết áp, giảm nhiệt độ cơ thể, giảm mạch, mất ngủ, sụt cân, đôi khi buồn nôn, run rẩy, và trong trường hợp nghiêm trọng nhất, chứng mê sảng run rẩy xuất hiện.(27)” [55] Dấu hiệu cực đoan nhất của ngộ độc chì tetraethyl là cái chết đau đớn. Bác sĩ y học công nghiệp tiên phong người Mỹ Alice Hamilton và hai đồng nghiệp đã mô tả sự đau đớn cực độ trong một báo cáo năm 1925 cho Journal of the American Medical Association (JAMA), dựa trên các vụ việc gần đây ở GM và DuPont: Xuất hiện các triệu chứng của tổn thương não sâu sắc như mất ngủ kéo dài, bồn chồn, nói nhiều và hoang tưởng. Dáng đi giống như của người say rượu nhưng không có tê liệt hoặc co giật. Cuối cùng, sau khi tất cả các cơ của cơ thể hoạt động quá mức và đổ mồ hôi, bệnh nhân trở nên điên cuồng dữ dội, la hét, nhảy khỏi giường, đập phá đồ đạc, và hành động như thể trong cơn mê sảng run rẩy; morphine chỉ làm triệu chứng trầm trọng hơn. Bệnh nhân cuối cùng có thể chết trong kiệt sức. Trong hai trường hợp tử vong, nhiệt độ cơ thể người bệnh tăng lên 43°C ngay trước khi cái chết xảy ra. Một trong số đó là một chàng trai trẻ khỏe mạnh cường tráng chỉ mới làm việc được năm tuần. Người ta nói anh ấy đã phải chịu đau đớn khủng khiếp. ‘Chết trong cơn la hét.’[56] Một công nhân của DuPont Deepwater bị ngộ độc chì và qua đời vào tháng 9 năm 1923, thêm ba người nữa vào mùa hè và mùa thu năm 1924. Phòng thí nghiệm Kettering và Midgley ở Dayton ghi nhận thêm hai trường hợp tử vong vào tháng 6 năm 1924. Năm công nhân của Standard Oil Bayway đã chết vì phơi nhiễm chì vào tháng 9 năm 1924, và 44 người phải nhập viện - một đại thảm họa. Bốn công nhân DuPont nữa chết vào mùa đông năm 1925. “Tờ New York World đã tham gia cuộc thập tự chinh chống lại chất độc nguy hiểm này,” Alice Hamilton nhớ lại trong cuốn tự truyện của mnh; “đã
có sự hoảng loạn lan rộng về việc sử dụng xăng pha trộn liên quan đến rủi ro cho cộng đồng; vài bang vội vã cấm bán ‘xăng ethyl’, các quốc gia nước ngoài đe dọa cấm nhập khẩu nó. [57] Tờ New York Times và các tờ báo khác tường thuật vụ việc chi tiết qua các năm giữa thập niên. Kettering báo cáo rằng hội đồng quản trị của Standard Oil “đang chìm trong một bầu không khí hoang mang. Các giám đốc rất lo sợ về diễn biến này, họ không biết điều gì sẽ xảy ra với họ.”[58] Midgley phàn nàn với một đồng nghiệp rằng “chì thải qua ống xả chẳng đáng là bao để phải lo lắng,” nhưng “không ai biết Quốc hội sẽ ban bố điều luật gì mới” sau những cái chết gần đầy. Ông chắc chắn rằng bất kỳ bộ luật nghiêm cấm chất phụ gia nào “cũng được thúc đẩy từ [việc] cạnh tranh phe phái và lũ cuồng sống xanh.”[59] Cơ quan Dịch vụ Y tế Công cộng Mỹ cần một nghiên cứu khoa học để thiết lập mức độ độc hại của xăng pha chì, họ giao cho Cục Khai mỏ vì nghiên cứu này liên quan đến sản phẩm dầu khí. Midgley và Kettering đã tiếp cận Cục Khai thác mỏ một cách độc lập để thực hiện một nghiên cứu, yêu cầu họ gọi sản phẩm đang được nghiên cứu là “ethyl,” để tránh sự công khai không cần thiết và General Motors được phép bình luận, phê bình và phê duyệt kết quả.[60] Cục đã thực hiện một nghiên cứu thực nghiệm giữa tháng 12 năm 1923 và tháng 7 năm 1924, thí nghiệm lên nhiều loại động vật - như thỏ, chuột lang, bồ câu, chó, khỉ - ở mức độ thấp của khí thải động cơ xăng pha chì, tương đương mức giới hạn khí thải được phép trong Đường hẩm Hà Lan đang được xây dựng dưới sông Hudson giữa New York và New Jersey. Các con vật thí nghiệm được cho tiếp xúc với khí thải trong một buồng lớn, có lỗ thông hơi tốt, không có bụi chì trong khoảng thời gian từ ba tuần đến hơn năm tháng. Không có gì bất ngờ, giống như công nhân của Đường hầm Hà Lan, không ai hay con vật thí nghiệm nào chết vì ngộ độc chì. Kết quả là New York và New Jersey hủy bỏ lệnh cấm của họ đối với chì tetraethyl.[61] Trong báo cáo JAMA năm 1925, Hamilton và các đồng nghiệp đã chỉ trích nghiên cứu của Cục Khai thác mỏ. “Thời gian tiếp xúc của động vật quá ngắn,” họ kết luận, “và phương pháp được sử dụng không đủ để tạo ra kết quả thuyết phục.” Nghiên cứu tuyên bố, họ viết, “rằng ‘mối nguy hiểm duy nhất của ngộ độc chì từ các sản phẩm đốt từ xăng ethyl dường như chỉ xảy ra với những người thợ liên tục làm sạch carbon trong động cơ.’” Họ
bất đồng ý kiến. Họ nghĩ rằng bằng chứng này cho thấy mối nguy hiểm thực sự của ngộ độc chì mạn tính từ các quy trình trong xưởng và đáng kể hơn, “nguy hiểm có thể xảy ra với cộng đồng từ bụi chì trên đường phố của các thành phố lớn.”[62] Kettering di thuyển đến châu Âu vào mùa đông để khám phá các lựa chọn thay thế cho chất phụ gia của mình. (Một công ty con của gã khổng lồ hóa học nước Đức IG Farben, BASF, chỉ cho ông một lựa chọn mới, sắt carbonyl, mà không cho biết chi tiết về nó. Ông đã nhận biết ra chất đó và đăng ký bằng sáng chế ở Mỹ sau khi trở về Mỹ. Một bước đi được BASF đánh giá là “rất sắc sảo.”[63]) Kettering gặp Bác sĩ phẫu thuật General Hugh S. Cumming vào tháng 12 năm 1924. Cumming giờ đã có trong tay nghiên cứu của cục. Hai người đồng ý rằng một hội nghị của các bên quan tâm sẽ là một ý tưởng tốt. Cumming kêu gọi một tuần gặp gỡ vào tháng 5 năm 1925. Hơn 100 nhà công nghiệp, nhà hóa học, lãnh đạo lao động và các bác sĩ đã được mời.[64] Là bên quan tâm kiêm chủ tịch của tập đoàn có sản phẩm đang bị xem xét, Kettering nổi bật trong số các diễn giả chính, hầu hết trong số họ là các quan chức chính phủ.[65] Ông đã xem xét lịch sử tiếng gõ của động cơ, thảo luận về bỏ cồn và các chất phụ gia khác nhưng nhấn mạnh nguồn cung hạn chế của chúng. Frank Howard, phó chủ tịch nghiên cứu của công ty Ethyl, sau đó đã nói chuyện say mê hơn. “Công việc phát triển nhiên liệu động cơ đang tiếp diễn của chúng tôi là điều cần thiết cho nền văn minh của chúng ta,” ông thú nhận. “Bây giờ, sau mười năm nghiên cứu… chúng ta có món quà rõ ràng này từ Chúa cho phép chúng ta [tiết kiệm dầu]… chúng ta không thể đối mặt với lương tâm của chính mình nếu quay lưng lại với nó.” Grace Burnham McDonald, người sáng lập kiêm giám đốc của Cục Sức khỏe Người lao động, phản bác rằng “đó không phải là món quà của Chúa đối với [công nhân] người bị giết bởi nó và [nhiều công nhân nữa] đã bị thương.” Alice Hamilton chuyển sang khẩn cầu các nhà hóa học “tìm nguyên liệu thay thế khác… Tôi hoàn toàn không sẵn lòng tin rằng chất duy nhất có thể được sử dụng để loại bỏ tiếng gõ động cơ là chì tetraethyl.[66] Các nhà tổ chức đã quyết định cắt ngắn cuộc họp, nhấn mạnh rằng trọng tâm của họ chỉ là với chì tetraethyl, chứ không phải cồn và các lựa chọn thay thế khác.[67] Hội nghị đã được lên kế hoạch trong một tuần
nhưng phải hoãn lại chỉ sau một ngày. Một ủy ban bác sĩ phẫu thuật được chỉ định điều tra sau vào mùa hè năm 1925. Ủy ban nhận thấy rằng “không có căn cứ vững chắc nào để cấm sử dụng xăng ethyl.”[68] Như sử gia về nhiên liệu William Kovarik lưu ý trong nghiên cứu nhiều tranh cãi về chì tetraethyl, hầu hết sự gia tăng chỉ số octan nhiên liệu trong những thập niên tiếp theo không đến từ phụ gia mà từ cải tiến công nghệ lọc dầu và từ pha trộn. Midgley và Kettering đã nhận thức được lợi nhuận tiềm năng từ việc loại bỏ một chất phụ gia được cấp bằng sáng chế thay vì thêm cồn không được cấp giấy phép vào nhiên liệu của động cơ. “Cách tôi cảm nhận về tình hình Xăng Ethyl,” Midgley viết cho Kettering vào đầu tháng 3 năm 1923, “là có vẻ như chúng ta có thể chiếm tối thiểu 20% lượng xăng bán trong nước nếu chúng ta quảng cáo và lao vào cơ hội kinh doanh này… ở mức lời ba xu trên một gallon bán được.” Theo tính toán của Kovarik, mức tối thiểu đó vào thời điểm này đại diện cho khoảng hai tỉ gallon xăng, tương đương 60 triệu đô-la mỗi năm (837 triệu đô-la ngày nay).[69] Cả hai người đàn ông cũng nhận thức được sự sụt giảm cả nguồn cung lẫn chất lượng của xăng Mỹ. Họ đã nghĩ đến công thức của Harold Hibbert. Kettering đặc biệt thúc đẩy các động cơ nhỏ hơn, nén cao hơn đang hoạt động với xăng pha cồn. Midgley trong bản báo cáo bảo vệ chì tetraethyl năm 1925, liệt kê “tiết kiệm dầu mỏ” đầu tiên trong những lý do cho việc phát triển nó.(28) Nhưng lý tưởng của họ, nếu thật như vây, đã mâu thuẫn với một phong trào lớn hơn trong cuộc sống của người Mỹ đối với những gì Thorstein Veblen năm 1899 gọi là “tiêu dùng thả phanh.” Với việc tiếng gõ động cơ không còn là vấn đề nữa, động cơ đốt trong về cơ bản được hoàn thiện, General Motors có thể chế tạo hiệu quả hơn những chiếc xe có tốc độ cao hơn hoặc to hơn, mạnh hơn. Trong cuộc chiến để vượt mặt Ford, dòng xe đại diện cho tính hiệu quả, General Motor đã chọn công suất. Không có động cơ hơi nước hoặc ô tô điện được trưng bày tại Triển lãm Ô tô Quốc gia 1924, và ngoại trừ một chút quan tâm đến cồn nông trại trong cuộc Đại Suy thoái, các nhà sản xuất nhiên liệu đã từ bỏ dùng cồn làm chất thay thế hoặc phụ gia cho 50 năm tiếp theo. Đến năm 1936, 90% lượng xăng của Mỹ là xăng pha chì. Tiêu thụ nội địa của chì tetraethyl đạt mức 2,3 triệu tấn vào năm 1956. Năm 1959, Cơ
quan Dịch vụ Y tế Công cộng Mỹ ủng hộ đề nghị của Công ty Ethyl tăng hàm lượng chì trong xăng từ 3cc đến 4cc mỗi gallon - vì các nhà tinh chế đã chạm ngưỡng trong việc cải thiện nhiên liệu thông qua tinh chế và hiện đang mất năng suất để giữ chỉ số octan.[70] Dịch vụ Y tế Công cộng đã làm như vậy mặc dù có khiếu nại của ủy ban bác sĩ chỉ định nghiên cứu vấn đề mà “kể từ cuộc điều tra năm 1925, không có nghiên cứu tiếp theo với nhóm dân số lớn về việc thêm chì tetraethyl vào xăng ảnh hưởng đến tổng thể sức khỏe con người như thế nào.”[71] Đến năm 1963, hơn 98% xăng dầu của Mỹ là xăng pha chì. Một thập niên sau đó, chì cuối cùng đã bị loại bỏ khỏi nguồn cung cấp xăng dầu của Mỹ. Nó bị loại bỏ vì phá hoại bộ chuyển đổi xúc tác mới được thiết kế để chống lại sương khói, một vấn đề ô nhiễm không khí mới, không phải vì nó được coi là mối nguy hiểm gây ô nhiễm. Tuy nhiên, rất lâu trước đó, mặc dù có sự gia tăng các nhà cung cấp dầu Mỹ với chất phụ gia độc hại, Mỹ đã biến dự đoán của nhà hóa học người Anh Harold Hibbert thành sự thật. Nội dung của nó là “nước Mỹ sẽ phải bỏ ra một khoản tiền khổng lồ hằng năm để có được nguồn cung dầu thô từ Mexico, Nga, và Ba Tư.”[72] Ba Tư - Iran - chắc chắn, và Mexico cũng vậy, nhưng nhiều nhất phải là Arab Saudi, một vương quốc chưa bừng tỉnh đang chỉ có lạc đà và cát.
C 16 THỢ HÀN MỘT TAY uối năm 1933, một nhóm nhỏ các kỹ sư dầu khí Mỹ đã đến Arab Saudi theo sự sắp xếp với Abdul Aziz Ibn Saud, nhà vua mới. Ibn Saud là một người đàn ông khổng lồ, cao một mét chín, vai rộng và tay to, một kỵ sĩ cưỡi lạc đà kiêm chiến binh, vô cùng tự tin, cam kết phát triển vương quốc bị xóa sổ mà ông đã giành được bằng mưu đồ và trong trận chiến suốt 30 năm qua.
Arab Saudi nằm giữa châu Phi và châu Á Arab Saudi trở thành một quốc gia chính thức vào năm 1932 theo chế độ quân chủ chuyên chế: 2,2 triệu km², gấp hơn ba lần so với kích thước của Texas, dân số chỉ khoảng 2,5 triệu người,