phần lớn thế giới loài người vẫn chìm trong bóng tối của một nửa Trái đất trong mỗi vòng quay. Các biện pháp khắc phục tình trạng đó như sau: dầu, bấc, mỡ, khí than, cá voi. Tất cả sẽ có cơ hội tỏa sáng.
PHẦN HAI ÁNH SÁNG
C 07 TỪ ĐÈN BẤC TỚI ĐÈN KHÍ ây bấc mềm thường mọc xanh tươi dọc theo bờ suối, quanh ao, và trong đầm lầy vùng nhiệt đới. Cao 60 đến 90 cm, mọc quanh năm, nó trở thành sự thay thế giá rẻ cho nến. “Các cây lớn nhất dài nhất là số một,” nhà tự nhiên học thế kỷ 18 là Gilbert White viết về cây bấc trong ấn phẩm ra mắt năm 1789 The Natural History and Antiquities ofSelborne (Lịch sử tự nhiên và cổ vật của Selborne) - cuốn sách đầu tiên thuộc thể loại này trên toàn nước Anh. White khuyên thu hoạch nó vào cao điểm của mùa hè, nhưng nó vẫn sẽ dùng tốt ngay cả vào mùa thu.[1] Tước vỏ bấc là một mẹo hay: lột lớp vỏ ngoài “thành đoạn đều, hẹp, từ trên xuống dưới cố giữ nguyên lõi ruột.” Trẻ con học rất nhanh, White viết, “và chúng tôi từng thấy một cụ bà già, mù hẳn, lột vỏ thoăn thoắt và khá đều tay.” Sau đó, phần ruột đã tách này được trải lên cỏ “để tẩy trắng và ngầm sương vài đêm, và sau đó được sấy khô bằng ánh nắng mặt trời.”[2] Phần ruột này chính là yếu quyết. Nó là một ống hình trụ rỗng. Trong cây sống phần ruột sẽ đầy nhựa cây; trong đèn bấc chúng sẽ thấm nhiên liệu. Phát hiện ra chi tiết đó, người ta đã nhúng chúng vào mỡ nóng - loại dầu bếp phổ thông. “Váng mỡ thịt lợn xông khói cũng dùng được, White nói, và nó rẻ như cho. “Nếu thợ nuôi ong trộn ít sáp với mỡ, nó sẽ giúp làm đều hỗn hợp và làm cho nó sạch hơn, bấc cháy lâu hơn; mỡ cừu cũng sẽ có hiệu quả tương tự.”[3]
Cây bấc mềm phổ thông (tên khoa học: Juncus effusus). Mặt cắt ngang nhìn được cả thân và vỏ. White mua một pound bấc khô hết có một đồng shilling, đếm ra được 1.600 thân cây. Thêm hai shilling tiền mỡ - sáu pound - là đủ để dùng hết chỗ bấc đó. White tính giờ cháy của một chiếc đèn bấc này: cháy được 57 phút. Ông tính, 1.600 thân trung bình nửa giờ thắp sáng một thân, “vậy một người nghèo sẽ mua được 800 giờ ánh sáng, hơn 33 ngày, chỉ với ba shilling… Một quản gia già có kinh nghiệm đã bảo đảm với tôi rằng 1,5 pound bấc cung cấp đủ ánh sáng cho gia đình ông ấy quanh năm, người lao động không thắp sáng vào ban ngày, họ đi làm ngay khi trời sáng và đi ngủ ngay khi trời tối.” White cho biết thêm, những nông dân nghèo chỉ thắp bấc vào buổi sáng và buổi tối trong mùa đông trong chuồng gia súc và nhà bếp.[4]
Đèn bấc để bàn 800 giờ ánh sáng với điều kiện chỉ đốt một ngọn bấc mỗi lần. Đèn dầu hình chiếc thuyền chuyên đựng nước sốt, còn sáng le lói hơn với kết cấu bấc giẻ xoắn làm tim đèn. Dầu có thể lấy từ cây lanh, cây cải dầu, quả óc chó, hoặc gan cá, và ô liu quanh vùng Địa Trung Hải. Trên St. Kilda, ở quần đảo Hebrides phía tây Scotland, người dân biết dùng dầu dạ dày của hải âu Fulmar, một giống chim biển đa năng, da nhờn. “Những cư dân quần đảo Shetland này,” theo ghi chép của các sử gia văn hóa dân gian, “ngay cuối thế kỷ 19, xuyên sợi bấc qua những con hải âu [đã bị giết và được sấy khô], chúng béo và nhờn đến nỗi chúng tiết dầu qua đường tiêu hóa khi bị bắt.”[5] Đối với người nghèo thì cây bấc và lò sưởi là nguồn cung ánh sáng; tầng lớp điền chủ và địa chủ thì dùng nến dầu cải; người giàu dùng nến sáp ong cùng nhiều gương để tạo hiệu ứng lung linh kỳ ảo. Không có ánh sáng đầy đủ, màn đêm ở nông thôn thường tăm tối, chỉ được điểm xuyết ánh trăng sao. Nguyệt Hội của thành phố Birmingham thế kỷ 18 - tổ chức có những người sống ở nông thôn như Erasmus Darwin, Matthew Boulton, James Watt, Josiah Wedgwood, và nhà hóa học Joseph Priestley - đã tập hợp khi trăng tròn, đủ sáng để tạo bóng lên mặt đất, để họ có thể đi bộ đến cuộc họp của hội.[6] Nên thơ là vậy nhưng màn đêm thành thị lại tăm tối và ẩn chứa đầy mối họa. Ở thành Rome cổ đại, một sử gia cảnh báo, “đêm trùm lên thành như cái bóng của một hiểm họa to lớn… Mọi người vội chạy về nhà, nhốt mình trong đó, và đóng chặt cửa.”[7] John Stow, người chép sử thời Elizabeth, nói rằng vào thế kỷ 11, Vua William I - Wiliam Kẻ chinh phạt - “ra lệnh mỗi thị trấn và làng mạc phải đánh chuông hằng đêm lúc tám giờ, và tất cả người dân nghe hiệu lệnh phải dập lửa tắt nến, và đi nghỉ.” Ngày nay chúng ta gọi một lệnh cấm như vậy là giờ giới nghiêm, bắt nguồn từ cụm covre le feu theo tiếng Norman Pháp: “ém lửa đi!” Về sau HenryI đã dỡ bỏ lệnh giới nghiêm của cha mình, Stow kể, nhưng “vì nội chiến trong vương quốc, nhiều người… đã bị cướp bóc và sát hại trong đêm.”[8] Vì cá thối rữa có thể phát ánh lân quang mờ, con người đã thử dùng da cá khô để chống cháy nổ trong các mỏ than trước khi Trevithick và Davy phát minh ra đèn an toàn. Đèn da quá mờ để phục vụ cho khai mỏ nhưng đủ sáng để Erasmus Darwin trở về nhà vào ban đêm từ trường y ở Edinburgh vào năm 1754, ông nhặt một cái đầu cá bỏ đi để lấy ánh sáng xem giờ.[9]
Một người chép sử thời Victoria ở London thế kỷ 18 đã nghĩ rằng đèn đường đốt dầu tốt nhất là để “tạo một tia sáng mờ nhạt, hay đúng hơn là để xua bớt bóng tối ở các góc phố và ngã tư từ lúc mặt trời lặn đến nửa đêm.”[10] Đèn dầu không phổ biến vào giai đoạn đầu và ở khu vực khai hoang của nước Mỹ, nơi mà việc đọc và làm thủ công phụ thuộc vào ánh sáng lò sưởi (như trong hình minh họa đầy xúc cảm về chàng sinh viên trẻ tuổi Abraham Lincoln đang đọc sách bên đống lửa) và các mảnh gỗ thông chảy nhựa thay cho nến. Một mối đe dọa đối với an ninh quốc gia của Anh - hệ quả của sự thiếu hụt gỗ - đã trở thành chất xúc tác để Anh chuyển sang một dạng ánh sáng vượt trội hơn từ than đá trong giai đoạn chuyển tiếp giữa thế kỷ 18 và 19. Lúc này thì con hà, một loài thần mềm hình giun gặm nhấm có thể đục lỗ thân tàu trong nhiều tháng, đã đe dọa hệ thống tàu chiến bằng gỗ của Hải quân Hoàng gia. Các lớp phủ nhựa có nguồn gốc từ hắc ín và nhựa thông đã ngăn chặn lũ hà, nhưng một quốc gia thiếu gỗ tất sẽ thiếu nguyên liệu thô. Hắc ín trở thành một sự thay thế tiềm năng. Archibald Cochrane, một người Scotland và là Bá tước Dundonald đời thứ chín, sinh năm 1748, có biệt danh là “Dundonald Khùng” do các phát minh mới kỳ quặc của mình, bao gồm cả việc khai thác hẳc ín từ than kênh(13) . [11] Dundonald được thừa hưởng một gia sản gẩn như kiệt quệ sẵn, con trai ông viết mỉa mai, “do ông mải mê hỗ trợ một thế hệ nhà Stuart [và] nổi loạn chống lại một thế hệ khác.” Vấn đề của ông, theo người con trai, là “cho quá nhiều sắt vào lò nung”: một hình ảnh hoán dụ mỉa mai tương xứng với nhà công nghiệp kiêm nhà phát minh làm việc với lò nung. “Từng cái một, các phát minh của ông rơi vào tay người khác, một số được mua bán công bằng, nhưng