phần lớn việc sử dụng ngựa trong giao thông công cộng. Ngựa tiếp tục cung cấp sức kéo công cộng, giao hàng hóa, và sản xuất năng lượng quy mô nhỏ. Trên thực tế, số lượng ngựa đô thị tăng chứ không giảm.[32] Chỉ có sự phát triển của động cơ đốt trong và ứng dụng của nó để cung cấp năng lượng cho xe hàng và ô tô trong giai đoạn 1900-1915 mới thay thế ngựa đô thị bằng phương tiện giao thông cơ khí. Trong quá trình chuyển đổi, sử gia Ann Norton Greene đã phát hiện ra rằng, động vật từng dại diện cho những hầu cận kiên nhẫn, khiêm tốn của nhân loại, trong thời khắc của những con ruồi đang biểu diễn những vũ điệu vui vẻ, bỗng được miêu tả là “thứ súc sinh vô ơn ngang bướng. Ngựa báo ơn chăm sóc của con người bằng cách đá, lồng lên, và gây tai nạn.” Một tạp chí mới nổi tiếng được thành lập vào năm 1895 mang tên Horseless Age, chuyên về ô tô, tuyên bố rằng “hiếm khi một ngày trôi qua mà không có người vô tội nào bị giết hoặc bị thương trong cơn hoang dại của những con thú không thể chế ngự này… Những tai nạn đáng sợ này hoàn toàn có thể được ngăn chặn. Xe cơ giới sẽ làm điều đó.”[33] Cuối cùng, xe cơ giới đã làm được đúng như vậy. Tuy nhiên, không phải ô tô mà là xe điện nội đô và nối giữa các thành phố đã mở ra mối quan hệ cộng đồng ngầm bắt đầu phân tách các khu ngoại ô trung lưu khỏi khu vực của tầng lớp lao động. Thế kỷ mới sẽ là điện, mặc dù điện sẽ được tạo ra bằng than bẩn thay vì thủy điện sạch. Thế kỷ 20 không sáng bừng rực rỡ như các tờ báo lạc quan dự đoán, một thế giới hiện đại khoác lên diện mạo mới mẻ nhưng cũng là thế giới nơi khói sương vẫn nhuộm đen bầu trời đô thị.
Ở 14 CÁC CỘT KHÓI ĐEN đâu có lửa, ở đó có khói. “Các thị trấn đông đúc của chúng tôi ngoài những ngọn lửa nhà dân nay có thêm những đám mây đen mà xưởng sản xuất đổ lên không trung như thể không khí là của riêng họ vậy,” John W. Graham, một nhà toán học người Anh và nhà hoạt động thuộc Hiệp hội Giáo hữu đã viết vào năm 1907. [1] Trong tất cả các năm kể từ khi than bắt đầu thay thế gỗ làm chất đốt gia dụng, cho nhà máy, trạm điện, động cơ đường sắt, bầu không khí đã trở thành của chung, ai cũng dùng được. Tiêu thụ gỗ đạt đỉnh ở Mỹ ở mức 70% vào năm 1870. (Nó đã đạt đỉnh điểm ở nước Anh trước đó một thế kỷ.[2]) Ba mươi năm sau, năm 1900, than cung cấp 70% nhu cầu năng lượng của Mỹ và tiêu thụ gỗ giảm.[3]” Khoảng 80% người dân sống trong các thị trấn của chúng ta phải sống dưới một tầng khói đen,” nhà hoạt động người Anh than thở. Tỉ lệ này vẫn chưa đáng gì tại một nước Mỹ vẫn chủ yếu theo nông nghiệp, nhưng các thành phố lớn thì đã có thừa khói bụi.”[4] Thời nay có thể khó hình dung mức độ ô nhiễm khói của thành phố vào cuối thế kỷ 19. Sương mù quang hóa, sự kết hợp của oxid nitơ và chất hữu cơ dễ bay hơi điển hình của thời đại ô tô, vẫn chưa phải là hung thủ chính. Từ sương khói (smog) xuất hiện vào năm 1905 là sự kết hợp giữa khói (smoke) và sương (fog). Khói từ đốt than, đặc và màu nâu hoặc màu đen, là chất ô nhiễm đặc trưng đương thời. Ở các thành phố dễ bị thay đổi thời tiết, nó có thể biến ngày thành đêm tối. Tuy nhiên, khói ban đầu không được coi là một mối nguy hiểm độc hại. Với các nhà công nghiệp thế kỷ 19 và nhiều công dân trung lưu cũng vậy, khói than là cái giá của sự tiến bộ, “một hệ quả tất yếu và vô hại,” trích lời một sử gia. “Môi trường không ô nhiễm khói vẫn được nhiều người coi là một mục tiêu không tưởng, và những người phản đối thường bị coi là
những kẻ khó chịu, quấy rầy những người làm việc tốt: ‘những kẻ kỳ quặc hòa nhã và viển vông.’”[5] Ngay cả Gifford Pinchot, nhà bảo tồn nhiệt huyết đồng thời là giám đốc đầu tiên của Sở Lâm nghiệp Mỹ, cũng tin rằng than đá là “huyết mạch sống còn của nền văn minh này.”[6]
Sương mù tháng 11 vào ban ngày ở London khoảng năm 1872. Trẻ em đường phố cung cấp dịch vụ cầm đuốc soi đường. Vị thanh tra khói năng nổ của Chicago từ năm 1894 đến năm 1897, Frederick Upham Adams, một nhà cải cách xã hội sinh ra ở New York kiêm nhà phát minh, nhà báo, và tiểu thuyết gia, chia dân số Chicago thành hai nhóm: “những người tạo ra thứ khói phiền toái” và “những người bị buộc phải chịu đựng nó.” Theo ông, những người tạo khói đã kiên quyết rằng “khói là thứ không thể thay thế, là thứ đi đôi của uy quyền thương mại và sản xuất ở Chicago,” và “khói đó không chỉ không có hại cho sức khỏe mà còn là một chất khử trùng.” Đối thủ của họ tuyên bố ngược lại rằng khói mù “làm tăng đáng báo động các bệnh về họng, phổi và mắt,” và “làm hỏng thảm, tranh vẽ, vải vóc, phủ đầy bồ hóng lên mặt tiền của các tòa nhà, và biến bầu trời thành biển khói.” Có 15.000 nồi hơi trong nội thành thời đó, Adams lưu ý, ít nhất 12.000 nồi đốt than mềm. Chúng rải rác trên 480 km², và khiến cho không có cây cỏ nào còn cùng màu với nhau.[7] Con người chết với số lượng lớn hơn vì khói lưu cữu, nhưng tỉ lệ tử vong cao thường được gán cho thời tiết mùa đông lạnh thay vì bởi tác hại của khói đến phổi. Cái lạnh sương giá hẳn mới là sứ giả thần chết chứ sao là khói được, người ta sống với khói từ ngày này qua ngày khác mà có chết được đâu.[8] ”Than tràn ngập mọi ngóc ngách của các thành phố công nghiệp Mỹ,” sử gia David Stradling viết. “Mọi tầng lớp cư dân nhìn thấy nó, cầm nó, mua nó, và ngửi khói bụi của nó. Người dân biết phân biệt than tốt than xấu và loại nào đốt tốt nhất trong lò của họ. Họ biết tên của các mỏ và khu vực khai thác đã dán nhãn cho những viên kim cương đen mà họ sản xuất. Chủ nhà trung lưu mua than theo tấn và cất trong thùng dưới tầng hầm. Người lao động nghèo mua theo xô và sử dụng một cách tiết kiệm trong bếp lò của họ cho sưởi ấm và nấu ăn. Người nghèo dưới đáy xã hội bới tro rác để tìm kiếm các mẩu than chưa cháy hoặc nhặt đường ray tìm than rơi ra từ toa tàu.”[9] Than và khói của nó, giống như ngựa và phân của chúng, là những thứ thường nhật đã biến mất khỏi cuộc sống hiện đại trong các xã hội công nghiệp hiện đại. Để hình dung được khói than vào đầu thế kỷ này đã hủy hoại các thành phố của Mỹ và Anh như thế nào thì ô nhiễm không khí ở Bắc Kinh, Trung Quốc ngày nay là một sự so sánh tương đương. Nó cũng nhắc nhở ta rằng xã hội phát triển trước nhất và sau đó, khi nhu cầu thường
nhật của công dân của họ không được đáp ứng, ô nhiễm mới được xử lý. Trong Triển lãm Thế giới ở Chicago năm 1893, chính quyền tạm thời chuyển sang sử dụng dầu nhiên liệu (qua đường ống từ Lima, Ohio) cho phát điện để giảm ô nhiễm khói trên các khu hội chợ. Tương tự, Bắc Kinh đóng cửa các nhà máy để giảm ô nhiễm khói tại thời điểm Thế vận hội Olympic mùa hè 2008.[10] Quang cảnh khói giữa ban ngày ỏ Toronto, Canada, năm 1904, nhìn từ bến cảng vào thành phố. Người Mỹ khai thác hai loại than: than mỡ mềm, nhiều bồ hóng, khoảng 60% đến 70% carbon; và than anthracite sạch, cứng, 92% đến 98% carbon. Vì nồng độ tạp chất cao, than mỡ sinh nhiều khói; còn than anthracite đốt sạch. Một khu vực giàu anthracite được biết đến ở Mỹ nằm ở phía đông Pennsylvania, trước khi những khu khai thác nhỏ hơn xuất hiện ở Colorado và New Mexico. Khi người dân ở các thành phố phía đông đã học được cách đốt than anthracite trong lò sưởi - nó cũng cần một cái giá chân cao để giữ lửa cháy - dân ở đây sẵn sàng trả giá cao cho thứ than cứng này. Ngành thương mại than phát triển ở phía đông nước Mỹ
trong khoảng thời gian từ năm 1820 đến năm 1860 chủ yếu là than anthracite. Do đó, Boston, New York và Philadelphia tương đối sạch hơn các thành phố của Anh, mặc dù các chất ô nhiễm từ luyện kim, giết mổ và các ngành công nghiệp khác tiếp tục gây ô nhiễm không khí và nguồn nước của họ. Trong số các thành phố của Mỹ, Pittsburgh là nơi khói mù nhất, một