phần vào sông Niagara bên dưới thác. Các tua-bin được kết nối trở lại với máy phát điện 5.000 mã lực xếp thành hàng trên sàn của nhà máy điện nằm phía trên, quay máy phát và sản sinh ra điện. Điện sau đó được chuyển đến một nhà máy biến áp, đạt mức 11.000 volt và được truyền dẫn đến Buffalo.
Điện bắt đầu chính thức phát từ thác Niagara vào ngày 25 tháng 8 năm 1895, trước tiên được truyền cho một nhà máy chế biến nhôm lân cận(24) . Trong vòng một năm, điện đã được truyền xa khỏi Buffalo 640 km đến Thành phố New York. Đến năm 1905, Thủy điện Niagara đã sản xuất 10% tổng sản lượng điện ở Mỹ.[65] Khi nhà máy điện thứ hai bắt đầu hoạt động vào năm 1904, nhà máy sản xuất điện Niagara đã nâng sản lượng thành 100.000 mã lực - bằng với tổng công suất năng lượng được tạo ra trên toàn bộ nước Mỹ từ các nơi khác.[66] Điện xoay chiều đã giành chiến thắng trong Cuộc chiến Dòng điện. Ngay cả Edison cũng phải miễn cưỡng sản xuất thiết bị dành cho nó. Mô tơ lớn và nhỏ, cho đến mô tơ cho máy may, bắt đầu thay thế tay biên và dây đai truyền năng lượng không hiệu quả từ động cơ hơi nước. Tuy người dân nông thôn vẫn còn đọc sách và nấu ăn bằng dầu hỏa, đèn điện đã được thắp sáng trong chốn đô thị trên toàn thế giới.
Ắ Ủ Á Á
MẶT CẮT NGANG CỦA MÁY PHÁT ĐIỆN NIAGARA Nước vào phía trên bên phải (4), đổ xuống van của phai, quay tua-bin (7) ở dưới cùng của bánh xe hồ, và thoát ra theo đường hầm bên (8). Trục tua-bin (10) quay máy phát điện trong nhà tua-bin ở mặt đất phía trên. Đường hầm dẫn nưôc chính với lối vào hầm kế bên. Để dễ hình dung quy mô, hãy so sánh với kích thước của người đứng cạnh lối vào.
N 13 MIẾNG PHO-MÁT VĨ ĐẠI MÀU VÀNG gựa hiện diện trên mọi con phố cách đây một thế kỷ rưỡi, quang cảnh đó hầu như biến mất hoàn toàn ngày nay, ngựa là vật kéo chính thường bị bỏ qua trong các giai đoạn của lịch sử năng lượng. Tuy nhiên ở Manhattan vào cuối những năm 1900, với 1,8 triệu người chiếm một diện tích khoảng 60 km², có đến 130.000 con ngựa chen nhau trên hòn đảo hẹp này. [1] Ngoại trừ lực lượng cảnh sát cưỡi ngựa và người tập cưỡi ngựa ở Công viên Trung tâm, rất ít người trong thành phố cưỡi trên lưng ngựa. Những con ngựa của Manhattan, như trong tất cả các khu vực đô thị của Mỹ và châu Âu, kéo những cỗ xe hai bánh và bốn bánh, xe khách hai tầng và xe khách đường ray, xe kéo và xe toa. Ngoài hành khách, chúng còn giao sữa, thực phẩm, đồ giặt ủi, bia, nước đá, than, xe cứu hỏa và xe phun nước, cũng như vận chuyển tuyết và phân của chính chúng khỏi đường phố. Vào thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 19, xe khách đường ngắn đưa người từ nông thôn vào các thành phố lớn hơn của Mỹ. (Ở các thành phố và thị trấn nhỏ hơn, mọi người đi bộ. “Giai đoạn tiền công nghiệp thì ‘thành phố đi bộ,’” theo ghi chép của sử gia Ann Norton Greene, “luôn giữ quy mô nhỏ gọn vì khoảng cách một người có thể đi bộ thường xấp xỉ hai dặm.”[2]) Xe khách nhanh chóng phát triển thành xe hai tầng lớn hơn trong những năm 1830. Những chiếc xe ngựa kín này có sức chứa 12 đến 28 hành khách, bảo vệ họ khỏi thời tiết, ngồi đối diện và quay lưng về phía cửa sổ, cách nhau một lối đi chung ở giữa. Đến năm 1852, tại Hạ Manhattan, khoảng 30 công ty điều phối hơn 700 xe khách hai tầng. Giá vé không hề rẻ: một vé 12 xu, trong khi công nhân kiếm được một đô-la và thợ thủ công cũng chỉ hai đôla mỗi ngày, làm xe khách chỉ dành cho giới doanh nhân, các lao động trí thức bậc cao trẻ tuổi và gia đình của họ.[3]
Chợ Gansevoort, Thành phố New York, năm 1907 Đặt xe hai tầng trên đường ray cho phép tăng số lượng hành khách mà ngựa có thể chuyên chở và cải thiện việc đi xe. Năm 1856, khi Hội đồng Thành phố New York đánh giá đầu máy hơi nước trên đường phố là nguy hiểm và cấm chúng đến Đường 42, đường sắt kéo ngựa đã thay thế chúng. Đường ray được đặt phẳng so với mặt đường đã thay thế các đường ray nhô lên làm hư hại xe riêng và làm phiền những người đánh xe khác.[4] Chủ sở hữu đường ray đã đặt mua những cỗ xe lớn hơn, nhẹ hơn để tăng lượng khách: nhận thêm hành khách mỗi chuyến có nghĩa là họ có thể giảm giá vé. Một tuyến đường sắt như vậy lưu thông hơn 3,5 triệu chuyến đi giữa Thượng và Hạ Manhattan vào năm 1859.[5] Thành phố Boston cũng có lưu lượng giao thông tương tự mặc dù đường phố chật hẹp và đông đúc. Ở mỗi thành phố Mỹ thế kỷ 19, sự thiếu vắng kiểm soát giao thông làm cho tình trạng ùn tắc hỗn loạn trở nên tồi tệ hơn.[6] Cảnh sát giao thông và đèn giao thông có lẽ là những đổi mới sáng tạo của thế kỷ 20.
Xe khách hai tầng. Đi trên đường đá cuội sẽ rất khó chịu. Tải nặng hơn đòi hỏi ngựa to hơn. Các kỹ sư ngày nay thiết kế máy móc hiệu quả kích cỡ thu nhỏ để đáp ứng hầu hết các nhu cầu của con người, từ vi mạch đến máy bay chở khách. Trong thời đại trước, động vật được chăn nuôi và lai giống để phục vụ cho mục đích như vậy: cừu cho thịt cừu và len; gia súc để lấy thịt, sữa; bò cho sức kéo; chó có cả hàng nghìn công dụng lớn, vừa và nhỏ, từ chăn cừu, đến bảo vệ tài sản, tới săn hươu hoặc chuột trong trang trại; và ngựa để vận chuyển, để đua, cho sức kéo, hoặc để tạo ra sức mạnh cố định bằng cách kéo cối xay. Những con ngựa của thành phố thế kỷ 19 là những cỗ máy sống.[7] Nông dân miền Trung Tây Mỹ đã nhân giống những con ngựa mà thành phố cần - ban đầu chưa đâu vào đâu nhưng ngày càng lão luyện việc cải tiến có chọn lọc vào cuối thế kỷ này. Tính đến nay thì giống ngựa để làm việc phổ biến nhất ở Mỹ là ngựa Pecheron, giống có nguồn gốc ở khu vực Perche của Pháp, khoảng 80 km phía tây nam Paris. Mặc dù từ lâu người ta đã tuyên bố rằng giống Percheron xuất hiện từ thời Trung cổ khi ngựa cái Perche bản địa được phối với ngựa đực Arab mang về từ các cuộc Thập tự chinh, không có bằng chứng nào khác ngoài lời truyền miệng cho luận điểm đó. Một số bằng chứng khảo cổ xác định giống Percheron có tổ
tiên từ thời đồ đá mới.[8] Tất cả các dòng Percheron hiện đại đều là hậu duệ của một con ngựa chiến nổi tiếng tên là Jean Le Blanc, sinh ra tại Le Perche vào năm 1823 khi các nhà lái giống Perche đang gây giống một con ngựa nặng hơn để phục vụ nhu cầu ở Mỹ. Con ngựa được gây giống có màu xám hoặc trắng, điềm tĩnh, mạnh mẽ và thông minh, nặng hơn 900 kg và đứng cao một mét tám tính đến vai. Edward Harris, một nông dân giàu có ở New Jersey, người gây giống ngựa, cũng là là bạn và người bảo trợ của John James Audubon đã nhập những con Percheron đầu tiên vào Mỹ trong năm 1839. Một chú ngựa giống vô địch tên là Louis Napoléon, nhập khẩu vào Ohio năm 1851, là hình ảnh tiêu biểu cho giống ngựa này. “Percheron nhanh chóng trở thành giống ngựa được yêu thích nhất ở Mỹ,” theo tuyên bố của hiệp hội gây giống ngựa. Cuộc điều tra dân số năm 1930 cho thấy số lượng ngựa Percheron đăng ký ở Mỹ cao gấp ba lần so với tổng số bốn giống ngựa khác. Ngựa tăng số lượng sau tiến trình thương mại hóa động cơ hơi nước bởi vì sức ngựa bù trừ cho điểm yếu của thiết kế hơi nước. Một con ngựa luôn sẵn sàng để kéo một giỏ hàng hoặc cày cánh đồng theo mệnh lệnh, mà không chậm trễ khởi động như đầu máy hơi nước. Những sự chuyển đổi về năng lượng hiếm khi thành công đến mức xóa bỏ hoàn toàn mọi đối thủ cạnh tranh.